Tài liệu Lịch sử ngành kinh doanh theo mạng - Pdf 91

LỊCH SỬ NGÀNH KINH DOANH THEO MẠNG
<Kinhdoanhtheomang.com>
Bạn chỉ thành công khi bạn hiểu thật kỹ những ý tưởng sau đây!
Kinh doanh theo mạng (Multi-level marketing) hay còn gọi là kinh doanh đa cấp, tiếp thị đa
tầng, tiếp thị hệ thống.
Trước khi bắt tay tham gia vào một công việc kinh doanh nào thì điều quan tâm đầu tiên là
ngành kinh doanh đó có ổn định và lâu dài không? Trước khi lựa chọn sự nghiệp của mình là
kinh doanh mạng thì bạn cũng cần hiểu rõ về lịch sử hình thành và phát triển của ngành
kinh doanh mạng như thế nào.
Lịch sử của ngành KDTM gắn liền với tên tuổi của nhà hóa học người Mỹ có tên là Karl Renborg (1887-1973). Ông
là người đầu tiên đã đưa tư tưởng của KDTM vào trong cuộc sống, tạo ra một hệ thống kinh tế, một ngành kinh
doanh được gọi là có triển vọng nhất của thế kỷ 21
Ông Renborg có một thời gian 20 năm sống tại Trung Quốc và làm việc tại nhiều công ty khác nhau (dầu hỏa, đóng tàu.). Giữa
thập niên 1920-1930 ông và một số người nước ngoài khác bị bắt vào tù khi chính quyền thuộc về tay lực lượng cách mạng
Tưởng Giới Thạch. Trong điều kiện sống trong tù rất thiếu thốn, ông đã thực nghiệm nhiều kiểu ăn khác nhau và đã nhận thấy
giá trị thực tiễn rất lớn của dinh dưỡng cần thiết đối với sức khỏe con người. Nhưng lấy các chất dinh dưỡng gồm các vitamin và
các khoáng chất đó ở đâu ra? Ví dụ như sắt? Ông Renborg đã tìm ra lối thoát duy nhất: đó là ông cạo từng ít chất sắt từ những
chiếc đinh rỉ để cho vào khẩu phần ăn dành cho người tù và thỏa thuận với cai tù để xin một ít các loại rau cỏ khác nhau. Vì vậy
ông và một số ít người làm theo phương pháp của ông còn sức đề kháng và sống sót được đến ngày trở về tổ quốc, đa số những
người khác đều bị chết.
Năm 1927 Ông Renborg về lại Mỹ và bắt đầu chế biến các chất bổ sung dinh dưỡng khác nhau dựa trên cỏ linh lăng là một loại
cỏ có chứa rất nhiều vitamin, khoáng chất, đạm và nhiều thành phần có ích khác. Ông đề nghị những người quen của ông thử
nghiệm miễn phí sản phẩm nhưng ông đã thất bại: Không ai dám dùng thử vì chẳng có ai muốn mình làm vật thí nghiệm. Sau
nhiều cố gắng liên tục mà không đem lại được kết quả, ông hiểu ra rằng chẳng ai chịu đánh giá tốt những thứ cho không, vì vậy
ông đã nghĩ ra một tư tưởng vĩ đại và ngày nay đã trở thành một xu thế kinh doanh tất yếu của thời đại:
Ông Renborg đề nghị các bạn của ông tự truyền bá thông tin về chất bổ sung dinh dưỡng này cho người quen
của họ, còn nếu người quen của họ mua sản phẩm thì ông hứa sẽ trả hoa hồng cho họ. Ông cũng quyết định trả
hoa hồng cho các người quen của bạn mình nếu truyền bá sản phẩm tiếp theo quan hệ của họ.

Kết quả thật bất ngờ: thông tin về các chất bổ sung dinh dưỡng có lợi bắt đầu được truyền bá rộng rãi (vì mỗi người bạn của
ông lại có nhiều người bạn khác và bạn của bạn của bạn là vô hạn). Doanh thu bán hàng của công ty tăng vượt quá sức tưởng

Ông Richard Poe, phóng viên của báo Success - một tờ báo rất nổi tiếng tại Mỹ- Trong cuốn: "Làn sóng thứ ba-Kỷ nguyên của
KDTM" đã chia KDTM ra làm ba thời kỳ.
Làn sóng thứ nhất (Thời kỳ thứ nhất) là thời kỳ bắt đầu hình thành của ngành KDTM: từ 1940 cho đến năm 1979 chỉ có khoảng
30 công ty KDTM ra đời tại Mỹ.
Làn sóng thứ II (Thời kỳ thư hai): từ 1979 - 1990 là thời kỳ bùng nổ của KDTM. Mỗi đêm ngủ dậy chúng ta có thể thấy hàng trăm
công ty KDTM bố cáo thành lập với đủ loại sản phẩm và sơ đồ kinh doanh. Đây là thời kỳ phát triển và chọn lọc tự nhiên.
Làn sóng thứ III (Thời kỳ thứ ba): từ 1990 trở đi, nhờ tiến bộ của công nghệ thông tin truyền thông, KDTM đã mang màu sắc
mới. Các nhà phân phối độc lập có thể đơn giản hóa công việc của mình nhờ vào điện thoại, điện đàm, hội thảo vô tuyến,
internet và nhiều phương tiện khác. Nếu như ở làn sóng thứ II, những nhà phân phối độc lập giỏi phải là nhà hùng biện và họ
phải đi lại như con thoi đến các mạng lưới thì ở làn sóng thứ III, bất cứ ai cũng có thể sử dụng thời giờ nhàn rỗi của mình để
tham gia KDTM. Hàng ngàn công ty đã áp dụng KDTM để truyền bá sản phẩm của mình. Các công ty áp dụng phương pháp bán
hàng truyền thống như Ford, Colgate, Canon, Coca-cola và nhiều công ty nổi tiếng khác đã bắt đầu áp dụng phương pháp KDTM
để phân phối những mặt hàng độc đáo của mình.
Một số thống kê vào 1998 (Tổng hợp từ các tạp chí kinh tế thế giới ):
• Trên thế giới có hơn 30.000 công ty KDTM, trong đó có 5.000 công ty lớn. Doanh số toàn ngành KDTM đạt hơn 400 tỷ
USD.
• Tốc độ tăng hàng năm từ 20% - 30%
• Mỹ: hiện Có 2.000 công ty hoạt động và cứ 10 gia đình có 1 người làm KDTM chiếm khoảng 15% dân số, có 500.000
người trở thành triệu phú nhờ KDTM.
• NHẬT: 90% hàng hoá & Dvụ theo KDTM, có 2,5 triệu Nhà Phân Phối đạt Doanh thu 30 tỷ USD.
• ĐÀI LOAN: Cứ 12 người có 1 người làm KDTM.
• MALAISIA: Có hơn 1 triệu NPP đạt Doanh thu 1tỷ USD.
• ÚC: Doanh thu từ KDTM đạt 1,5 tỷ USD.
• ĐỨC, PHÁP, Ý: mỗi nước đạt trên 2 tỷ USD.
• ANH: Doanh thu đạt trên 1 tỷ USD.
• NGA: Có trên 100 Cty KDTM với hơn 2 triệu NPP.
• VIỆT NAM: Tại thời điểm hiện nay có khoảng 20 Cty KDTM và trên 100.000 NPP
• Mỗi ngày trên thế giới có 60.000 người tham gia KDTM.
Cũng theo thống kê thì cứ 100 người đang là triệu phú trên thế giới thì có đến 40 người xuất phát theo ngành KDTM và trong thế
kỷ 21 này thì 70% hàng hóa và dịch vụ sẽ phát triển theo phương thức kinh doanh này.

ĐỐI VỚI HÀNG HÓA LƯU THÔNG QUA HỆ THỐNG KDTT
Tc: Quảng Cáo + Các Khâu Trung Gian Chiếm 70% - 80% Giá Thành Sản Phẩm
ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU
Tc: Quảng Cáo + Các Khâu Trung Gian Chiếm 70% - 80% Giá Thành Sản Phẩm
ĐỐI VỚI HÀNG HÓA LƯU THÔNG QUA HỆ THỐNG KDTM
hình thức kinh doanh truyền thống thì bất kỳ sản phẩm nào nó cũng được xuất xưởng từ một nhà máy. Ví dụ đối với những sản
phẩm nhập khẩu thì nó sẽ được nhập về bởi một công ty nhập khẩu, từ đó được phân phối đến các đại lý khu vực - Đại lý bán sỉ
- rồi đến các cửa hàng bán lẻ. Chúng ta là người tiêu dùng đơn thuần, chúng ta sẽ mua hàng trực tiếp tại các cửa hàng bán lẻ.
Để kiếm được lợi nhuận thì các nhà kinh doanh thường tăng giá ở các khâu trung gian. Thông thường các khâu này chiếm từ
30% - 40% giá bán ra của một sản phẩm. Bên cạnh đó người tiêu dùng còn phải gánh chịu một khoản chi phí khác nữa, đó là chi
phí dành cho quảng cáo, tiếp thị, tuyên truyền và khuyến mãi. Khoản chi phí này cũng rất đáng kể, thường chiếm khoảng 40%
giá bán ra của một sản phẩm.
Ví dụ như chi phí quảng cáo trên Tivi vào giờ cao điểm với khoảng thời gian 30 giây là 21 triệu đồng. Mà theo các nhà tâm lý thì
một mẫu quảng cáo muốn tạo được ấn tượng nơi người xem thì thường xuyên phải được quảng cáo từ 4 - 10 lần trong 1 ngày và
kéo dài liên tục trong nhiều tháng. Như vậy chi phí cho quảng cáo rất lớn cộng với việc tăng giá ở mỗi khâu trung gian đã đẩy giá
thành tăng lên từ 70-80%, trong khi giá thành sản xuất ra một sản phẩm tại nhà máy thường chỉ chiếm từ 20-30% mà thôi,
nhưng Người tiêu dùng chúng ta luôn phải mua với 100% giá thành, nên dù muốn hay không cũng vẫn phải gánh chịu khoản chi
phí này.
Xin đưa ra một ví dụ cụ thể: 1 chai nước ngọt sản xuất ra tại nhà máy, giá thành sản xuất thực chất chỉ có 400đ, nhưng tại các
tiệm ăn hoặc các tiệm tạp hóa chúng ta vẫn phải trả với giá từ 2000 - 3000đ tuỳ theo mỗi nơi. Tại sao lại có sự chênh lệch như
vậy. Đó chính là do chi phí quảng cáo cộng với việc tăng giá ở các khâu trung gian đã đẩy giá lên. Còn hình thức kinh doanh theo
mạng là sao?
Thì sản phẩm cũng được xuất xưởng từ một nhà máy, sau đó được phân phối bởi một công ty tiêu thụ. Từ công ty này hàng hóa
sẽ được phân phối trực tiếp đến tay người tiêu dùng không qua bất cứ một chi phí quảng cáo hay một khâu trung gian nào cả.
Chúng ta là người tiêu dùng đơn thuần, ngoài việc có được một sản phẩm tốt để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho người thân và
gia đình, chúng ta thì chúng ta còn có 1 quyền gọi là quyền kinh doanh. Công việc kinh doanh của chúng ta cũng rất là đơn giản,
sau khi dùng sản phẩm, cảm nhận thấy sản phẩm thực sự tốt và chất lượng thì chúng ta chia sẻ lại cho người thân, bạn bè, đồng
nghiệp và hàng xóm của chúng ta. Những người chịu đi chia sẻ như vậy gọi là Nhà Phân Phối Và những người này cũng có mối
quan hệ của họ, họ lại tiếp tục chia sẻ cho người thân, bạn bè, đồng nghiệp và hàng xóm của họ, và vô hình chung một hệ thống
mạng lưới tiêu thụ đã được hình thành. Công ty sẽ tiết kiệm từ những khâu quảng cáo và những khâu trung gian này gởi lại cho

4/ Kích thích tiêu dùng, tăng thị phần kinh doanh, góp phần nâng cao mặt bằng mức sống xã hội, nâng cao thu nhập và
chất lượng cuộc sống.
5/ Đóng góp, tăng cường đáng kể ngân sách nhà nước, tăng phúc lợi xã hội. Điển hình một số công ty các năm qua đã
đóng góp cho ngân sách nhà nước
hàng chục tỷ đồng
(theo báo Tuổi trẻ và Thanh niên) qua các loại thuế nhập khẩu, thuế
doanh thu, thuế môn bài, thuế lợi tức doanh nghiệp, thuế thu nhập của các nhà phân phối… và tài trợ các chương trình nhân đạo
vì người nghèo, vì học sinh bất hạnh, vì người già cô đơn...
6/ Hơn thế nữa, Việt Nam ta thể hiện ý chí , tinh thần cùng tất cả các nước hội nhập thật sự về mọi mặt, trước mắt là gia
nhập WTO. Toàn dân mạnh dạn đi lên, dám nghĩ, dám làm, dám học hỏi, chỉnh sửa để HOÀN THIỆN hơn các quốc gia khác
trong khu vực và cả thế giới.
Về ngành nghề M.L.M. biết đâu Việt Nam ta sẽ làm tốt, qua mặt cả các nước đàn anh
chỉ một thời gian ngắn !
C) Đối với người dân và người tiêu dùng :
1/ Có nhiều sự lựa chọn và nhiều cơ hội hơn được sử dụng hàng chất lượng cao với giá phải chăng. Có thêm QUYỀN ĐƯỢC
KINH DOANH, thêm ý tưởng kinh doanh sáng tạo. (trong kinh doanh truyền thống, người tiêu dùng chỉ có quyền sở hữu và sử
dụng hàng chứ không có quyền kinh doanh)
2/ Đây là 1 ngành nghề làm thêm ngoài công việc chính, 1 phương tiện dễ dàng hơn để phấn đấu thành công trong cuộc đời
đầy giông tố này! Người lớn tuổi có cảm giác vẫn còn khả năng lao động giúp ích cho xã hội. Tăng khả năng và nguồn thu nhập
phụ nhưng khá đáng kể cho người dân. Khơi dậy tinh thần làm giàu, cải thiện chất lượng cuộc sống .
3/ Phát huy lòng yêu thương, tinh thần đồng đội hỗ trợ, giúp đỡ nhau cùng vươn tới thành công.
4/ Tăng cường ý thức bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, phòng bệnh hơn trị bệnh, giảm tải cho bệnh viện và các cơ sở y tế.
Góp phần đẩy mạnh công tác CHĂM SÓC SỨC KHỎE BAN ĐẦU, ý thức dinh dưỡng hợp lý ngay trong gia đình.
5/ Là môi trường rèn luyện ý chí và nghị lực vươn lên thành công trong cuộc sống đầy rủi ro. Qua đó đào tạo ra một lớp
người ưu tú cho xã hội.
6/ Tóm lại ngành nghề này mang TÍNH NHÂN BẢN RẤT CAO: ít vốn, không cần trình độ, không phân biệt tuổi tác, tôn
giáo, chủng tộc, ngôn ngữ, không phân biệt giàu nghèo, giai cấp, nghề nghiệp, hoàn toàn tự do, chỉ cần thời gian rảnh, chỉ cần
có lòng tốt vị tha, yêu thương người, quan tâm người khác, có tinh thần đồng đội yêu thương hỗ trợ nhau, có quan hệ rộng, tin
yêu sản phẩm (bằng cách tự sử dụng hoặc theo dõi đánh giá qua người thân), luôn có ý muốn chia xẻ thông tin cho người
khác và đặc biệt nhất là nghề này không có tuổi về hưu, được thừa kế cho con cháu, hoàn toàn không có rủi ro, chỉ có thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status