TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….
---------
TIỂU LUẬN
Định giá nhãn hiệu
1
Mục lục
TIỂU LUẬN.........................................................................................................1
Định giá nhãn hiệu...............................................................................................1
Mục lục.................................................................................................................2
Lời mở đầu...........................................................................................................4
1. Bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam..........................................................................7
2. Thực trạng định giá tài sản sở hữu trí tuệ ở Việt Nam.....................................7
............................................................................................................................7
Chương I: Khái quát chung về nhãn hiệu và định giá nhãn hiệu.........................8
1.1. Nhãn hiệu.................................................................................................8
1.1.1. Nhãn hiệu là gì?.................................................................................8
1.1.2. Phân biệt nhãn hiệu với các khái niệm tên thương mại, chỉ dẫn địa
lý, thương hiệu..............................................................................................9
1.2. Định giá nhãn hiệu ................................................................................12
1.2.1. Các khái niệm cơ bản trong định giá...............................................12
1.2.2. Định giá nhãn hiệu...........................................................................13
1.2.3. Mục đích của định giá nhãn hiệu.....................................................15
1.3. Phương pháp định giá tài sản sở hữu trí tuệ...........................................16
Chương II: Các phương pháp định giá nhãn hiệu..............................................18
2.1. Phương pháp định giá dựa trên chi phí....................................................18
2.1.1. Phương pháp tiếp cận tích lũy chi phí.............................................18
2.1.2. Phương pháp tiếp cận thay thế chi phí...........................................19
2.2. Phương pháp định giá dựa trên thị trường..............................................21
2.3. Phương pháp định giá dựa trên thu nhập.................................................22
2.3.1. Phương pháp phí li-xăng dựa trên tiết kiệm được: .........................22
rất mới ở Việt Nam, ngay cả với các cơ quan quản lý sở hữu trí tuệ. Theo thống
kê của các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay, các tài sản hữu hình như nhà
xưởng, máy móc, xe cộ... được định giá rõ ràng và cụ thể. Nhưng các mục liệt
kê các giá trị của quyền sở hữu trí tuệ về nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp,
sáng chế... lại thường xuyên bị “bỏ quên”. Đa số các doanh nghiệp thường bỏ
qua việc định giá các tài sản sở hữu trí tuệ. Việc này làm giảm giá trị tài sản
cũng như giảm khả năng phát triển lợi thế kinh doanh thông qua các quyền sở
4
hữu trí tuệ mà doanh nghiệp có được. Bên cạnh đó, về mặt pháp lý, nước ta còn
thiếu gần như hoàn toàn các văn bản pháp luật quy định về định giá tài sản sở
hữu trí tuệ đồng thời cũng chưa có một cơ quan nào đứng ra nghiên cứu các
phương pháp đánh giá tài sản sở hữu trí tuệ.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, thì
việc thực hiện đầy đủ pháp luật về sở hữu trí tuệ đòi hỏi Việt Nam phải hàn
thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ của mình, trong đó có việc xác định
đúng giá trị tài sản sở hữu trí tuệ để giúp doanh nghiệp có thể đứng vững được
trên thi trường trong nước cũng như trên thế giới.
Trong các tài sản sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp, nhãn hiệu có vai trò vô
cùng quan trọng trong hoạt động kinh doanh, cạnh tranh và phát triển thị trường
của một doanh nghiệp. Theo thời gian, cùng với sự phát triển của hoạt động
kinh doanh, uy tín của nhãn hiệu ngày càng được bồi đắp dẫn đến giá trị của
nhãn hiệu ngày càng tăng tiến.Giá trị ước tính của một số nhãn hiệu nổi tiếng
nhất thế giới như Coca-Cola hoặc IBM, đều trên 50 tỷ USD. Cũng như viêc
định giá tài sản vô hình nói chung và đ ịnh giá nhãn hiệu là một công việc khó
khăn và thường mang tính chủ quan. Bởi thế cho nên tôi đã lựa chọn đề tài
nghiên cứu về định giá nhãn hiệu, với mong muốn góp phần tìm hiểu về các
phương pháp định giá nhãn hiệu, hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật Việt Nam
về nhãn hiệu.
2. Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về sở hữu trí tuệ nói chung hay về nhãn hiệu thì đã có khá
cứư, trong giới hạn của đề tài này, nghiên cứu về định giá một loại tài sản trí tuệ
truyền thống là nhãn hiệu, nhằm đưa ra các phương pháp được áp dụng để định
giá tài sản nhãn hiệu của doanh gnhiệp giúp doanh nghiệp cóa thể quản lý tốt tài
sản của mình.
7. Kết cấu của báo cáo
Báo cáo gồm lời nói đầu 3 chương và kết luận:
Chương I Khái quát chung về nhãn hiệu và định giá nhãn hiệu
1. Nhãn hiệu
2. Định giá nhãn hiệu
3. Phưong pháp định giá nhãn hiệu
Chương II: Các phương pháp định giá nhãn hiệu
1. Phương pháp định giá dựa trên thu nhập
2. Phương pháp định giá dựa trên chi phí
3. Phương pháp định giá dựa trên thị trường
Chương III: Pháp luật định giá nhãn hiệu ở Việt Nam.
1. Bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam
2. Thực trạng định giá tài sản sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
3. Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam
7
Chương I: Khái quát chung về nhãn hiệu và định giá nhãn hiệu
1.1. Nhãn hiệu
1.1.1. Nhãn hiệu là gì?
Theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ: Nhãn hiệu là một cái tên, từ ngữ, ký
hiệu, biểu tượng hoặc hình vẽ, kiểu thiết kế... hoặc tập hợp các yếu tố trên nhằm
xác định và phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một người bán hoặc nhóm
người bán với hàng hoá và dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh.
InterBrand – Một công ty tư vấn nhãn hiệu hàng đầu, lại định nghĩa theo
cách sau:
“Nhãn hiệu là một hỗn hợp của các thuộc tính vô hình và hữu hình được
xuất” dùng cho các sản phẩm kỹ nghệ hoặc canh nông và “thương hiệu” dùng
cho các thương phẩm. Trong thực tiễn kinh doanh, thuật ngữ “thương hiệu” đó
không chỉ ứng với hoạt động của các thương nhân, mà còn bao hàm cả các loại
hình hoạt động dịch vụ của mọi loại hiệu, tiệm, ngân hàng, hãng bảo hiểm… và
dần dần mở rộng thành tên của doanh nghiệp nói chung., Trong Tự điển Việt-
Anh của Nguyễn văn Khôn, “thương hiệu” được dịch là “sign board” và “nhãn
hiệu” là “trademark, brand ” Ngay cả một thời gian khá dài sau năm 1975, Tự
điển Việt-Pháp của Công ty Phát hành Sách Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ
định nghĩa “thương hiệu” là “enseigne, nom commercant” và “nhãn hiệu” là
“marque de fabrique”.
Tuy còn thiếu tính chính tắc, nhưng sự phân định đó đã bảo đảm tính hài
hòa với cách tiếp cận chung của các nước phát triển, cụ thể như qua định nghĩa
của Hiệp Hội Marketing Hoa Kỳ: “nhãn hiệu (brand) là một cái tên, một từ ngữ,
một mẫu thiết kế, một biểu tượng hoặc bất kỳ một tính chất nào khác [4] giúp
nhận biết hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nhân để phân biệt với hàng hóa,
9
dịch vụ tương ứng của các doanh nhân khác. Thuật ngữ pháp lý tương ứng với
“brand“ là “trademark”. Một nhãn hiệu có thể dùng để nhận biết một sản phẩm,
một họ sản phẩm hoặc toàn bộ sản phẩm của doanh nhân. Nếu dùng cho toàn bộ
doanh nghiệp nói chung, thuật ngữ tương ứng là “thương hiệu” (trade name)”.
Một cách chi tiết hơn, “trade name” được định nghĩa là: “một cái tên
khác với tên theo điều lệ mà một doanh nghiệp sử dụng để nhận biết chính
mình”. Theo đó, “tên theo điều lệ” (chartered name) hay còn gọi là tên doanh
nghiệp (corporate name) là tên đầy đủ được đăng ký khi thành lập doanh
nghiệp, có thể bao gồm đầy đủ ba thành tố là: loại hình doanh nghiệp (Công ty
Trách nhiệm hữu hạn, Công ty Cổ phần…, bắt buộc phải có trong tên doanh
nghiệp), lĩnh vực kinh doanh (tùy ý doanh nghiệp có đưa vào tên doanh nghiệp
hay không) và tên riêng để phân biệt (do hai doanh nghiệp khác nhau có thể có
hai thành tố đầu trùng nhau hoặc tương tự nhau)… Khi tiến hành kinh doanh,
việc xưng danh đầy đủ nhưng dài dòng có thể làm giảm sự thuận tiện trong
thế một doanh nghiệp có thể có nhiều nhãn hiệu hàng hóa.
Tiếp dến xem xét về chức năng. Chức năng của nhãn hiệu là để người
tiêu dùng xác định một loại sản phẩm ( là một hàng hoá hoặc dịch vụ) của một
công ty cụ thể nằhm phân biệt sản phẩm đó với các sản phẩm giống hoặc tương
tự do các công ty khác cung cấp. Còn chức năng của tên thương mại là để phận
biệt giữa các cá nhân tổ chức sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế.
Một điểm khác nhau giữa nhãn hiệu và tên thương mại nữa là nhãn hiệu
muốn được bảo hộ thì phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền, còn quyền sở
hữu công nghiệp dối với tên thương mại tự động được xác lập khi có đủ các
điều kiện theo quy định của pháp luật mà không cần phải đăng ký tại cơ quan
quản lý về sở hữu trí tuệ.
11
1.1.2.3. Nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý
Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực,
địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể. Còn nhãn hiệu như đã nói ở trên
là dấu hiệu để phân biệt hàng hoá dịch vụ của các tổ chức cá nhân. Như đã biết
nhãn hiệu hàng hoá có chức năng để phân biệt sản phẩm vì thế các dấu hiệu
trong nhãn hiệu hàng hoá rất phong phú đa đạng (từ ngữ, hình ảnh, màu sắc, bố
trí sắp đặt, cảm giác, mùi vị …). Trong khi đó, xuất phát từ đặc trưng của chỉ
dẫn địa lý là để chỉ đẫn nguồn gốc của hàng hoá nên dấu hiệu trong chỉ dẫn địa
lý phải được nhận biết bằng thị giác (từ ngữ, hình ảnh biểu tượng).
1.2. Định giá nhãn hiệu
1.2.1. Các khái niệm cơ bản trong định giá
“ Thẩm định giá là việc đánh giá hoặc đánh giá lại giá trị của tài sản phù hợp
với thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định theo tiêu chuẩn của Việt
Nam hoặc thông lệ quốc tế” ( Khoản 2 Điều 4 Pháp lệnh giá năm 2002)
- “Giá trị thị trường của một tài sản là mức giá ước tính sẽ được mua bán trên
thị trường vào thời điểm thẩm định giá, giữa một bên là người mua sẵn sàng
mua và một bên là người bán sẵn sàng bán, trong một giao dịch mua bán khách
quan và độc lập, trong điều kiện thương mại bình thường”. ( Tiêu chuẩn định
mức độ nào đó sẽ tạo nên lợi thế hình ảnh cho nhãn hiệu, bên cạnh bốn lọai lợi
thế cạnh tranh khác mà nhãn hiệu có thể có là : lợi thế về công nghệ, lợi thế về
tài chính, lợi thế về thương mại và lợi thế về pháp lý (như các văn bằng độc
quyền sở hữu trí tuệ khác trợ lực cho nhãn hiệu). Việc phân tách giá trị nhãn
hiệu thành năm thành tố giá trị như trên (hoặc qua một phương án phân tích
khác) sẽ giúp nhận biết chính xác hơn các tương tác nhân - quả trong tác nghiệp
quản trị nhãn hiệu. Thí dụ, một nhãn hiệu được nhận biết rộng rãi (well-known
13