Tài liệu Đòn bẩy vốn: Trung gian Tài chính - Pdf 91

Đòn bẩy vốn: Trung gian Tài chính
Trung gian tài chính, tức là quá trình một tổ chức thường là một tổ chức tương đối lớn và
ổn định, đứng ra vay vốn rồi cho các tổ chức nhỏ hơn, có độ an toàn ít hơn vay lại. Những tổ
chức nhỏ khi đi vay tiền sẽ phải trả lãi suất cao hơn lãi suất mà tổ chức lớn phải trả khi đi vay
tiền. Quá trình này có vẻ như là một quá trình tự sinh lời song vấn đề là ở chỗ liệu các tổ chức
vay lại có trả được lãi suất đủ cao để bù đắp lại tính rủi ro cao hơn mà tổ chức vay lần 1 phải
chịu cũng như chi phí trả nợ hay không.
Việc sử dụng cả vốn đi vay và vốn tự có để đầu tư được gọi là sử dụng đòn bẩy tài chính.
Tỷ lệ của các quỹ đi vay trên quỹ hiện có (hay tỷ lệ nợ/tài sản) được gọi là tỷ số vay nợ. Các tổ
chức doanh nghiệp hoạt động trong mọi lĩnh vực đều sử dụng đòn bẩy tài chính.
Các tập đoàn Mỹ trước đây nhìn chung có tỷ số vay nợ vào khoảng 1.0; tức là 1 đồng vốn
vay trên 1 đồng vốn tự có. Điều này có nghĩa là nhìn chung khoản cổ phần đóng góp của các cổ
đông ngang bằng với khoản vốn đi vay thông qua hình thức phát hành trái phiếu công ty. Trong
những thập kỷ gần đây, tỷ số vay nợ của các tập đoàn Mỹ đã và đang có xu hướng vượt qua mức
1.0. Các tập đoàn nằm ngoài nước Mỹ như Nhật Bản có tỷ số vay nợ cao hơn những tập đoàn
khác ở Mỹ. Các tập đoàn trong những ngành công nghiệp khác ở Mỹ có thể có các tỷ số vay nợ
tương đối khác biệt so với tỷ lệ trung bình ở Mỹ.
Các ngân hàng thương mại có tỷ số vay nợ cao hơn tỷ lệ bình quân của các tập đoàn khác
nhiều lần bởi nó chính là tỷ lệ giữa nợ có hạn và giá trị ròng của ngân hàng đó. Các ngân hàng
thương mại bảo hiểm của những năm 1980's có tỷ số vay nợ bình quân cao hơn mức 15/1 một
chút. Các liên đoàn tín dụng thường có tỷ số vay nợ bằng không. Các tổ chức doanh nghiệp cho
vay lại khoản vốn mà họ có. Bằng cách đó họ có thể thu được tỷ lệ lợi nhuận cao hơn từ các quỹ
cổ phần của mình. Tái cho vay có thể đem lại lợi nhuận cao hơn từ các quỹ đầu tư nếu tỷ lệ lợi
nhuận thu được từ các quỹ cho vay cao hơn tỷ lệ lãi suất đi vay.
Trong trường hợp này lợi nhuận thu được từ chênh lệch lãi suất sẽ tích tụ dần thành vốn
cổ phần và có thể đem lại một tỷ lệ lợi nhuận cao cho các quỹ cổ phần. Có một ví dụ mô tả sức
mạnh của công cụ đòn bẩy tài chính.
Giả định một tổ chức có trong tay một triệu đô la Mỹ cổ phần và đi vay 4 triệu đô la Mỹ
với lãi suất 8%. Tỷ số vay nợ L lúc đó sẽ là 4. Nếu đem toàn bộ 5 triệu đô la Mỹ đó tái cho vay
hoặc đầu tư và tỷ lệ lợi nhuận thu được là 10% thì tổ chức đó đã kiếm được $500,000 trong khi
chỉ phải trả tiền lãi là $320,000. Tổ chức này thu được lợi nhuận cổ phần là $180,000. Như vậy

cũng như chi phí cho việc trả nợ của các món vay cá nhân hay đầu tư cá nhân. Tất cả những nhân
tố này đóng vai trò quan trọng đối với một tổ chức tài chính song chúng làm mờ đi vấn đề chung
của đòn bẩy tài chính.)
Ví dụ nêu trên cũng như công thức tỷ suất lợi nhuận cổ phần mô tả tác động của việc sử
dụng đòn bẩy tài chính. Với tỷ số vay nợ lớn hơn 1.0 việc sử dụng đòn bẩy tài chính khuyếch đại
độ chênh lệch giữa tỷ suất lợi nhuận tài sản và tỷ lệ lãi suất nợ. Song mức chênh lệch này có thể
có tác động tích cực, cũng có thể có tác động tiêu cực.
Biểu đồ dưới đây mô tả tác động của việc sử dụng đòn bẩy tài chính. Nó cho ta thấy
những chu kỳ giả thuyết về tỷ suất lợi nhuận của tài sản đầu tư. Đôi khi tỷ suất lợi nhuận tài sản
giảm xuống dưới mức lãi suất của các quỹ đi vay. Trong trường hợp minh hoạ trên biểu đồ này
thì tỷ số vay nợ là 1.5. Tỷ suất lợi nhuận tài sản bình quân cao hơn lãi suất đi vay và tỷ suất lợi
nhuận cổ phần cao hơn tỷ suất lợi nhuận tài sản bình quân. Việc sử dụng đòn bẩy tài chính đã
đem lại điều này.
Trong trường hợp tỷ số vay nợ nhỏ hơn mức 0.5 rất nhiều thì những dao động trong tỷ
suất lợi nhuận cổ phần sẽ ít hơn rất nhiều. Đối với cá ctỷ số vay nợ nhỏ hơn 1.0 thì tỷ suất lợi
nhuận tài sản chỉ thay đổi chút ít. Tỷ suất lợi nhuận không nhất thiết lúc nào cũng phải giảm
xuống mức thấp hơn lãi suất nợ. Dưới đây là một trường hợp như vậy: Khi thảo luận về bất kỳ
chủ đề gì liên quan đến rủi ro thì chúng ta gặp phải một vấn đề là từ rủi ro có thể mang nhiều
nghĩa khác nhau.
Trong kinh tế tài chính thì rủi ro thường có nghĩa là độ biến thiên của tỷ suất lợi nhuận.
Còn trong thị trường chứng khoán và vốn vay khi lợi nhuận đã được xác định thì rủi ro là ngầm
định. Rủi ro là một vấn đề đặc biệt quan trọng cho các tổ chức gắn kết các quỹ vốn tự có với các
quỹ vốn đi vay. Tổ chức đó buộc phải trả tiền lãi cho khoản tiền đi vay theo hợp đồng vay vốn.
Bởi thế, bất kỳ một thay đổi nào của tỷ suất lợi nhuận thu được từ khoản vốn đi vay đều có thể
có tác động lớn đến tỷ suất lợi nhuận của nguồn vốn tự có của tổ chức đó.
Mối quan hệ chung tồn tại giữa rủi ro của vốn đi vay (vốn đầu tư) và rủi ro đối với người
nắm cổ phần của tổ chức đó là:
Rủi ro Cổ phần = (L+1)x(Rủi ro vốn đầu tư) trong đó L là tỷ số vay nợ (Vốn vay/Vốn cổ
phần).
Trong ví dụ đầu tiên ở trên thì một dao động trong tỷ suất lợi nhuận tài sản là 4% sẽ dẫn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status