QUAN HỆ GIỮA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ VÀ
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH: SỰ TIẾP CẬN TỪ
GÓC ĐỘ TỰ DO HÓA
TS. NGUYỄN MINH PHONG
I. Quan hệ giữa khủng hoảng kinh tế chu kỳ và khủng hoảng tài chính
1. Nhìn suốt quá trình lịch sử triển kinh tế dễ nhận thấy xu hướng rút ngắn lại khoảng
cách giữa các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ TBCN thế giới. Từ trung bình 10 năm ở
thế kỷ XIX, 8 năm cho nửa đầu thế kỷ XX (1900 – 1901; 1907 – 1908; 1920 – 1921;
1929 – 1933; 1937 – 1937), khoảng cách từ 6 – 5 năm cho thời kỳ chiến tranh lạnh (1948
– 1949; 1953 – 1954; 1957 – 1958; 1960 – 1961; 1967 – 1968; 1974 – 1975; 1979 –
1982), và chỉ còn 3 năm kể từ khi kết thúc chiến tranh lạnh đến nay (1991 – 1993; 1997 –
1999 và 2008 – 2009). Ngoài ra, trong sự vận động của chu kỳ, ranh giới và khoảng cách
giữa các giai đoạn cũng mờ dần, khó xác định hơn không chỉ giữa giai đoạn tiêu điều và
giai đoạn phục hồi trong một chu kỳ, mà còn ngay cả giữa giai đoạn hưng thịnh của chu
kỳ sau so với giai đoạn trì trệ của chu kỳ trước. Đây là một đặc trưng nổi bật của chu kỳ
TBCN hiện đại khá phổ biến ở các quốc gia và được lý giải bởi những nguyên do sau:
- Sự phát triển nhanh chóng của cách mạng KH – KT đã rút ngắn thời gian ra đời các
phát minh cải tiến công nghệ mới và cả thời gian ứng dụng chúng vào thực tiễn sản xuất
– kinh doanh. Nếu trước thế chiến hai, thời gian đưa một phát minh hay ý tưởng khoa học
– công nghệ vào sản xuất đòi hỏi 30 – 40 năm, những năm sau thế chiến thứ hai là 20 –
15 năm, thập kỷ 70 – 80 là 7 – 10 năm, thì ở thập kỷ 90 chỉ còn một vài năm, thậm chí
một vài tháng.
- Nền kinh tế tri thức và toàn cầu hoá cho phép kinh doanh ngày càng đa dạng hơn về các
sản phẩm (gắn liền với dịch vụ và tiêu dùng tri thức, tinh thần…), chúng có nhu cầu lớn,
phạm vi rộng và biến đổi nhanh hơn những nhu cầu hàng hoá tiêu dùng vật chất cổ điển
vừa kém đa dạng, vừa bị giới hạn cả bởi đặc điểm của nhu cầu tiêu dùng vật chất cá nhân
và bởi thị trường chưa được toàn cầu hoá trước đây.
- Trong khi đó, khả năng cung cấp của các doanh nghiệp và nền sản xuất xã hội nói
chung cũng tăng nhanh do sự tăng nhanh các tiềm lực kinh tế được tích luỹ qua nhiều thế
hệ, do sự phát triển của thị trường vốn, của công nghệ ngân hàng, thị trường thông tin và
hệ thống giao thông vận tải cùng các phương thức giao nhận – thanh toán hiện đại khác
phát triển tích cực từ sự dồn tụ tư bản quốc tế, tháo chạy từ các nước châu Á. Nhưng
trong cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay thì nước Mỹ đã đánh mất cơ hội này, trở thành
nền kinh tế có tỷ lệ nợ trên đầu người vào hàng đầu thế giới…
3. Đặc biệt, bối cảnh tự do hóa đã tô đậm hơn bao giờ hết xu hướng ngày càng có sự gắn
kết chặt chẽ và tác động qua lại nhạy cảm và trực tiếp hơn giữa khủng hoảng kinh tế chu
kỳ và khủng hoảng tài chính – tiền tệ.
Do khủng hoảng cơ cấu ngày càng xảy ra nhiều và trên phạm vi rộng trong tất cả các lĩnh
vực của đời sống kinh tế, từ sản xuất đến lưu thông… Vì vậy, trong những thập kỷ cuối
của thế kỷ XX, chúng đã có tác động mạnh đến động thái chu kỳ so với trước đó, nhất là
những cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ. Cơ chế vận động của chu kỳ TBCN vì vậy
cũng đang có nhiều điểm khác trước. Do sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế dịch vụ,
mà trong đó, chiếm tỷ trọng đáng kể là các dịch vụ tài chính – ngân hàng và thị trường
vốn, do toàn cầu hoá các công nghệ giao dịch và thương mại quốc tế, do sự tự do hoá,
thương mại hoá và tư nhân hoá các hoạt động kinh doanh – đầu tư theo cơ chế thị trường
mở (kể cả mua, bán nợ), và cũng như do sự thừa nhận và gia tăng ráo riết các hoạt động
đầu cơ trên thị trường tài chính – tiền tệ… tất thảy những điều đó đã khiến các thị trường
tài chính ngày càng đóng vai trò động lực, trái tim và tấm gương hội tụ, phản chiếu toàn
bộ nhạy cảm, trực tiếp và tập trung nhất đời sống kinh tế vĩ mô cũng như vi mô, quốc gia
cũng như quốc tế.
Hơn nữa, trong nền kinh tế hiện đại ngày càng xuất hiện cái gọi là “hiệu ứng của cải”. Có
tới 38% tài sản các hộ gia đình và 56% các quỹ trợ cấp trong các nước TBCN chủ yếu
được đầu tư vào các thị trường chứng khoán. Giá trị tài sản gia đình và doanh nghiệp
ngày càng được đo lường trên thị trường chứng khoán, nơi mà giá trị “thực” và “ảo”
thường ít khi gặp gỡ nhau… Khi thị trường thuận lợi (thậm chí do tâm lý “bầy đàn” và do
cả đầu cơ…), các doanh nghiệp và cả những người nắm giữ cổ phiếu này cứ nghĩ mình
đã giàu có, nên mở rộng chi tiêu hơn… góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh,
thậm chí nóng. Nhưng nếu vì một lý do nhạy cảm nào đó, thậm chí từ yếu tố phi kinh tế,
thị trường chứng khoán suy giảm, tâm lý chi tiêu và kinh doanh của cổ đông sẽ đảo
ngược, góp phần tạo sự suy thoái nhanh và gay gắt hơn các lý do và cơ sở kinh tế thực tế.
Với những quan hệ dây chuyền phức tạp, một sự đổ vỡ thậm chí từ thị trường của nước
quốc tế trì trệ. Nhập khẩu co lại, còn xuất khẩu cũng không tăng do suy giảm khả năng
thanh toán của các bên liên quan. Giá cả sụt giảm chung theo kiểu bắc cầu; sản xuất suy
giảm, thất nghiệp gia tăng. Khủng hoảng kinh tế thực sự nổ ra và sức phá hoại của nó
nhiều khi vượt quá cái giá phải trả cần thiết cho những sai lầm thị trường ban đầu. Có thể
khẳng định rằng, chính bản thân hệ thống tài chính quốc tế đã cấu thành nên bộ phận chủ
yếu nhen nhóm và truyền dẫn những xung lực của khủng hoảng với gia tốc cực nhanh
mang tính phá hoại ghê gớm nhất trên quy mô toàn cầu. Nói cụ thể hơn, chính sự phát
triển vô hạn độ khả năng tích tụ, dồn nén, vận chuyển những năng lực tài chính toàn cầu
cho các hoạt động đầu tư kinh doanh quốc gia và quốc tế, trong khi thiếu một cơ chế
quốc tế giám sát an toàn cần thiết cho những hoạt động này, còn nhu cầu thị trường vô
cùng linh hoạt, vòng đời sản phẩm rút ngắn hơn và thông tin thị trường chưa được coi
trọng phát triển đúng mức, đồng thời chế độ tỷ giá giữa các nước vừa có sự khác biệt
nhau, vừa thiếu “chuẩn” điều chỉnh… đã, đang và sẽ ngày càng trở thành đầu mối của
những chấn động kinh tế trong xã hội hiện đại và tương lai.
4. Không những vậy, còn một điểm mới đáng chú ý khác nữa trong cơ chế hình thành và
truyền dẫn khủng hoảng kinh tế chu kỳ TBCN hiện đại là: thay vì “sóng xung kích” của
khủng hoảng xuất phát từ các nước trung tâm như mô hình cổ điển trước đây, ngày nay,
khủng hoảng có thể khởi phát và lan truyền từ các nước ngoại vi – mắt xích yếu nhất
trong cơ chế cạnh tranh và kiểm soát thị trường. Quá trình này chia làm 2 giai đoạn. Ỏ