Tài liệu Đồ án tốt nghiệp Tổ chức kế toán nguyên vật liệu và phân tích tình hình quản lý sử dụng nguyên vật liệu tại Xí nghiệp may Minh Hà - Pdf 91


Đồ án tốt nghiệp
Tổ chức kế toán nguyên
vật liệu và phân tích tình
hình quản lý sử dụng
nguyên vật liệu tại Xí
nghiệp may Minh Hà
Mục Lục
I. Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp
sản xuất ..........................................................................................................................5
1. Vị trí của nguyên vật liệu đối với quá trình sản xuất....................................................5
2. Vai trò của nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất............................................6
1. Phân loại vật liệu.........................................................................................................7
3. Kế toán chi tiết vật liệu..............................................................................................10
2- Phương hướng phát triển của xí nghiệp trong những năm tới..................................22
3- Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh và quy trình công nghệ của xí nghiệp may
Minh Hà.........................................................................................................................23
II. Tình hình thực tế về tổ chức kế toán nguyên vật liệu tại Xí nghiệp may Minh Hà......33
4. Tổ chức kế toán tổng hợp nguyên vật liệu.................................................................44
phần III...........................................................................................................................57
một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu ở Xí nghiệp may Minh
Hà..................................................................................................................................57
Lời nói đầu
Một trong những nhân tố có tính chất quyết định tới giá bán và chất lượng sản
phẩm là chi phí sản xuất. Tiết kiệm chi phí sản xuất nhưng vẫn đảm bảo chất lượng sản
phẩm đó là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp có thể giảm giá bán, tăng khả năng cạnh
tranh trên thị trường, tăng lợi nhuận thu được. Để đạt được được mục đích này các đơn vị
phải quan tâm đến các khâu của quá trình các khâu của quá trình sản xuất kể từ khi bỏ vốn
ra đến khi thu vốn về.
Nguyên vật liệu là một trong những yếu tố không thể thiếu được của quá trình sản
xuất đó là tư liệu lao động chủ yếu cấu thành niên thực thể sản phẩm. Chi phí về nguyên

1. Vị trí của nguyên vật liệu đối với quá trình sản xuất.
Quá trình sản xuất là sự kết hợp của ba yếu tố: sức lao động, tư liệu lao động và đối
tượng lao động. Nguyên vật liệu là đối tượng lao động đã được thay đổi do lao động có ích
của con người tác động vào. Theo Mac tất cả mọi vật thiên nhiên ở quanh ta mà lao động
có ích có thể tác động vào để tạo ra của cải vật chất cho xã hội đều là đối tượng lao động.
Trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất,
bị tiêu hao toàn bộ và chuyển toàn bộ giá trị một lần vào chi phí sản xuất cũng như giá
thành sản phẩm. Giá thành sản phẩm là vấn đề quan tâm hàng đầu đầu của các doanh
nghiệp, nền kinh tế thị trường chỉ cho phép các doanh nghiệp thực sự làm ăn có lãi được
tồn tại và phát triển. Để đạt được điều đó thì nhất thiết các doanh nghiệp phải quan tâm
đến giá thành sản phẩm vì vậy phấn đấu hạ giá thành sản phẩm có ý nghĩa sống còn đối
với các doanh nghiệp sản phẩm của các doanh nghiệp có được chấp nhận trên thị trường
hay không, không chỉ ở vấn đề giá cả mà còn nhiều vấn đề khác quan trọng trong đó có
vấn đề chất lượng. Nguyên vật liệu đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên chất lượng
sản phẩm.
Mặt khác xét cả mặt hiện vật và giá trị thì vật liệu là một trong những yếu tố không
thể thiếu được của quá trình tái sản xuất kinh doanh nào. Dưới hình thái hiện vật nó là một
bộ phận quan trọng của tài sản lưu động định mức, còn dưới hình thái giá trị nó biểu hiện
bằng vốn lưu động của doanh nghiệp. Để nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn cần phải
tăng tốc độ luân chuyển dòng vốn lưu động và việc đó không tách rời việc dự trữ và sử
dụng vật liệu một cách tiết kiệm và hợp lý. Từ những phân tích trên cho thấy vật liệu có vị
trí đặc biệt quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố chủ yếu trong chi phí
sản xuất và giá thành, là bộ phận của vốn lưu động. Chính vì vậy các nhà sản xuất rất quan
tâm đến vấn đề quản lý và sử dụng nguyên vật liệu.
2. Vai trò của nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất.
Khác với quản lý bao cấp cơ chế thị trường đã tạo nên sự chủ động thực sự của các
doanh nghiệp. Doanh nghiệp chủ động trong việc xây dựng các phương án tiêu thụ sản
phẩm, doanh nghiệp phải tự trang trải bù đắp chi phí, chịu rủi ro chịu trách nhiệm về kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Kế toán nói chung và kế toán nguyên vật liệu nói riêng là công tác đắc lực giúp

- Thực hiện việc đánh giá, phân loại vật liệu phù hợp với nguyên tắc, yêu cầu quản
lý thống nhất của Nhà nước và yêu cầu quản trị của doanh nghiệp.
- Tổ chức tốt chứng từ, tài khoản kế toán, sổ kế toán phù hợp với phương pháp
hàng tồn kho áp dụng trong doanh nghiệp để ghi chép, phân loại, tổng hợp số liệu về tình
hình hiện có và số lượng tăng giảm vật liệu trong sản xuất kinh doanh, cung cấp số liệu kịp
thời để tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
- Tham gia việc đánh giá phân tích tình hình thực hiện kế hoạch thu mua, tình hình
thanh toán với người bán, người cung cấp và tình hình sử dụng vật liệu trong quá trình sản
xuất kinh doanh.
Trên đây là những yêu cầu về kế toán vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất. Để cụ
thể hoá các yêu cầu đó cần phải đi sâu thực hiện nội dung công tác tổ chức kế toán nguyên
vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất.
II. Nội dung công tác tổ chức kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất.
1. Phân loại vật liệu
- Tại sao phải phân loại vật liệu.
Trong doanh nghiệp vật liệu thường gồm nhiều loại, nhóm, thứ khác nhau với công
dụng kinh tế, tính năng lý hoá học và yêu cầu quản lý khác nhau. Để phục vụ yêu cầu tổ
chức kế toán quản trị vật liệu, cần phải tiến hành, phân loại vật liệu một cách chi tiết rõ
ràng.
Việc phân loại này giúp cho doanh nghiệp tổ chức kế toán chi tiết dễ dàng hơn
trong việc quản lý hạch toán kế toán vật liệu. Ngoài ra còn giúp cho doanh nghiệp nhận
biết rõ nội dung kinh tế và vai trò chức năng của từng loại vật liệu trong quá trình sản xuất
kinh doanh từ đó đề ra biện pháp thích hợp trong việc tổ chức quản lý và sử dụng có hiệu
quả các loại vật liệu.
Ngoài cách phân loại trên ta còn có những cách phân loại sau:
- Phân loại theo nguồn hình thành
- Phân loại theo nguồn sở hữu
- Phân loại theo nguồn tài trợ
- Phân loại theo tính năng lý học, hoá học, theo quy cách phẩm chất.
Trong kế toán quản trị, để tạo điều kiện cho cung cấp kịp thời về chi phí, vật liệu

chưa có thuế GTGT.
- Nếu doanh nghiệp áp dụng phương pháp trực tiếp hoặc vật tư hàng hoá mua về
dùng cho việc sản xuất kinh doanh các mặt hàng không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT
thì giá trên hoá đơn là tổng giá thanh toán. Thuế nhập kho được tính vào trị giá vốn thực tế
nhập kho.
- Đối với vật liệu tự gia công chế biến: trị giá vốn thực tế nhập kho là giá trị thực tế
của vật liệu sản xuất gia công cộng với các chi phí gia công chế biến.
Đối với vật liệu thuê ngoài gia công chế biến: trị giá vốn thực tế nhập kho là giá
vốn thực tế vật liệu xuất thuê gia công chế biến với tiền thuê gia công chế biến phải trả và
chi phí vận chuyển bốc dỡ trước và sau thuế.
- Trường hợp đơn vị khác góp vốn liên doanh bằng vật liệu thì trị giá vốn thực tế
của vật liệu nhận góp vốn liên doanh là do hội đồng liên doanh đánh giá.
- Phế liệu thu hồi nếu có được đánh giá theo quy ước có thể bán hoặc sử dụng
được.
2.1.2. Phương pháp xác định trị giá vốn thực tế vật liệu xuất kho
Căn cứ theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC về việc ban hành và công bố 04
chuẩn mực kế toán Việt Nam (đợt 1).
Trong đó có chuẩn mực số 02 - Hàng tồn kho. Nguyên liệu, vật liệu để sử dụng
trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ là những hàng tồn kho. Vì thế
khi xác định giá thực tế vật liệu xuất kho thì áp dụng một trong bốn phương pháp được ghi
nhận trong chuẩn mực sau đây:
2.1.2.1. Phương pháp tính theo giá đích danh
Phương pháp này được áp dụng đối với doanh nghiệp có ít loại mặt hàng ổn định
nhận diện được.
Theo phương pháp này căn cứ vào số lượng xuất kho và đơn giá nhập kho của lô
hàng xuất kho để tính trị giá mua thực tế hàng xuất kho.
2.1.2.2. Phương pháp bình quân gia quyền
Theo phương pháp này, giá trị nguyên của nguyên vật liệu được tính theo giá trung
bình quân của nguyên vật liệu tồn đầu kỳ và giá trị nguyên vật liệu được mua hoặc sản xuất
trong kỳ. Giá trị trung bình có thể được tính theo thời kỳ hoặc khi nhập một lô hàng về, phụ

3.2. Chứng từ sử dụng.
Theo chế độ kế toán quy định, các chứng từ kế toán về vật liệu bao gồm.
- Phiếu nhập kho (mẫu 01- VT)
- Phiếu xuất kho (mẫu 02 - VT)
- Phiếu xuất kho kiểm vận chuyển nội bộ (mẫu 03- VT)
- Biên bản kiểm kê vật tư sản phẩm hàng hoá (mẫu 08- VT)
- Hoá đơn GT- GT
Ngoài các chứng từ bắt buộc sử dụng thống nhất theo quy định của nhà nước, các
doanh nghiệp có thể sử dụng thêm các chứng từ kế toán hướng dẫn thêm như :
Phiếu xuất vật tư theo hạn mức (mẫu 04- VT), biên bản kiểm nghiệm vật tư (mẫu
05- VT)… Đối với các chứng từ kế toán thống nhất bắt buộc phải lập kịp thời đầy đủ,
đúng biểu mẫu, nội dung, phương pháp lập. Mọi chứng từ kế toán phải được tổ chức luân
chuyển theo trình tự thời gian hợp lý do kế toán trưởng quy định phục vụ cho việc phản
ánh ghi chép tổng hợp số liệu kịp thời các bộ phận có liên quan.
3.3. Các phương pháp kế toán chi tiết vật liệu.
Để kế toán chi tiết vật liệu hiện nay ở nước ta các doanh nghiệp đang áp dụng một
trong 3 phương pháp sau:
- Phương pháp thẻ song song
- Phương pháp số đối chiếu luân chuyển
- Phương pháp sổ số dư
Mỗi phương pháp có những ưu nhược điểm khác nhau tuỳ theo từng đặc điểm
doanh nghiệp mà áp dụng phương pháp nào cho phù hợp.
Trình tự hạch toán ở cả 3 phương pháp này có thể khái quát như sau:
- Hạch toán chi tiết vật liệu tại kho. Thủ kho đề sử dụng thẻ kho để ghi chép tình
hình nhập - xuất - tồn tại theo chỉ tiêu số lượng. Thẻ kho là sổ vật liệu được mở chi tiết cho
từng loại vật liệu, theo từng kho để thủ kho theo dõi số lượng nhập - xuất - tồn hàng ngày.
Thẻ kho do phòng kế toán tập hợp và ghi các chi tiết như, nhãn hiệu, tên quy cách, đơn vị
tính, mã số vật liệu. Sau đó giao cho thủ kho ghi chép. Hàng ngày căn cứ vào các số liệu
nhập xuất vật liệu, thủ kho tiến hành ghi chép số liệu thực nhập, thực xuất vào thẻ kho.
Sau mỗi một nghiệp vụ (hoặc cuối ngày) tính ra số tồn kho để ghi vào thẻ kho. Định kỳ thủ

ngoài mặt phản ánh biến động về mặt giá trị về vật liệu còn cho thấy mối liên hệ tương
quan giữa các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính, là cơ sở để phân tích đánh giá tình hình tài
chính, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Kế toán tổng hợp các phần hành kế toán trong doanh nghiệp chỉ khác nhau các
phương pháp hạch toán hàng tồn kho. Hàng tồn kho trong doanh nghiệp bao gồm: NVL,
CCDC, sản phẩm dở dang, thành phẩm. Trong đó vật liệu chiếm tỷ trọng khá lớn. Hiện
nay theo quy định của chế độ tài chính hiện hành có hai phương pháp để hạch toán hàng
tồn kho. Phương pháp kê khai thường xuyên và phương pháp kiểm kê định kỳ. Mỗi doanh
nghiệp chỉ được sử dụng một trong hai phương pháp này. Sự lựa chọn một trong hai
phương pháp trên phải căn cứ vào đặc điểm, tính chất, số lượng, chủng loại vật tư và yêu
cầu quản lý để có sự vận dụng phù hợp và phải được thực hiện thống nhất trong niên độ kế
toán.
4.1. Kế toán tổng hợp vật liệu theo phương pháp kê khai thường xuyên
4.1.1. Đặc điểm
Thẻ kho
Sổ số dư
Bảng tổng hợp
N - X - T
Chứng từ xuất
Bảng kê xuất
Bảng luỹ kế xuấtBảng luỹ kế nhập
Chứng từ nhập
Bảng kê nhập
Phương pháp kế khai thường xuyên là phương pháp theo dõi phản ánh thường
xuyên liên tục có hệ thống tình hình nhập xuất, tồn kho vật tư hàng hoá trên sổ kế toán.
Việc tính toán xác định trị giá vốn của hàng xuất kho được dựa trên các chứng từ xuất kho.
Sau mỗi nghiệp vụ tăng, giảm hàng tồn kho kế toán xác định được giá hàng tồn kho
giao ngay.
4.1.2. Chứng từ kế toán sử dụng
- Phiếu nhập kho

TK411
TK338.1 TK138.1
TK412 TK412
4.2.2. Tài khoản kế toán sử dụng
- TK 152 - Nguyên liệu, vật liệu
- TK 611 - Mua hàng
Nội dung: Phản ánh quá trình mua, nhập kho các loại vật tư hàng hoá trong doanh
nghiệp.
Vật liệu đi đường kỳ trước Xuất dùng trực tiếp chế tạo
SP
Tăng do mua ngoài Xuất dùng trực tiếp chế tạo
SP
Tăng do
mua ngoài
VAT
khấu trừ
Thuế GTGT hàng nhập khẩu
VAT
khấu trừ
Xuất CCDC loại
phân bổ 2 lần
và nhiều lần
Phân bổ đầu
vào CPSXKD
trong kỳ
Thuế nhập khẩu phải nộp Xuất bán, gửi bán
Nkho VL tự chế,
thuê ngoài gia công
Xuất tự chế,
thuê ngoài gia công

Kết chuyển giá trị vật liệu
tồn kho đầu kỳ
Kết chuyển giá trị vật liệu
tồn kho cuối kỳ
Giảm giá hàng mua trả lại
mua trả tiền ngay
VAT đ
khấu trừ
Thuế GTGT hàng
nhập khẩu
Cuối kỳ kết chuyển số xuất
dùng cho sản xuất kinh doanh
Mua chưa trả tiền bằng tiền
vay
Thuế nhập khẩu
Xuất bán
Thiếu hụt, mất mát
Chênh lệch đánh giá giảm
Nhận vốn góp cổ phẩn
Chênh lệch đánh giá tăng
để lập báo cáo tài chính. Sổ kế toán phục vụ kế toán chi tiết thì tuỳ theo yêu cầu quản lý
của doanh nghiệp mà mở các sổ kế toán chi tiết.
Trình tự ghi sổ kế toán để kế toán nguyên vật liệu theo từng hình thức kế toán có
thể khái quát theo sơ đồ sau: (Xem sơ đồ 6+7+8)
Tuỳ vào đặc điểm cụ thể của doanh nghiệp và đặc điểm tổ chức sản xuất, quản lý
sản xuất kinh doanh. Phân cấp quản lý, quy mô của doanh nghiệp, trình độ quản lý mà
doanh nghiệp lựa chọn hình thức kế toán cùng hệ thống sổ kế toán tương ứng thích hợp.
4.3.1. Nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức sổ kế toán chứng từ ghi sổ
Sơ đồ 6
Chứng từ gốc: PNK

Báo cáo tài chính, báo cáo tổng
hợp N-X-T vật tư
4.3.4. Nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức sổ kế toán nhật ký chứng từ
Sơ đồ 8
Chứng từ gốc
Sổ kế toán
khác có
Sổ Chi tiết Thẻ khoSổ Chi tiết
vật tư
Bảng kê số
3
Nhật ký chứng
từ số 5
Bảng phân bổ
vật liệu
Bảng tổng hợp sổ
chi tiết vật tư
Bảng kê chi phí sản
xuất. Nhật ký chứng
từ liên quan
Sổ cái tài
khoản 152
Báo cáo tài chính, báo cáo tổng
hợp N-X-T vật tư
Phần II
Thực trạng về tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu ở xí nghiệp may Minh Hà.
I- Đặc điểm tình hình tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh ở xí nghiệp may Minh
Hà.
1- Lịch sử hình thành và quá trình phát triển ở xí nghiệp may Minh Hà:
Trưởng thành và phát triển từ một tổ hợp may Vĩnh Oanh. Ngày 4/5/1996 theo

Chênh lệch %
Doanh thu thuần Tr.đ 92.016 116.387,5 24.371,5 26,49
Lợi nhuận trước thuế Tr.đ 303,5 119 422,5 +139,21
Tổng số vốn kinh
doanh. Trong đó:
- Vốn cố định
- Vốn lưu động
31.000
17.000
14.000
34.715,5
17.057
17.658,5
3.715,5
57
3.658,5
11,99
0,34
26,13
Các khoản nộp ngân
sách
1.051 2.074,5 473,5 38,21
Tổng số lao động người 1.625 17.000 75 4,62
TNBQ 1 lao động /người 627.000 650.000 23.000 3,66
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy sự tiến bộ vượt bậc của xí nghiệp trong hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Doanh thu thuần tăng 26,49%, lợi nhuận trước thuế tăng 139,21% đây la kết quả rất
đáng mừng thể hiện sự cố gắng của xí nghiệp trong sản xuất cũng như trong kinh doanh.
Việc tăng doanh thu và lợi nhuận trước thuế làm các khoản nộp ngân sách và thu
thập bình quân của người lao động trong xí nghiệp tăng lên, góp phần phát triển đất nước,

nghiệp may Minh Hà sẽ gặt hái được nhiều thành công.
3- Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh và quy trình công
nghệ của xí nghiệp may Minh Hà.
3.1- Đặc điểm tổ chức sản xuất:
Xí nghiệp may Minh Hà là xí nghiệp trực tiếp sản xuất kinh doanh các mặt hàng vải
sợi và may mặc cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước, trong đó có vải và sợi là 02
mặt hàng chính của xí nghiệp. Mặt hàng sợi chiếm 50% doanh thu và 65% mặt hàng này
để cung cấp cho các phân xưởng dệt còn lại được bán ra ngoài các loại sản phẩm của xí
nghiệp được tiêu dùng rộng rãi như vải phin, vải ktê, vải chéo một số mặt hàng chất liệu
100% cotton. Ngoài ra, xí nghiệp còn có mặt hàng quần áo may sẵn do phân xưởng may
sản xuất, những mặt hàng này chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Mỹ va Ba Lan.
Bộ phận sản xuất chính gồm các phân xưởng:
+ Phân xưởng sợi bao gồm: Phân xưởng sợi A.
Phân xưởng sợi B
Phân xưởng sợi II
+ Phân xưởng sợi dệt
+ Phân xưởng sợi nhuộm
- Bộ phận sản xuất phụ gồm các phân xưởng:
+ Phân xưởng may
+ Phân xưởng cơ điện
+ Phòng dịch vụ
Các phân xưởng này hoạt động độc lập và riêng biệt, sản phẩm làm ra được chuyển
sang giai đoạn sản xuất trực tiếp hoặc có thể bán ra ngoài.
Sơ đồ 9
Sơ đồ tổ chức hoạt động sản xuất của xí nghiệp may Minh Hà.
3.2- Đặc điểm về quy trình công nghệ của xí nghiệp may Minh Hà.
Công nghệ sản xuất của xí nghiệp may Minh Hà là công nghệ liên hợp khép kín đi
từ nguyên liệu đầu vào và bông sơ đến sản phẩm qua công nghệ kéo sợi - dệt - vải - nhuộm
- hoàn tất và may.
Mỗi công đoạn công nghệ sản xuất sản phẩm được thực hiện ở các phân xưởng

* Công nghệ dệt: Làm nhiệm vụ chủ yếu dệt sợi thành vải mộc. Công nghệ dệt
được thể hiện qua các bước: Đánh ống - Mắc sợi - Hồ sợi dọc - Xâu gio - Dệt vải - Dệt
mộc. Các quá trình sản xuất trong dây chuyền công nghệ dệt chủ yếu là quá trình cơ học và
khô trừ công đoạn hồ sợi dọc có dùng nước và hoá chất.
* Công nghệ nhuộm có 02 bước chính:
- Tiền xử lý vải mộc thành vải trắng qua các công đoạn rũ hồ, nấu tẩy. Nhuộm in
hoa và tăng giá thẩm mỹ cho vải bề mầu sắc, tăng chất lượng sử dụng như phòng co,
chống nhàu. Công nghệ nhuộm hoàn tất gồm các bước: vải mộc, đốt lòng, rũ hồ, nấu tẩy -
giặt - tẩy trắng - kiềng bóng - nhuộm màu - in hoa - hoàn tất - vải thành phẩm.
- Công nghệ may: Mục đích đi từ vải thành phẩm các loại của Xí nghiệp như các
loại quần Kaki cao cấp, áo cao cấp các loại, áo Jocket. Công nghệ may gồm: vải cắt may
gồm: vải cắt may là- hoàn tất - đóng gói - sản phẩm may.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status