ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự phát triển và thịnh vượng của mỗi quốc gia đều được lấy kinh tế
làm thước đo tiêu chuẩn với mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội phồn vinh.
Trong cơ cấu kinh tế, nông nghiệp là một ngành quan trọng trong quá trình
phát triển kinh tế không chỉ đối với nước ta mà với nhiều nước trên thế giới.
Muốn phát triển kinh tế thì nông nghiệp là một trong những lĩnh vực cần đặc
biệt quan tâm và “Nhận thức đúng vai trò của nó trong chiến lược phát triển
kinh tế và thực hiện đồng bộ hàng loạt những vấn đề liên quan đến nông
nghiệp”.
(1)
Một trong những vấn đề nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế đó là
sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung,
cơ cấu phát triển kinh tế nông nghiệp nói riêng là vấn đề quan trọng hiện nay
của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển
trong đó có Việt Nam. Mấu chốt là tìm các giải pháp có hiệu quả khả thi đưa
vào thực tiễn để chuyển dịch cơ cấu đạt kết quả nhanh và có tính bền vững
cao nhằm tăng giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích đất canh tác. Việt
Nam là một nước nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Năm 2005
“Trong GDP tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản còn 20,9%”
(2)
, chiếm đến
80% dân số sống, lao động, làm việc trong ngành sản xuất nông nghiệp. Nên
đây là một vấn đề đang được các ngành, các cấp quan tâm, coi đó là một giải
pháp quan trọng, cơ bản để đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp, nông
thôn theo hướng sản xuất hàng hóa nhằm từng bước công nghiệp hoá - hiện
đại hóa nông nghiệp nông thôn. Tuy nhiên trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp
vẫn chiếm tỷ trọng cao “Trong nông nghiệp, sản xuất chưa gắn kết chặt chẽ
và có hiệu quả cao với thị trường; việc đưa tiến bộ khoa học, công nghệ vào
sản xuất còn chậm; công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn
vẫn còn lúng túng”
(3)
tế nông nghiệp ở nước ta nói chung và ở huyện Bảo Yên - Lào Cai nói riêng.
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, phân tích đánh giá về thực trạng cơ cấu và chuyển dịch
cơ cấu nông nghiệp ở huyện Bảo Yên, đánh giá những mặt đã đạt được,
những hạn chế và những vấn đề đặt ra cần giải quyết. Trên cơ sở đó đưa ra
những quan điểm, phương hướng, mục tiêu và các giải pháp nhằm chuyển
dịch cơ cấu và phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Bảo Yên trong
những năm tiếp theo. Nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông
thôn rất đa dạng, nhưng xuất phát từ tình hình cụ thể của huyện Bảo Yên và
nguồn tài liệu để nghiên cứu tham khảo. Vì vậy đề tài chỉ tập trung nghiên
cứu các nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và sự chuyển đổi
của nội dung này trong 3 năm (2004- 2006) và những giải pháp chuyển dịch
cơ cấu và phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Bảo Yên trong giai đoạn
2007 - 2010. Để hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu trên đề tài tập trung vào
các phương pháp nghiên cứu : phương pháp duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử; phân tích hệ thống, thống kê kinh tế; tổng hợp, kế thừa những kết
quả đã nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến chuyên đề ở các cơ quan
trung ương và địa phương.
2
Kết cấu đề tài :
- Đặt vấn đề.
- Chương I : Một số vấn đề lý luận về cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
- Chương II : Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai.
- Chương III : Một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai.
Với những kiến thức đã được trang bị, em trân trọng cảm ơn sự giúp
đỡ của PGS-TS Lê Thị Anh Vân, giảng viên trực tiếp hướng dẫn viết đề tài,
các thầy cô Khoa Khoa học quản lý trường Đại học Kinh tế quốc dân, các
ngành dịch vụ. Cơ cấu ngành của KTNN bao gồm các nhóm ngành trồng
trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp và lâm nghiệp. Trong mỗi nhóm ngành
lại được chia thành những ngành hẹp hơn. Trong trồng trọt lại chia thành cây
lương thực, cây công nghiệp, cây thực phẩm, cây ăn quả, cây dược liệu…
Trong lĩnh vực chăn nuôi được phân chia thành : đại gia súc, tiểu gia súc, gia
cầm… Kinh nghiệm trong nước và thế giới cho thấy chuyển dịch cơ cấu
KTNN mang tính qui luật: từ trồng trọt mở ra lâm nghiệp, ngư nghiệp, chăn
nuôi, sản xuất hàng hóa. Trong một thời gian khu vực kinh tế nước ta chậm
chuyển biến, nông nghiệp chiếm vị trí chủ yếu, cơ cấu chậm chuyển dịch
nguyên nhân chủ yếu là lực lượng sản xuất kém phát triển, năng suất lao
động thấp, phân công lao động chưa cụ thể sâu sắc nên tình trạng thiếu
lương thực kéo dài. Từ 1990 trở lại đây sản xuất lương thực đạt được thành
tựu to lớn, đưa giống lúa có năng suất và chất lượng cao vào gieo trồng đã
tạo thành sản phẩm hàng hoá để xuất khẩu; do vậy làm cho cơ cấu KTNN
chuyển dịch nhanh chóng theo hướng có hiệu quả. Những nước có trình độ
kém phát triển nông nghiệp chiếm đại bộ phận trong nền kinh tế thì sự phát
triển của lực lượng sản xuất đặc biệt là tiến bộ khoa học kỹ thuật ứng dụng
vào làm cho cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh chóng theo hướng CNH,
HĐH.
2.2. Cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế
Trong suốt thời kỳ bao cấp ở nước ta trước đây, cơ cấu kinh tế trong
nông nghiệp chuyển biến chậm, chỉ tồn tại hai loại hình kinh tế : kinh tế quốc
doanh và kinh tế tập thể. Đến đại hội VI của Đảng với nội dung chuyển nền
kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa thì nền kinh tế phát triển đa dạng và nhiều
thành phần. Đáng chú ý trong quá trình chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh
tế nổi lên các xu thế sau : đó là sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế
trong đó : kinh tế hộ nổi lên thành kinh tế độc lập, tự chủ, đây là thành phần
kinh tế năng động nhất, tạo ra sản phẩm hàng hóa phong phú đa dạng cho xã
hội. Trong quá trình phát triển kinh tế hộ chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là giành một phần tài nguyên của một bộ
phận kinh tế này cho một bộ phận kinh tế khác theo hướng có lợi hơn, đáp
ứng nhu cầu sản phẩm xã hội và tăng thu nhập của người lao động.
1. 1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Lực lượng sản xuất phát triển gắn liền với phân công lao động xã hội,
chi phối sự hình thành và biến đổi của cơ cấu kinh tế. Khi nền kinh tế tự cấp
tự túc thì lực lượng sản xuất trì trệ kém phát triển dẫn đến cơ cấu KTNN
chậm chuyển biến. Chuyển nền kinh tế thuần nông sang sản xuất hàng hóa
thì lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội mới phát triển ở trình độ
cao. Mặt khác sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã
hội là xu thế tất yếu khách quan của sự phát triển xã hội. Vì vậy chuyển dịch
cơ cấu KTNN cũng là một tất yếu khách quan. Trong điều kiện nước ta hiện
nay, điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi, nguồn lao động trẻ dồi dào
5
nhưng vẫn ở dạng tiềm năng chưa được huy động và khai thác đầy đủ, hợp
lý. Bởi vậy rất cần thiết để chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Mục tiêu của chuyển
dịch cơ cấu phải dựa trên cơ sở tiềm năng sẵn có hình thành cơ cấu mới
nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng đó tạo ra một tỷ suất hàng hóa lớn
hơn, hiệu quả kinh tế ngày càng cao, bền vững góp phần đắc lực vào quá
trình tăng trưởng kinh tế đất nước. Thực hiện đường lối đổi mới kinh tế đất
nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nền kinh tế thị trường đang ngày
một phát triển và tác động mạnh mẽ vào mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề trên
địa bàn cả nước. Theo cơ chế đó mọi thành phần kinh tế, mọi khu vực sản
xuất kinh doanh tiến hành sản xuất phải nắm vững và bám sát thị trường.
Trong nền kinh tế hàng hóa phát triển các yếu tố sản xuất như : tài nguyên,
sức lao động, công nghệ, các sản phẩm dịch vụ tạo ra và ngay cả chất xám
đều được coi là đối tượng mua bán, là hàng hóa và cơ cấu KTNN trong cơ
chế thị trường cũng phải đảm bảo và tuân thủ các mối quan hệ đó. Trong nền
kinh tế thị trường giá cả điều tiết hành vi của người sản xuất từ đó tạo ra một
thiết chế làm nảy sinh mối quan hệ tỷ lệ nhất định trong cơ cấu kinh tế, vấn
.
Trong thời gian qua sản xuất nông lâm nghịêp chuyển dich theo hướng
tích cực. Góp phần xoá đói giảm nghèo đạt được nhiều kết quả. Giá trị sản
xuất nông - lâm - ngư nghiệp đạt 1.176 tỷ đồng, tăng bình quân hàng năm
9,51%. Từ năm 2000 đến năm 2005 tỷ trọng ngành trồng trọt giảm từ 72,9%
xuống còn 70,2%; chăn nuôi và dịch vụ tăng từ 27,1% lên 29,9%.
Giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích canh tác tăng từ 8 triệu đồng
lên 14 triệu đồng. Thành tựu vượt trội về nông nghiệp là tăng mạnh về năng
xuất và sản lượng cây lương thực. Việc qui hoạch sản xuất hàng hoá được
quan tâm đã và đang hình thành các vùng chuyên canh lúa, ngô, đạu tương,
rau, quả hàng hoá. Công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, ứng
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất được đẩy mạnh. Trên 85% diện
tích được cấy giống lúa năng xuất cao. Nhiều cây con có năng xuất, chất
lượng và giá trị kinh tế cao được đưa vào sản xuất , thử nghiệm và từng bước
sản xuất đại trà như giống hoa cao cấp, cây ăn quả ôn đới, cây dược liệu.
Chăn nuôi phát triển theo hướng hàng hoá, nhất là chăn nuôi đại gia
súc, bình quân hàng năm đàn trâu tăng 4,5%, đàn bò 5,3%, đàn lợn 6,5%,
đàn gia cầm 5,5%. Công tác tuyển trọn giống được chú trọng như sinh hoá
đàn bò, nạc hoá đàn lợn, phục tráng con giống địa phương có tính vượt trội
như bò vàng Xi Ma Cai, trâu Bảo Yên. Thuỷ sản có bước phát triển mới,
chuyển một số diện tích sản xuất lương thực kém hiệu quả sang nuôi trồng
thuỷ sản. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản 1.152
ha
tăng 24% so với năm 2000;
Giá trị thuỷ sản tăng bình quân hàng năm 13,1%. Một số giống thuỷ sản mới
được đưa vào sản xuất như tôm càng xanh, cá rô phi đơn tính, chép lai ba
mầu... đang hình thành; phát triển cá mô hình nuôi cá hồi, cá tầm nước lạnh
ở vùng cao.
Công tác bảo vệ và phát triển rừng được quan tâm, kinh tế lâm nghiệp
phát triển mang tính toàn diện. Phát triển rừng phòng hộ gắn với kinh tế, môi
khai thác có hiệu quả lợi thế về công nghiệp, du lịch và kinh tế cửa khẩu để
tạo bước đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế.
2.2. Vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đối với sự
phát triển của nền kinh tế.
“Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng
của nền kinh tế quốc dân. Hoạt động nông nghiệp không những gắn liền với
các yếu tố kinh tế, xã hội mà còn gắn với các yếu tố tự nhiên. Nông nghiệp
theo nghĩa rộng gồm có : trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thuỷ sản có vị
trí hết sức quan trọng nó đáp ứng vào quá trình tăng trưởng và phát triển
kinh tế xã hội của cả nước và của từng địa phương. Đặc trưng trong nông
nghiệp ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt. Đối tượng của sản xuất là
những cây trồng vật nuôi. Trong sản xuất nông nghiệp, sự hoạt động của lao
động và tư liệu sản xuất có tính thời vụ, được tiến hành trên một địa bàn rộng
lớn và mang tính khu vực. Nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong chiến
lược phát triển kinh tế. Đặc biệt là trong giai đoạn đầu quá trình công nghiệp
hóa, tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp ảnh hưởng quyết định đến tốc độ
8
tăng trưởng chung của nền kinh tế. Do đó nghiên cứu mối quan hệ về vai trò
nông nghiệp đối với phát triển kinh tế có ý nghĩa quan trọng cả khía cạnh lý
thuyết và thực tiễn. Hầu hết các nước đang phát triển rơi vào cái bẫy của tình
trạng “vòng lẩn quẩn của nghèo khổ” Các yếu tố trong sơ đồ vừa là “nhân”
vừa là “quả” đã hình thành một vòng lẩn quẩn làm cho nhiều quốc gia khó
thoát khỏi tình trạng nghèo đói - kém phát triển. Khía cạnh kinh tế xuất phát
từ mức thu nhập bình quân đầu người thấp dẫn tới tích lũy, đầu tư và năng
suất thấp rồi trở lại thu nhập thấp. Khía cạnh xã hội xuất phát từ sinh đẻ
nhiều (dân số tăng nhanh) dẫn đến dinh dưỡng thấp, bệnh tật cao, đông con
và dẫn đến tình trạng dốt nát, rồi lại ảnh hưởng trở lại sinh đẻ nhiều. Kết hợp
với thu nhập thấp (khía cạnh kinh tế) làm cho tình trạng nghèo đói trở lên
trầm trọng hơn. Để thoát khỏi tình trạng trên trong chiến lược phát triển kinh
tư
Tích
luỹ
“Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong
việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển.
Ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông. Tuy nhiên,
ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP
nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá
lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người
những sản phẩm tối cần thiết đó là : lương thực, thực phẩm. Những sản
phẩm này cho dù trình độ khoa học - công nghệ phát triển như hiện nay vẫn
chưa có ngành nào có thể thay thế được. Lương thực, thực phẩm là yếu tố
đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước”
(1)
. Qua các vấn đề nêu trên đã
chứng minh vai trò quan trọng của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân,
nó là một ngành không thể thiếu trong cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia và
nhất là đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Vai trò của chuyển dịch cơ cấu KTNN đáp ứng sự phát triển của kinh
tế thị trường, đáp ứng về yêu cầu nông sản phẩm của xã hội, nhu cầu tiêu
dùng của dân cư, là điều kiện để mở rộng thị trường, tạo cơ sở thay đổi bộ
mặt nông thôn nói chung và bộ mặt nông nghiệp nói riêng, đồng thời tạo ra
một nền sản xuất chuyên môn hóa cao, thâm canh tiên tiến và các ngành liên
kết với nhau chặt chẽ hơn.
3. Nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Cơ cấu KTNN là một khái niệm mang tính khách quan, tính lịch sử xã
hội, nó không những vận động mà còn biến đổi và phát triển. Sự chuyển dịch
cơ cấu KTNN là một quá trình do vậy sự hình thành vận động, biến đổi và
phát triển là kết quả sự tác động thường xuyên và tổng hợp các nhân tố ảnh
xuất kinh doanh và dịch vụ, làm cho ứng dụng của Khoa học- Công nghệ -
Kỹ thuật tiến bộ, hiện đại ngày càng được nâng cao trong cơ cấu kỹ thuật.
3.2. Nhân tố kinh tế - xã hội
Nhân tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới cơ cấu KTNN bao gồm thị
trường, hệ thống các chính sách vĩ mô của Nhà nước, vốn, cơ sở hạ tầng
nông thôn, sự phát triển các khu công nghiệp và đô thị, kinh nghiệm và tập
quán truyền thống sản xuất của dân cư, dân số, lao động… Trong nền kinh tế
hàng hóa nhân tố thị trường có ảnh hưởng quyết định tới sự phát triển kinh tế
nói chung và biến đổi của cơ cấu kinh tế nói riêng. Người sản xuất hàng hóa
chỉ sản xuất và đem ra thị trường trao đổi những sản phẩm mà họ thấy chúng
đem lại lợi nhuận thoả đáng và người sản xuất tự xác định khả năng tham gia
cụ thể của mình vào thị trường những loại sản phẩm hàng hóa có lợi nhất, do
đó trên thị trường sẽ xuất hiện các loại hàng hóa dịch vụ với qui mô và cơ
cấu phản ánh cơ cấu kinh tế ở từng vùng từng địa phương.
Ngày nay quá trình hợp tác và giao lưu kinh tế ngày càng mở rộng,
hầu hết các quốc gia đều thực hiện các chiến lược kinh tế mở, thông qua
quan hệ thương mại quốc tế các quốc gia ngày càng tham gia sâu hơn vào
quá tình hợp tác và phân công lao động quốc tế đó là nhân tố hết sức quan
trọng ảnh hưởng tới quá trình biến đổi cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu
KTNN nói riêng; tạo cho các quốc gia khai thác và sử dụng mọi nguồn lực
của mình có lợi nhất trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh. Qua đó có cơ
hội tiếp cận thành tựu khoa học công nghệ, kỹ thuật mới thu hút nguồn đầu
tư… nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Nhà nước sử
dụng các chính sách kinh tế công cụ quan lý vĩ mô khác để quản lý nền kinh
tế thể hiện sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường trên cơ sở
đảm bảo các yếu tố của thị trường để các qui luật khách quan của thị trường
11
phát huy những tác động tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực tạo
điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng, phát triển với tốc độ cao và ổn định.
Để hình thành hay chuyển đổi một cơ cấu kinh tế nông nghiệp đòi hỏi
được thừa nhận trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, kinh tế tư nhân được tạo điều
kiện phát triển, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể được cải biến theo nội
dung mới, sự thay đổi về các mô hình sản xuất nêu trên đã tạo ra những điều
kiện cho nông nghiệp, nông thôn phát triển mạnh mẽ tạo ra những thay đổi
đáng kể trong cơ cấu KTNN; tỷ trọng ngành trồng trọt giảm xuống, tăng tỷ
12
trọng ngành chăn nuôi. Trong trồng trọt tỷ trọng cây lương thực giảm, cây
công nghiệp và cây ăn quả tăng lên, hình thành vùng chuyên canh tập trung
cây công nghiệp dài ngày.
Ngày nay, khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, sự
phát triển của khoa học kỹ thuật và ứng dụng chúng vào sản xuất có vai trò
ngày càng to lớn, góp phần hoàn thiện các phương pháp sản xuất nhằm khai
thác, sử dụng hợp lý hiệu quả các nguồn lực xã hội và khu vực nông thôn.
Như vậy chúng ta thấy rằng sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chịu ảnh hưởng
của nhiều yếu tố, hơn nữa các yêu tố đó lại tác động theo hai chiều có thể
tích cực hoặc có thể tiêu cực và thay đổi thường xuyên; do vậy cần phải nhận
thức đúng đắn các yếu tố trên để có thể sử dụng một cách hiệu quả nhất phát
huy lợi thế, giảm thiếu bất lợi, tránh sa vào chủ quan, duy ý chí.
4. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp.
4.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh cơ cấu kinh tế và hiệu quả cơ cấu
phát triển kinh tế
Để phản ánh cơ cấu kinh tế thường sử dụng các chỉ tiêu như cơ cấu
đầu vào, cơ cấu đầu ra.
Nhóm các chỉ tiêu biểu hiện cơ cấu đầu vào bao gồm :
- Cơ cấu đất đai
- Cơ cấu đầu tư
- Cơ cấu lao động
- Cơ cấu kỹ thuật
Nhóm các chỉ tiêu biểu hiện cơ cấu đầu ra gồm :
sự thay đổi các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu hay sự chuyển dịch có thể hợp lý
hoặc có thể không hợp lý mà biểu hiện là xem xét tới sự thay đổi cơ cấu đầu
ra.
Phản ánh hiệu quả của chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT) là dựa trên
các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của CCKT nhưng có sự so sánh giữa các năm
để thấy sự biến đổi của chỉ tiêu này; sự biến đổi của hiệu quả CCKT chính là
hiệu quả của quá trình chuyển dịch, tốt hay xấu ta phải xem xét tới từng chỉ
tiêu tiêu cụ thể như năng suất đất đai tăng hay giảm; hiệu quả sử dụng vốn
tốt hay xấu; năng suất lao động tăng hay giảm; giá trị sản lượng sản phẩm
hàng hóa/1 đơn vị diện tích tăng hay không…
Như vậy để phản ánh chuyển dịch hay hiệu quả chuyển dịch ta sử
dụng các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu và hiệu quả cơ cấu nhưng xem xét ở trạng
thái động để thấy được sự thay đổi của cơ cấu chính là quá trình chuyển dịch
và sự biến động là hiệu quả của quá trình chuyển dịch. Việc sử dụng các chỉ
tiêu trên để đo lường hiệu quả chuyển dịch cơ cấu KTNN xuất phát từ yêu
cầu nghiên cứu và phụ thuộc vào nội dung CCKT. Ngoài ra có thể sửdụng
phương pháp so sánh theo không gian và thời gian của các chỉ tiêu nói trên,
mức độ khác nhau về hiệu quả kinh tế sẽ phản ánh tính hợp lý hay không
hợp lý CCKT nông nghiệp trong cả nước, từng vùng qua các thời kỳ khác
14
nhau, với cơ cấu kinh tế khác nhau. Các chỉ tiêu trên được sử dụng trên cả
nước và ý nghĩa so sánh với từng khoảng cách 4 đến 5 năm trở lên. Ngoài
những chỉ tiêu nói trên xuất phát từ yêu cầu sản xuất nông nghiệp hiện đại
còn dựa trên một số căn cứ
- Đánh giá hiệu quả của cơ cấu sản xuất trên cơ sở bình quân các loại
nông sản phẩm sản xuất trên đầu người so với nhu cầu tiêu dùng.
- Khả năng cung cấp nguyên liệu của sản xuất nông nghiệp cho công
nghiệp chế biến.
- Cơ cấu nông nghiệp phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng
và giải quyết việc làm cho người lao động.
Từ năm 1991 đến nay thì bộ mặt nông thôn ngày nay được đổi thay
thể hiện ở các mặt như sau:
Về nông nghiệp: Mức tăng trưởng bình quân năm là 6,18%, tỷ trọng
nông nghiệp chiếm 48% GDP. Tổng sản lượng lương thực quy thóc 172.000
tấn năm 2005 lên 192.000 tấn năm 1997. Từng bước hình thành vùng cây
công nghiệp tập trung mang tính sản xuất hàng hoá lớn phù hợp với hai vùng
khí hậu Đông và Tây trường sơn.
Cây cao su từ 15.570 ha với sản lượng mủ khô 1.074 tấn năm 1991
tăng lên 21.700 ha với sản lượng mủ khô là 4.840 tấn.
Cây Cà phê từ 6.522 ha với sản lượng 3.640 tấn năm 1991 tăng lên
18.600 ha với sản lượng 8.383 tấn năm 1995.
Các cây: Chè, Mía, Điều đều tăng nhanh so với năm 1990.
Về chăn nuôi: Chủ trương của tỉnh là Sin hoá dàn bò và nạc hoá đàn
lợn. Năm 1991 Gia Lai có 192.000 con trâu, bò nay đa tăng lên 280.000 con.
Về lâm nghiệp: Chủ trương của tỉnh là tập trung vào làm công tác lâm
sinh gắn với các chương trình phủ xanh đất chống, đồi núi trọc. Trồng rừng
năm 1991 là 710 ha tăng lên 2.080 ha năm 1995 và đạt 3.400 ha năm 1997
Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn cùng với việc đẩy mạnh sản
xuất và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp đồng thời công nghiệp chế biến
nông – lâm sản, vật liệu xây dựng ... cũng được phát triển mạnh mẽ. Hiện
nay chủ trương của tỉnh xây dựng hệ thống các nhà máy chế biến Nông - Lân
nghiệp có công nghệ cao gắn liền với địa bàn có vùng nguyên liệu mà chủ
yếu là nông thôn , ven thị trấn.
2. Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiêp ở tỉnh
Quảng Ngãi.
Quảng Ngãi là một tỉnh ở ven biển miền trung, đông dân, bình quân
ruộng đất thấp ( 720m
2
/người), đồi núi dốc, độ sói mòn cao, đất trống, đồi
núi trọc nhiều, lụt bão liên tục, cơ sở hạ tầng nông thôn thấp kém.
nghiệp chế biên, dịch vụ và xây dựng cơ sở hạ tầng.
- Mở rộng quy mô ứng dụng các công thức luân canh trên nhiều vùng,
nhiều chất đất để rút được những kết luận chính xác phù hợp với thực tiễn
địa phương.
- Cải tạo vườn tạp thành vườn kinh tế trồng cây ăn quả có giá trị cao,
như vải thiều, chôm chôm, nhãn...
- Chăn nuôi phát triển theo hướng thương phẩm.
- Giao đất rừng lâu dài cho hộ xã viên, có chính sách khuyến khích
nhân dân xây dựng mô hình nông lâm kết hợp xây dựng mô hình khuyến
nông, trình diễn để nông dân học tập và ứng dụng công nghệ mới vào sản
xuất.
17
- Sản xuất công nghiệp phát triển để tạo đầu ra cho sản xuất nông
nghiệp theo cơ cấu kinh tế mới.
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất
hàng hoá ở Quảng Ngãi đang phát triển theo hướng tích cực, gắn với đầu tư
nâng cấp cơ sỏ hạ tầng nông thôn.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CÁU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP HUYỆN BẢO
YÊN TỈNH LÀO CAI.
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI.
1. Về điều kiện tự nhiên
(1)
Bảo Yên là một trong 9 huyện, thành phố của tỉnh Lào Cai có tổng
diện tích tự nhiên 82.384 ha, chiếm 12,95% so với diện tích tự nhiên toàn
tỉnh (diện tích tự nhiên toàn tỉnh 635.708 ha) là huyện miền núi phía Bắc
giáp huyện Bảo Thắng, huyện Bắc Hà, phía nam giáp huyện Lục Yên và Văn
Yên tỉnh Yên Bái, phía đông giáp huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang, phía
Tây giáp huyện Văn Bàn. Trung tâm huyện lý cách thành phố Lào Cai 75 km
về phía Tây Nam. Là địa bàn cư trú của 16 dân tộc sinh sống với dân số
Tổng hợp các tài liệu nghiên cứu và khảo sát, quy hoạch đất đai cấp
huyện năm 2001, quy hoạch đất đai cấp xã năm 2004, huyện Bảo Yên có các
loại đất sau :
- Đất nông nghiệp 46.357,7 ha chiếu 56,2% diện tự nhiên. Trong đó
sản xuất nông nghiệp 10.899,6 ha; đất lâm nghiệp 35.238,6 ha; đất nuôi
trồng thuỷ sản 219,44 ha.
- Đất phi nông nghiệp : 4.449,2 ha, chiếm 5,4% diện tích tự nhiên.
Trong đó đất ở 479,5 ha; đất chuyên dùng 1.060,7 ha; Đất nghĩa trang, nghĩa
địa 64,9 ha; đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 2.844,2 ha.
- Đất chưa sử dụng 31.676 ha chiếm 38,4% diện tích tự nhiên. Về tình
hình quản lý đất chưa sử dụng hàng năm đều giảm để sử dụng vào san xuất
nông lâm nghiệp (đất chưa sử dụng giảm 2.400 ha so với năm 2004).
Tình hình sử dụng đất của các tổ chức và hộ gia đình đã ổn định, đúng
ranh giới và mục đích được giao. Công tác giao đất nông nghiệp và đất ở đã
cơ bản hoàn thành để đảm bảo cho người có đất sản xuất và đất ở ổn định lâu
dài.
- Theo kết quả điều tra của trung tâm khoa học tự nhiêm và công nghệ
quốc gia năm 2005 huyện có 5 nhóm đất chính và 13 loại đất như sau:
* Nhóm đất đỏ vàng: 73.682 ha chiếm 89,79% diện tích tự nhiên,
phân bố khắp địa bàn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quá trình Fe-ra-lít. Trong
điều kiện nóng ẩm nhiều mưa quá trình lý, hoá và sinh học phát triển mạnh
phá huỷ khoáng nguyên sinh và thứ sinh để tạo thành đất, tầng đất trở nên
dầy và ít lẫn đá. Tuỳ theo loại đá mẹ quá trình Fe-ra-lít hình thành nên các
loại đất có màu sắc khác nhau. Trên địa bàn huyện Bảo Yên nhóm đất đỏ
vàng bao gồm:
+ Đất đỏ vàng trên đá biến chất và đá trầm tích(Fs): Trên địa bàn
huyện Bảo Yên loại đất này khá phổ biến( 71.032 ha) chủ yếu được hình
thành trên đá: Gơ-nai, đá Phi-rít, A-pa-tít. Đặc trưng loại đất này là từng dầy
trung bình , lẫn đá, màu sắc không đồng nhất, phân hoá tầng yếu, kết cấu tốt,
thành phần cơ giới nhẹ, các chất dinh dưỡng khá, ít chua.
* Đất phù xa: 1.332 ha chiếm 1,62% diện tích tự nhiên toàn huyện;
nhóm đất này bao gồm : Phù sa sông Hồng, phù sa sông Chảy và phù sa các
suối khác.
* Đất phù sa sông Hồng (Ph): Có 230 ha phân bố dọc 2 bên sông
Hồng. Đất PH có màu tím, nâu tươi, thành phần cơ giới thịt trung bình hoặc
thịt nhẹ có kết cấu viên, đất chung tính hoặc kiềm yếu, hàm lượng các chất
dinh dưỡng trong đất cao, tầng đất này dầy rất thuận lợi cho phát triển các
cây trồng nông nghiệp.
+ Đất phù sa sông Chảy(PC): có 302 ha phân bố dọc hai bên sông
Chảy thành dải không liên tục, đất thành phần cơ giới nhẹ, tỷ lệ cát cao, đất
rời rạc, tỷ lệ sỏi, cuội cao, đất ít chua hoặc trung tính, tầng dầy trung bình
thuận lợi cho việc phát triển các loại rau, màu.
+ Đất phù sa ngòi, suối(Py): có 800 ha. Phân bố dọc theo các suối lớn
song tập trung chủ yếu ở Nghĩa Đô. Loại đất này được hình thành qua qúa
trình nắng đọng, bồi tụ nâu đời, hoặc sự chuyển dời dòng chảy kết hợp với
20
quá trình canh tác lâu đời làm biến đổi cơ lý tính đất. Đất (Py) có độ phì
khá , ít chua, tầng đất chung bình, có khả năng thâm canh cao các cây trồng
nông nghiệp.
* Đất thung lũng dốc tụ(DL): Trên địa bàn có khoảng 793 ha. Đây là
loại đất thứ sịnh được hình thành và phát triển trên sản phẩm rửa trôi và bồi
tụ của các loại đất ở chân sườn hoặc khe dốc . Đất DL có độ phì phụ thuộc
vào các loại đất vùng lân cận , tầng đất dầy, thành phần cơ giới thịt trung
bình đất chua, phân bố rải rác trên lãnh thổ huyện.
* Đất mùn đỏ vàng trên núi cáo: Có 5.958 ha chiếm 7,25% tổng diện
tích tự nhiên. Trên địa bàn lãnh thổ huyện có hai loại:
+ Đất mùn đỏ vàng trên đá sét và biến chất : có 5.889 ha
+ Đất mùn đỏ vàng trên đá mác-a xít: có 69 ha.
+ Loại đất này được hình thành trên đai cao từ 900m trở lên, chủ yếu
tập trung trên đỉnh cao dãy con voi và dãy Khao Tanh , với quá trình phong
* Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí tương đối, bình quân hàng năm
dao động từ 84% đến 86% tháng cao nhất trong năm 89%, thấp nhất 81%.
* Gió: Gió mùa ảnh hưởng yếu, thường đến chậm hơn vùng đồng
bằng Bắc Bộ, hướng gió chủ yếu trong mùa đông, mùa hè là đông và tây.
Tốc độ gió thường yếu, sức gió mạnh nhất trong cơn báo chỉ đạt cấp 6, ít gây
tác hại nghiêm trọng. Tuy nhiên hiện tượng lốc cục bộ đôi khi vẫn xảy ra gây
ảnh hưởng xấu tới đời sống con người và sản xuất.
Thời tiết khí hậu tháng 11, 12, tháng 1, 2 năm sau nhiệt độ xuống thấp
nên ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng, phát triển của cây trồng. Về chế độ
mưa không đồng đều thường tập trung vào các tháng mùa hè và mùa thu,
ngược lại từ tháng 01 đến tháng 02 năm sau ít mưa (dưới 40
mm
/tháng) gây
thiếu nước cho sản xuất và sinh hoạt. Những tháng có lượng mưa lớn tháng
6, 7, 8 đã gây nên sói mòn rửa trôi đất màu ở nơi đồi núi trọc hoặc độ che
phủ ít thảm thực vật. Nhìn chung các yếu tố trên thấp hơn so với các vùng
khác ở phía Bắc, đầy là những yếu tố hình thành các tiểu vùng đất đai, khí
hậu có liên quan đến việc sử dụng giống cây trồng.
1.3. Về thuỷ văn
Hệ thống sông, suối trên địa bàn huyện dầy đặc và phân bố khá đều
trên lãnh thổ. Sông Hồng, sông Chảy là hai dòng chảy lớn chảy qua địa phận
huyện.
- Sông Hồng bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng ( Trung Quốc) chảy
qua thị xã Lào Cai, huyện Bảo Thắng và địa phận huyện Bảo Yên với tổng
chiều dài khoảng 20km theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Sông Hồng lòng
rộng, sâu, độ dốc lớn dòng chảy tương đối thẳng nên nước chảy xiết, mạnh,
đặc biệt về mùa mưa lũ. Lưu lượng nước sông Hồng không điều hoà, mùa
mưa lũ lưu lượng nước lớn ( khoảng 4830m
3
/s) mực nước cao (Độ cao tuyệt
suối nhỏ đều khắp trên lãnh thổ. Mạng lưới ngòi, khe, lạch là những yếu tố
quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và đời sống của đồng bào các dân tộc
vùng cao. Đặc biệt ngòi Nghĩa Đô có tác động rất lớn trong quá trình hình
thành và phát triển vùng lương thực Vĩnh Yên-Nghĩa Đô.
2. Về kinh tế xã hội
2.1. Tình hình phát triển kinh tế xã hội của huyện Bảo Yên giai
đoạn 2004 - 2006
(1)
Những năm qua cùng với sự phát triển chung của toàn tỉnh, được sự
hỗ trợ của Nhà nước thông qua các chương trình dự án về phát triển kinh tế
xã hội ở miền núi. Huyện Bảo Yên đã có bước phát triển đáng kể. Tổng sản
phẩm xã hội (GDP) của huyện tăng từ 307.935triệu đồng năm 2004 lên
438.000 triệu đồng năm 2006 (theo giá cố định năm 1994). Tốc độ tăng
trưởng bình quân GDP hàng năm từ năm 2004 đến năm 2006 đạt 10,6 –
12,43%. GDP bình quân đầu người năm 2006 đạt 5,728triệu đồng,
(GDP bình quân chung toàn tỉnh đạt 5,15triệu đồng). Cơ
cấu kinh tế của huyện có sự chuyển dịch, tăng tỷ trọng cây công nghiệp - xây
dựng cơ bản và dịch vụ thương mại, giảm tỷ trọng nông lâm nghiệp; Tuy vậy
nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao trong GDP, công nghiệp xây dựng cơ
bản, dịch vụ chiếm tỷ trọng còn thấp, quá trình chuyển dịch còn chậm và
chưa ổn định. Cơ cấu tỷ trọng kinh tế thể hiện tỷ trọng nông lâm nghiệp
giảm từ 60,25% năm 2004 xuống còn 58% năm 2006, bình quân giảm
0,75%/năm. Tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng cơ bản tăng từ 15,84%
năm 2004 lên 17% năm 2006. Tỷ trọng ngành thương mại dịch vụ tăng từ
23,91% năm 2004 lên 25% năm 2006. Với thực trạng nền kinh tế như vậy
23
đòi hỏi ngành nông nghiệp phải có nhiều cố gắng vươn lên để góp phần thực
hiện công nghiệp hóa - hiện đại hoá nền kinh tế của huyện.
Biểu 1 : Tình hình phát triển kinh tế xã hội của huyện Bảo Yên
Giai đoạn 2004 - 2006
8 Tổng thu thuế và phí trên
địa bàn
tr.đồng 9.315 10.235 11.410 122,50
.
24
(1) Trích từ Báo cáo Đại hội Đảng bộ huyện Bảo Yên khoá XII (nhiệm kỳ 2000 – 2010)
(Nguồn: Báo cáo Đại hội Đảng bộ huyện Bảo Yên khoá XIII (nhiệm kỳ 2005-2010)
2.2. So sánh một số chỉ tiêu kinh tế nông nghiệp của huyện đối với
tỉnh Lào Cai
Bảo Yên là huyện cửa ngõ, vùng thấp của tỉnh, có những tiềm năng
thế mạnh nhất định. Tuy nhiên vẫn là địa bàn huyện miền núi, địa hình phức
tạp, khí hậu khắc nghiệt, kinh tế nông lâm nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn, sự
chuyển dịch cơ cấu diễn ra còn chậm. So sánh một số chỉ tiêu của huyện với
tỉnh năm 2006 như sau :
Biểu 2 : So sánh một số chỉ tiêu kinh tế nông nghiệp của huyện
Bảo Yên với tỉnh Lào Cai năm 2006
Số
TT
Chỉ tiêu
Đơn vị
tính
Huyện
Bảo
Yên
Tỉnh
Lào Cai
So sánh
%
(huyện/
tỉnh)