NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN VỚI PHÁT
HUY CÁC NGUỒN LỰC ĐỂ PHÁT TRIỂN
TRẦN QUANG NHIẾP
1 – Sự cần thiết của nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta
Một trong những thành tựu lớn nhất của gần 18 năm đổi mới ở nước ta là đổi mới kinh
tế, tạo nên những tiềm lực mới cho sự phát triển của đất nước.
Có được thành tựu ấy là do nhiều nguyên nhân, trong đó đổi mới tư duy kinh tế, thực
hiện nền kinh tế nhiều thành phần, gắn với thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là
cơ bản nhất.
Một thời chưa xa, chúng ta lúng túng trong nền kinh tế chỉ thừa nhận hai thành phần là
quốc doanh và tập thể. Và không ít người cho rằng, chỉ có như vậy mới thực sự là xã hội
chủ nghĩa.(!)
Chúng ta không phê phán một cách phi lịch sử, nhưng quan trọng là đã nhận ra những lẽ
cần thiết của sự tồn tại hai thành phần kinh tế đó và những hạn chế làm kìm hãm sự phát
triển của đất nước khi thực hiện nền kinh tế chỉ có hai thành phần như vậy để từ đó tìm ra
cách làm ăn mới phù hợp với quy luật phát triển.
Từ Đại hội VI (1986), Đảng ta đề ra đường lối đổi mới toàn diện trong đó có đổi mới
kinh tế, phát triển các thành phần kinh tế với nhiều hình thức rất phong phú, đa dạng và
sáng tạo. Nhờ đó, chỉ sau hơn 10 năm, vẫn những con người ấy, cũng những điều kiện tự
nhiên ấy, từ một đất nước thiếu ăn quanh năm, trông chờ chủ yếu vào sự viện trợ từ bên
ngoài; hàng tiêu dùng khan hiếm, người lao động không có việc làm… đã trở thành một
đất nước không những đủ ăn, mà còn có lương thực, thực phẩm dự trữ và đến nay xuất
khẩu gạo đứng hàng thứ hai thế giới; nhu cầu tiêu dùng trong nước được thỏa mãn về
nhiều mặt, kết cấu hạ tầng phát triển, nền kinh tế – xã hội sôi động, đất nước không
ngừng phát triển. Chính nhờ đổi mới cơ chế, chính sách nhằm không ngừng phát triển các
thành phần kinh tế, các tiềm năng của xã hội được khai thác, nội lực được phát huy, sức
mạnh của bên ngoài được huy động.
Chính sách đối với phát triển các thành phần kinh tế là một bộ phận trong chiến lược phát
triển kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Từ chỗ không thừa nhận kinh tế tư nhân
đến chỗ thừa nhận nó; từ chỗ thừa nhận kinh doanh nhỏ ở một số ngành nghề, đến chỗ
không hạn chế về quy mô và lĩnh vực mà luật pháp không cấm. Từ chỗ cho làm, đến chỗ
lành mạnh góp phần phát triển vững mạnh nền kinh tế nước ta trong điều kiện thực hiện
chính sách mở cửa, hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới.
2 – Phát huy sức mạnh các thành phần kinh tế
Kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, các tài
nguyên quốc gia và các tài sản sở hữu nhà nước như hầm mỏ, đất đai, rừng, biển, ngân
sách, các quỹ dự trữ ngân hàng nhà nước, hệ thống bảo hiểm, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã
hội, phần vốn nhà nước góp vào các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác…
Đại hội VIII của Đảng, chỉ rõ, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước thể hiện ở "làm đòn
bẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội, mở đường, hướng dẫn,
hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, làm lực lượng vật chất để Nhà nước
thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô, tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới".
Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh, kinh tế nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng và là
công cụ để nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Doanh nghiệp nhà nước
giữ vị trí then chốt, đi đầu ứng dụng khoa học và công nghệ, nêu gương về năng suất,
chất lượng, hiệu quả và chấp hành pháp luật.
Sản xuất hàng hóa càng phát triển, sự cạnh tranh càng gay gắt thì những người lao động
riêng rẽ, các hộ cá thể, các doanh nghiệp nhỏ và vừa càng có yêu cầu phải liên kết, hợp
tác với nhau để tồn tại và phát triển. Vì thế, phát triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã là con
đường để giải quyết mâu thuẫn giữa sản xuất nhỏ manh mún với sản xuất hàng hóa lớn,
đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế.
Kinh tế hợp tác là hình thức kinh tế mang tính tập thể, xã hội hóa, là nhân tố quan trọng
để xây dựng đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Nó giáo dục ý thức cộng đồng, tinh thần hợp tác hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành
viên xã hội, giữa các thành phần kinh tế để sản xuất, kinh doanh đúng pháp luật.
Hợp tác xã kiểu mới đã khắc phục những hạn chế của hợp tác xã kiểu cũ. Nó do các
thành viên bao gồm cả thể nhân và pháp nhân (người lao động, hộ gia đình, trang trại,
doanh nghiệp vừa và nhỏ…), cả người ít vốn và người nhiều vốn, người góp sức hoặc
góp vốn xây dựng nên, trên cơ sở tự nguyện, tôn trọng các nguyên tắc, bình đẳng, cùng
có lợi và quản lý dân chủ. Hợp tác xã không tập thể hóa mọi tư liệu sản xuất của các
thành viên mà dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể. Tổ chức và hoạt
gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất và hưởng thụ các thành quả tăng trưởng nền kinh
tế. Kinh tế cá thể, tiểu chủ góp phần tích cực xóa đói giảm nghèo, nâng cao mặt bằng
kinh tế – xã hội, cải thiện đáng kể bộ phận đông đảo dân cư ở thành thị và nông thôn.
Kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế mà sản xuất, kinh doanh dựa trên cơ sở
chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ở nước ta, thành phần kinh tế này có vai trò
quan trọng xét về phương diện phát triển lực lượng sản xuất, về phát triển nền sản xuất
hàng hóa, về giải quyết các vấn đề xã hội. Đại hội VIII của Đảng khẳng định: "Kinh tế tư
bản tư nhân có khả năng góp phần xây dựng đất nước. Khuyến khích kinh tế tư nhân đầu
tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài; bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo
điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có
lợi cho quốc kế dân sinh". Văn kiện Đại hội IX của Đảng cũng khẳng định rõ hơn vai trò
vị trí của kinh tế tư bản tư nhân và Nghị quyết Trung ương 5, khóa IX, xác định: "Kinh tế
tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư
nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển