LỜI MỞ ĐẦU
Những thành tựu về kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua là
rất ấn tượng, GDP tăng ở mức cao qua nhiều năm liên tục, môi trường
chính trị xã hội ổn định, tạo được sự quan tâm chú ý của nhiều nhà đầu tư
quốc tế. Tuy nhiên, để gia tốc phát triển kinh tế nhằm tránh nguy cơ tụt hậu
đòi hỏi phải thu hút vốn đầu tư cho phát triển với quy mô và tốc độ nhanh
hơn nữa.
Trong bức tranh tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam những năm
gần đây có đóng góp không nhỏ của khu vực đầu tư nước ngoài. Đối với
một thị trường mới nổi như Việt Nam, khi mà dòng vốn đầu tư gián tiếp
(FPI) vẫn còn là những con số khiêm tốn thì sự đóng góp to lớn này được
mang đến từ khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài – FDI.
Tuy nhiên, cùng với lợi ích to lớn mà các dòng vốn đem lại thì kèm
theo đó là không ít các mặt trái đem lại ảnh hưởng tiêu cực không chỉ đến
nền kinh tế mà cả những vẫn đề xã hội. Trong quá trình hội nhập và phát
triển kinh tế, Việt Nam cũng đang nỗ lực thu hút FDI nhưng mục tiêu vẫn
phải đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững, thì vấn đề kiểm soát FDI lại
càng trở nên cần thiết. Việc nhận định đúng bản chất của FDI cùng với sự
cần thiết của việc hiểu biết về thực trạng kiểm soát FDI là lý do thực hiện
đề tài nghiên cứu: “Thực trạng kiểm soát nguồn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài tại Việt Nam.”
Đề tài được bố cục theo 04 phần với nội dung cụ thể như sau :
Phần I : Lý luận chung về nguồn vốn FDI và kiểm soát FDI
Phần II : Thực trạng kiểm soát nguồn vốn FDI tại Việt Nam
Phần III : Đánh giá kinh tế Việt Nam với quá trình kiểm soát vốn FDI
Phần IV : Kết luận
1
Phần I : Lý luận chung về nguồn vốn FDI và
kiểm soát FDI
1. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài – FDI
1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Tỷ lệ vốn của các nhà đầu tư nước ngoài trong vốn pháp định cuả dự
án đạt mức tối thiểu tùy theo luật đầu tư của từng nước quy định.
- Các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lý dự án mà họ bỏ vốn đầu tư.
Quyền quản lý doanh nghiệp phụ thuộc vào tỉ lệ góp vốn của chủ đầu tư
trong vốn pháp định của dự án.
- Kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh của dự án được phân chia
cho các bên theo tỉ lệ góp vốn và vồn pháp định sau khi nộp thuế cho nước
sở tại và trả lợi tức cổ phần nếu có.
- FDI thường được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp
mới, mua lại toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc
mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sát nhập các doanh nghiếp với nhau.
1.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.3.1 Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai hay nhiều
bên (gọi là hợp danh) quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả cho
mỗi bên để tiến hành đầu tư vào Việt Nam mà không thành lập một pháp
nhân.
1.3.2 Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai hay nhiều bên nước
ngoài hợp tác với nước nước chủ nhà, cùng góp vốn, cùng kinh doanh,
3
cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ góp vốn. Doanh nghiệp
liên doanh được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có
tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước nhận đầu tư.
1.3.3 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu
của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài) do các
nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam. Tự quản lý và tự chịu trách
nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh.Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư
nước ngoài được thành lập theo hình thức của công ty trách nhiệm hữu hạn
mới, đặc biệt là những nghề đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao. Vì thế nó có
tác dụng to lớn đối với quá trình công nghiệp hóa, dịch chuyển cơ cấu kinh
tế, ta nhanh của các nước nhận đầu tư. FDI đem lại kinh nghiệm quản lý,
kỹ năng kinh doanh và trình độ kỹ thuật cho các đối tác trong nước nhận
đầu tư, thông qua những chương trình đào tạo và quá trình vừa học vừa
làm. FDI còn mang lại cho họ những kiến thức sản xuất phức tạp trong khi
tiếp nhận công nghệ của các nước nhận đầu tư. FDI còn thúc đẩy các nước
nhận đầu tư phải cố gắng đào tạo những kỹ sư, những nhà quản lý có trình
độ chuyên môn để tham gia vào các công ty liên doanh với nước ngoài.
Đẩy nhanh tiến trình hội nhập vốn của nước tiếp nhận vốn với
nền kinh tế thế giới và FDI là nhân tố tác động mạnh đến quá
trình hoàn thiện thể chế, chính sách và môi trường đầu tư.
Đóng góp phần đáng kể vào nguồn thu ngân sách Nhà nước thông
qua việc nộp thuế của các đơn vị đầu tư và tiền thu tư việc cho thuê
đất ....
FDI đóng góp cải thiện cán cân quốc tế cho nước tiếp nhận đầu
tư. Bởi vì hầu hết các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài là sản xuất
5
ra các sản phẩm hướng vào xuất khẩu phần đóng góp của tư bản
nước ngoài và việc phá triển xuất khẩu là khá lớn trong nhiều nước
đang phát triển.
Về mặt xã hội, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra nhiều chỗ làm
việc mới, thu hút một khối lượng đáng kể người lao động ở nước
nhận đầu tư vào làm việc tại các đơn vị của đầu tư nước ngoài.
Điều đó góp phần đáng kể vào việc làm giảm bớt nạn thất nghiệp
vốn là một tình trạng nan giải của nhiều quốc gia. Đặc biệt là đối
với các nước đang phát triển, nơi có lực lượng lao động rất phong
phú nhưng không có điều kiện khai thác và sử dụng được. Thì đầu
tư trực tiếp nước ngoài được coi là chìa khóa quan trọng để giải
quyết vấn đề trên đây.
miễn thuế, giảm thuế…
Xét về khía cạnh cạnh tranh: các doanh nghiệp trong nước thường
có tính cạnh tranh kém hơn so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài do thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm và trình độ quản lý.
Do vậy trong cuộc chiến giành thị phần các doanh nghiệp trong
nước thường là người thua cuộc dẫn đến hoạt động kém hiệu quả
hoặc phá sản làm cho lao động thất nghiệp gia tăng.
Về mặt xã hội : Khu vực có được FDI phần lớn là các khu công
nghiệp đòi hỏi diện tích rộng lớn dẫn đến một thành phần dân cư
đó mất đất (dùng để xây dựng khu công nghiệp…). Ngoài ra đầu tư
trực tiếp nước ngoài có thể làm tăng tình trạng phân hóa giàu
nghèo, sự di dân ồ ạt từ nông thôn ra thành thị gây ra sự xáo trộn
xã hội pha trộn về văn hóa…
Những mặt trái của FDI không có nghĩa là phủ nhận những lợi
thế cơ bản của nó mà chúng ta chỉ lưu ý rằng không nên quá hy vọng vào
7
FDI và cần phải có những chính sách, những biện pháp kiểm soát hữu hiệu
để phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của FDI. Bởi
vì mức độ thiệt hại của FDI gây ra cho nước chủ nhà nhiều hay ít lại phụ
thuộc rất nhiều vào chính sách, năng lực, trình độ quản lý, trình độ chuyên
môn của nước nhận đầu tư.
1.4.2 Đối với nước xuất khẩu vốn
1.4.2.1 Tác động tích cực
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư do tận dụng được các
nguồn lực sản xuất, khai thác được các ưu thế về điều kiện tự
nhiên, nhân công của nước nhận đầu tư làm giảm chi phí kinh
doanh, tăng lợi nhuận.
Đầu tư nước ngoài giúp cho các doanh nghiệp hưởng ưu đãi từ
nước nhận đầu tư nên tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch, đẩy
mạnh sản xuất và xuất khẩu, do đó có khả năng bành trướng sức
Kiểm soát FDI tạo ra được một cơ chế bảo hiểm ngoại hối ngầm để
bảo vệ sự ổn định tài chính – tiền tệ của một quốc gia trong bối
cảnh kinh tế biến động đầy phức tạp và rủi ro.
Đối với nền kinh tế của các nước đang phát triển, khi mà chưa có nhiều
kinh nghiệm đối với nguồn vốn nước ngoài thì việc thả lỏng nguồn vốn sẽ
mang lại những hậu quả khôn lường. Đối với Việt Nam, ngay từ ban đầu
khi thực hiện các chính sách thu hút FDI thì đi kèm theo đó cũng chính là
các biện pháp kiểm soát để tránh được các tác động xấu mà FDI mang lại.
Nội dung vấn đề kiểm soát, thành tựu đạt được hay những hạn chế còn tồn
tại, tất cả được thể hiện trong bức tranh thực trạng kiểm soát FDI tại Việt
Nam.
10
PHẦN II : THỰC TRẠNG VIỆC KIỂM SOÁT
NGUỒN VỐN FDI TẠI VIỆT NAM
1. Quan điểm về kiểm soát FDI của Việt Nam
Kiểm soát vốn đầu tư đang là vấn đề gây nhiều tranh cãi. Một số quan
điểm cho rằng kiểm soát vốn là đi ngược với tiến trình việc tự do hóa tài
chính, một số lại ủng hộ quan điểm cho rằng nên thực hiện kiểm soát vốn
để hạn chế những tổn thất cho nền kinh tế. Tuy nhiên, trước diễn biến kinh
tế ngày càng phức tạp, các dòng vốn có xu hướng ồ ạt chảy vào các thị
trường mới nổi, và mong muốn theo đuổi chính sách kinh tế độc lập của
chính phủ đã đề ra yêu cầu phải kiểm soát nguồn vốn trở thành yếu tố quan
trọng hàng đầu để bảo vệ nền kinh tế của một quốc gia.Trong dòng chảy
của vốn nước ngoài vào Việt Nam hiện nay, thì nguồn vốn đầu tư trực tiếp
FDI mang một tỷ trọng rất lớn, cùng với tỷ trọng lớn đó là vai trò có tính
quyết định tới sự phát triển kinh tế. Vì vậy, các biện pháp thực hiện kiểm
soát vốn FDI đóng vai trò hết sức quan trọng.
Chính sách kiểm soát FDI được thể hiện rõ nét thông qua Nghị định
160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 (Nghị định về quản lý ngoại hối).
Để thực hiện đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, doanh nghiệp có vốn đầu
12