Tài liệu SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP - Pdf 91

SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT TRONG DOANH
NGHIỆP


Ý nghĩa, vai trò của sở hữu công nghiệp đối với doanh nghiệp
• Thiết lập, quản lý các taì sản trí tuệ của doanh nghiệp

Sử dụng, khai thác quyền sở hữu công nghiệp

Giám sát, bảo vệ các quyền sở hữu công nghiệp
• Tổ chức và khai thác thông tin sở hữu công nghiệp

Tổ chức hoạt động sở hữu công nghiệp tại doanh nghiệp

1. Ý nghĩa, vai trò của sở hữu công nghiệp đối với doanh nghiệp
- Doanh nghiệp: Chủ thể của hoạt động sở hữu công nghiệp
Số đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ sở hữu công nghiệp và số văn bằng bảo
hộ để cấp ở mỗi nước là một trong các thước đo hiệu quả của hệ thống sở hữu công
nghiệp ở nước đó. Hiện nay ở nước ta có khoảng 3.000 sáng chế và giải pháp hữu
ích, khoảng 70 kiểu dáng công nghiệp, gần 100.000 nhãn hiệu hàng hoá và 2 tên gọi
xuất xứ hàng hoá đang được bảo hộ. Trong thực tế quyền sở hữu đối với sáng chế,
kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi xuất xứ hàng hoá nói trên phần
lớn thuộc về các doanh nghiệp. Hầu hết số nhãn hiệu hàng hoá của các nước ngoài
đăng ký tại Việt Nam đều đứng tên chủ sở hữu là các tập đoàn, công ty, hãng…. Với
các nhãn hiệu của Việt Nam tình hình cơ bản cũng vậy, mặc dù có một tỷ lệ đáng kể
chủ đăng ký không phải pháp nhân (doanh nghiệp tư nhân, cơ sở sản xuất, chế biến
hoặc kinh doanh). Tuyệt đại đa số các sáng chế cũng được đăng ký dưới tên các
doanh nghiệp chứ không phải là các cá nhân. Vì vậy ,có thể nói, trong quan hệ về sở
hữu công nghiệp, hiện diện dưới danh nghĩa và với vai trò là các chủ thể quyền
thường là các doanh nghiệp. Hầu hết các vụ việc tranh chấp, kiện tụng… liên quan
đến sở hữu công nghiệp cũng xảy ra giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp.

vụ tôn trọng, không xâm phạm tới các quyền sở hữu công nghiệp của các chủ thể
khác đã được pháp luật bảo hộ. Điều đó có nghĩa là việc tôn trọng quyền sở hữu
công nghiệp của chủ thể khác là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi doanh nghiệp, hay nói
cách khác, mọi hoạt động của doanh nghiệp ở bất cứ thị trường nào cũng phải đảm
bảo không vi phạm quyền sở hữu công nghiệp của người khác.
Doanh nghiệp cần nhớ rằng mọi hành vi vi phạm quyền sở hữu công nghiệp dù
vô tình hay hữu ý đều có thể bị phát hiện và bị xử lý theo pháp luật.
2. Thiết lập, quản lý các taì sản trí tuệ của doanh nghiệp
- Các đối tượng sở hữu công nghiệp
Cho đến ngày 10.09.2002, theo pháp luật của Việt Nam, các đối tượng sở hữu
công nghiệp - các tài
sản trí tuệ có thể có của doanh nghiệp - bao gồm:
Tên thương mại: (điều 14.1 , Nghị định 54/2000 /NĐ – CP ) là tên gọi của tổ
chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh, dùng để nhận biết và phân biệt chủ
thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể khác kinh doanh cùng lĩnh vực. Tên
thương mại phải là tập hợp các chữ, phát âm được và có nghĩa. Tên thương mại
thường bao gồm hai phần: Phần mô tả và phần phân biệt.
Ví dụ: Công ty TNHH cơ khí Hồ gươm.
- Phần mô tả : "Công ty TNHH cơ khí" trong đó "Công ty TNHH" mô tả loại hình
doanh nghiệp, "xây dựng" mô tả lĩnh vực kinh doanh.
- Phần phân biệt:"Hồ Gươm''
Nhãn hiệu hàng hoá (điều 785, Bộ Luật Dân sự) là dấu hiệu dùng để phân
biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau.
Nhãn hiệu hàng hoá có thể là chữ viết, hình ảnh, hoặc kết hợp chữ viết và hình
ảnh được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc.Ví dụ:
Chỉ dẫn địa lý (Điều 10, Nghị định 54/2000/NĐ-CP) là tên gọi, dấu hiệu, biểu
tượng hoặc hình ảnh dùng để chỉ một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ (địa phương)
được thể hiện trên hàng hoá, bao bì hay giấy tờ giao dịch mua bán hàng hoá nhằm
chỉ dẫn rằng hàng hoá đó có nguồn gốc (được sản xuất ra) tại quốc gia, vùng lãnh
thổ (địa phương) nói trên mà đặc trưng về chất lượng, uy tín hoặc danh tiếng của

thành hai loại: (i) bí mật thương mại và (ii) bí quyết kỹ thuật (know-how). Theo định
nghĩa này, cái được coi là bí mật kinh doanh phải là thông tin về nội dung chứ không
phải là dạng tín hiệu hoặc dấu hiệu; nội dung đó có thể là thông tin kỹ thuật hoặc
thông tin thương mại, thông tin kinh doanh. Các nội dung thông tin nói trên không
phải là những điều thông thường, dễ tạo ra hoặc dễ dàng có được và chính nhờ giá
trị ấy của thông tin mà khi sử dụng chúng vào hoạt động sản xuất kinh doanh, người
sử dụng thông tin đạt được ưu thế (nâng cao khả năng cạnh tranh) so với người
khác.
- Xây dựng các đối tượng sở hữu công nghiệp
Các đối tượng sở hữu công nghiệp trên đây để có thể là bộ phận cấu thành tài
sản của doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch thiết lập và phát
triển chúng.
Tên thương mại
Từ định nghĩa các đối tượng sở hữu công nghiệp trên đây, có thể coi tên thương
mại là phương tiện giao tiếp đầu tiên giữa doanh nghiệp và các chủ thể khác. Vì vậy,
ngay từ khi mới thành lập, doanh nghiệp cần chú trọng đến việc lựa chọn và thiết kế
đối tượng này.
Việc thiết kế tên thương mại chủ yếu là thiết kế phần khác biệt nằm trong
thành phần của tên. Cần nhớ rằng, chính phần khác biệt này sẽ trở thành bộ phận
chủ yếu khi thực hiện chức năng của tên thương mại. Xu hướng chung trong hoạt
động kinh doanh là dùng các tên rút gọn của doanh nghiệp, do đó doanh nghiệp sẽ
được sẽ được gọi tên và xác định chủ yếu bằng tên gọi tắt là phần phân biệt này. Vì
vậy, không nên coi nhẹ việc xác định hay chọn lựa bộ phận đó.
Khi chọn phần khác biệt của tên thương mại cần chú ý một số điểm sau
đây:
- Trước hết, phần phân biệt nên là một tập hợp chữ, dễ phát âm, và dễ nhớ đối với
số đông người giao tiếp ở một thị trường mà doanh nghiệp định hoạt động. Nói
chung có ý định hoạt động ở nhiều nước thì không nên chọn tập hợp chữ có dấu
trong tiếng Việt và quá khó phát âm đối với người nước ngoài.
- Cần chú ý đến nghĩa của tập hợp chữ, không nên chọn tập hợp chữ là từ ngữ

cơ bản và nhãn hiệu khác thêm vào (ví dụ: Honda” là phần phân biệt tên thương mại
của công ty Honda Nhật bản ) đã được dùng làm nhãn hiệu cho nhiều loại sản phẩm,
trong nhiều sản phẩm có tên nhãn hiệu khác (DREAM, WAVE…)
- Nhãn hiệu không chỉ dưới dạng chữ mà có thể dưới dạng hình vẽ, hình ảnh.
Dù sử dụng chữ hay hình ảnh làm nhãn hiệu đều luôn phải chú ý yêu cầu dễ nhớ và
dễ truyền thụ từ người nọ cho người kia. Khả năng này càng cao thì càng dễ quảng
bá nhãn hiệu (do đó quảng bá cho sản phẩm, hàng hóa).
- Cũng giống như tên thương mại mỗi nhãn hiệu mới ra đời đểu phải đảm bảo
không trùng hoặc không gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác và không được
trùng hoặc gây nhầm lẫn với phần phân biệt trong tên thương mại của người khác.
Để đạt được điều đó, nhất thiết phải kiểm tra, đối chiếu với nhãn hiệu và tên thương
mại đã có trong thời điểm khai sinh ra nhãn hiệu mới. Danh mục các nhãn hiệu nói
trên được các Cơ quan Sở hữu công nghiệp (cơ quan sáng chế và nhãn hiệu) của các
Quốc gia công bố. Danh mục tên thương mại cũng được cơ quan làm thủ tục đăng ký
doanh nghiệp công bố.
- Không được sử dụng các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hoặc các dấu
hiệu pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá loại trừ (không cho phép sử dụng). Thông
thường, pháp luật nhãn hiệu của mỗi một quốc gia đều không thừa nhận các dấu
hiệu sau đây làm nhãn hiệu:
+ Dấu hiệu có tính chất mô tả chính hàng hoá mang dấu hiệu đó: hình vẽ diễn
tả hàng hóa: tên gọi thông thường của sản phẩm; chỉ dẫn phương pháp sản xuất sản
phẩm; số lượng ;chất lượng; chủng loại; hoặc nguồn gốc của sản phẩm và dịch vụ;
+ Dấu hiệu làm sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc lừa dối người tiêu dùng về xuất xứ,
tính năng công dụng, chất lượng, giá trị…. của hàng hoá (sản phẩm) và dịch vụ;
+ Dấu hiệu trùng hoặc tương tự các dấu chứng nhận chất lượng, dấu kiểm tra,
dấu bảo hành…. của cơ quan chức năng của Nhà nước.
+ Dấu hiệu là tên gọi, hình ảnh, biểu tượng trùng với hoặc tương tự với quốc
huy, quốc kỳ, lãnh tụ, danh nhân…. nếu không được cơ quan có thẩm quyền cho
phép sử dụng.
Khi doanh nghiệp chọn nhãn hiệu là dấu hiệu thuộc một trong các trường hợp

và kho dữ liệu kiểu dáng công nghiệp có thể tự doanh nghiệp làm hoặc thông qua hệ
thống dịch vụ. Kết quả tra cứu sẽ giúp doanh nghiệp biết rõ trình độ kỹ thuật của
lĩnh vực mình quan tâm, các patent đang còn hiệu lực để tránh vi phạm hoặc các
patent đã hết hiệu lực để có thể khai thác tự do hoặc làm cơ sở cho các nghiên cứu
tiếp theo của mình
- Trên cơ sở nhu cầu và thông tin thu thập được, các nhóm nghiên cứu của
doanh nghiệp thực hiện sự sáng tạo của mình như một nhiệm vụ được giao, doanh
nghiệp cũng có thể yêu cầu các thành viên của mình tự tìm ra giải pháp như một
công việc làm ngoài giờ hoặc đặt hàng cho bên ngoài tìm ra giải pháp. Trong các
trường hợp đó việc đảm bảo thưởng kích thích về cả vật chất lẫn tinh thần theo đúng
pháp luật cần phải được coi trọng như một nguồn động viên lớn lao để tạo ra kết quả
mới.
- Xác lập quyền sở hữu công nghiệp
Theo quy định của pháp luật, các quyền sở hữu công nghiệp có thể chia làm hai
nhóm. Thứ nhất là, nhóm các quyền sở hữu công nghiệp phát sinh trên cơ sở đăng
ký. Nhóm này gồm có các quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế/ giải pháp hữu
ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi xuất xứ hàng hoá (sẽ có
thêm thiết kế bố trí mạch tích hợp). Thứ hai là, nhóm các quyền sở hữu công nghiệp
tự động phát sinh cùng với sự ra đời của đối tượng mà không phát sinh trên cơ sở
đăng ký. Thuộc nhóm này gồm có quyền đối với tên thương mại, thông tin bí mật,
chỉ dẫn địa lý hàng hoá và đối với nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng.
Để được hưởng quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế/ giải pháp hữu ích,
kiểu dáng công nghiệp , nhãn hiệu hàng hoá và tên gọi xuất xứ hàng hoá, các chủ
thể phải tiền hành các thủ tục đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền do nhà nước chỉ
định (ở Việt Nam là Cục Sở hữu công nghiệp) để cơ quan này xem xét cấp văn bằng
bảo hộ. Để việc tiến hành các thủ tục đăng ký thuận lợi, những người có yêu cầu bảo
hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp cần lưu ý một số vấn đề sau đây:
a) Nắm vững các quy định pháp luật về sở hữu công nghiệp
Đặc biệt là các vấn đề liên quan đến:
- Quyền nộp đơn yêu cầu bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp

tránh được những tổn thất có thể có do các hành vi sử dụng phi pháp gây ra chính là
sự đền bù cho các chi phí nộp đơn yêu cầu bảo hộ. Việc đạt được sự bảo hộ phụ
thuộc đồng thời các điều kiện theo quy của pháp luật. Một là, đơn yêu cầu phải được
Cục sở hữu công nghiệp chấp nhận là đơn hợp lệ. Hai là, đối tượng sở hữu công
nghiệp nêu trong đơn yêu cầu bảo hộ phải thoả mãn tiêu chuẩn bảo hộ. Ba là, mỗi
đơn chỉ được đề cập tới một đối tượng xin bảo hộ.
Dự tính chi phí cho việc nộp đơn
Người nộp đơn yêu cầu bảo hộ phải biết rõ các khoản chi phí mà mình phải chịu khi
nộp đơn yêu cầu bảo hộ:
- Lệ phí thực hiện thủ tục tại cơ quan có thẩm quyền, mức lệ phí phụ thuộc vào
tính chất và mức độ công việc cần tiến hành và được quy định tại thông tư số
23/TC/TCT, ngày 09.05.1997 về phí và lệ phí của Bộ Tài chính;
- Chi phí giao dịch ( bưu phí- nếu phải liên hệ với cơquan có thẩm quyền thông
qua bưu điện);
- Chi phí để nhận được các ý kiến tư vấn, hướng dẫn, dịch vụ.
c) Làm đơn yêu cầu bảo hộ:
Đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp phải được lập
sao cho đáp ứng với các quy định tại điều 11,12 và 13 của Nghi định tại thông tư
3055 ?TT-SHCN của Bộ khoa học Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ khoa học và
Công nghệ) với những lưu ý sau đây:
- Đơn phải bao gồm đầy đủ các loại tài liệu cần thiết;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status