1. CÁC PHƯƠNG THỨC HÔ HẤP NHÂN TẠO
1. Các thể tích và dung tích thở :
Thể tích khí lưu thông
ký hiệu là TV (
Tidal Volume
) là thể tích của một lần hít vào hoặc
thở ra bình thường. Ở người trưởng thành bình thường, thể tích khí lưu thông khoảng
0,5lít, bằng 12% dung tích sống.
Thể tích khí dự trữ hít vào
ký hiệu IRV (
Inspiratory Reserve Volume
) là thể tích khí hít
vào thêm được tối đa sau khi hít vào bình thường. Thể tích này ở người bình thường
khoảng 1,5 – 2lít, chiếm khoảng 56% dung tích sống.
Thể tích khí dự trữ thở ra
ký hiệu ERV (
Expiratory Reserve Volume
) là thể tích khí thở
ra tối đa thêm được sau khi thở ra bình thường. Ở người bình thường thể tích này
khoảng 1,1 – 1,5lít, chiếm 32% dung tích sống.
Thể tích khí cặn
ký hiệu RV (
Residual Volume
) là thể tích khí còn lại trong phổi sau khi
đã thở ra tối đa. Bình thường thể tích khí cặn khoảng 1 – 1,2lít.
Dung tích là tổng của hai hay nhiều thể tích. Ký hiệu dung tích là C (
Capacity
)
Dung tích sống
ký hiệu VC (
Vital Capacity
Intemlittent Positive Pressure Vention
) là phương thức hô hấp nhân
tạo cần được tiến hành ngay sau khi có chỉ định máy thở. Đó là phương thức thông
dụng nhất và đáp ứng được những trường hợp bệnh nhân đang trong cơn nguy kịch.
Sau đó mới tính toán đến việc sử dụng các phương thức khác thích hợp hơn.
[Only registered and activated users can see links. ]
Phương thức thông khí nhân tạo điều khiển là bắt buộc người bệnh thở theo máy. Máy
sẽ đẩy những áp lực không đổi, đều đặn vào cho bệnh nhân với tần số, lưu lượng đã
được đặt từ trước.
3. Thông khí nhân tạo với áp lực dương ngắt quãng IPPB (
Intermittent Positive
Pressure Breathing
)
Hô hấp áp lực với áp lực dương ngắt quãng (
Intermittent Positive Pressure Breathing
–
IPPB) khi sử dụng dài ngày còn được gọi là thông khí nhân tạo với áp lực dương ngắt
quãng viết tắt là IPPV (
Intemlittent Positive Pressure Ventilation
–
Pression Positive
Intermittent
) được thực hiện với một máy hô hấp nhân tạo trên bệnh nhân đã được đặt
ống nội khí quản hoặc mở nội khí quản (đôi khi qua mặt nạ)
Máy đẩy vào phổi bệnh nhân một thể tích khí với một tần số nhất định, một áp lực đẩy
vào luôn luôn dương tính, còn thì thở ra thụ động, áp lực đường dẫn khí lúc này trở về
số 0.
Phương thức hô hấp này sử dụng nhiều nhất trong hồi sức cấp cứu. Do có nhiều khả
năng khác nhau về điều chỉnh thông số, phương thức này có thể đảm bảo một sự thông
khí đúng đắn trong đa số các trường hợp.
Tăng áp lực trong lồng ngực làm giảm các áp lực chứa trong buồng tim vì làm giảm
tuần hoàn trở về. Có thể đo áp lực trong lồng ngực bằng áp lực màng phổi hay bằng áp
lực trong thực quản. Áp lực này chịu ảnh hưởng trực tiếp của áp lực phế nang và thấp
hơn áp lực phế nang. Song với phổi có độ dãn nở giảm như trong ARDS (hội chứng suy
hô hấp cấp ở người lớn), sự tăng áp lực trong lồng ngực rất nhỏ so với tăng áp lực phế
nang. Với PEEP bằng 5 – 20 cmH2O theo Kuman và Herman, áp lực lồng ngực chỉ bằng
20% áp lực phế nang và ảnh hưởng rất ít tới cung lượng tim.
Áp lực phế nang quá cao, trên 20cmH2O sẽ chèn ép các mạch phổi gây gián đoạn tuần
hoàn phổi ở những vùng có tỷ lệ VA/Q (thông khí/tới máu) cao và ảnh hưởng tới áp lực
chứa của buồng tim trái.
5. Thông khí tự nhiên với áp lực dương liên tục CPAP (
Continuous Positive Airway
Pressure
)
Thông khí tự nhiên với áp lực dương liên tục CPAP (
Continuous Positive Airway
Pressure
) là một phương pháp thông khí tự nhiên với PEEP. Phương pháp này đã được
Gregory dùng cho trẻ sơ sinh bị bệnh màng trong. Hiện nay tác giả đã dùng trong hội
chứng suy hô hấp cấp ở người lớn (ARDS).
CPAP được sử dụng để tránh những rối loạn huyết động gây ra do phương thức IPPV
và làm cho chịu được độ PEEP cao hơn. Bệnh nhân thở vào tự nhiên nhưng áp lực thì
thở vào thấp hơn IPPV mà không xuống quá 0 (vẫn +) vì có áp lực (+) của PEEP.
Với CPAP, bệnh nhân thở tự nhiên trên cơ sở áp lực dương liên tục PEEP, mức
Sensitivity đưa bệnh nhân dần về thở tự nhiên để cai hẳn máy. Có thể hiểu là trước mũi
bệnh nhân luôn luôn có một luồng khí áp lực dương để khí nhanh chóng chảy vào phổi.
CPAP dùng cho bệnh nhân bắt đầu tự thở và do thở máy lâu ngày có nguy cơ xẹp phổi
mức PEEP thường là 5cmH2O.
6. Thông khí điều khiển ngắt quãng IMV (
Intermittent Mandatory Ventilation
Đa số máy SIMV có thêm bộ phận thiết lập một nhịp thở bắt buộc nếu bệnh nhân chậm
khởi động một nhịp thở tự nhiên đúng thời điểm phải có SIMV. Nhịp thở của máy lúc đó
là IMV. Giống như IMV, SIMV giúp cho việc cai thở máy vì bệnh nhân được thở tự nhiên
trong phần lớn đoạn thời gian thực hiện thể tích/phút. Tần số thở SIMV sẽ được giảm
dần để chuyển thành thở tự nhiên.
SIMV có thể là thông khí thể tích hoặc là áp lực. Nếu bệnh nhân không gắng sức được
thì máy sẽ tự động chuyển sang chế độ điều khiển. Sử dụng SIMV thể tích cần có các
thông số VT, cung lượng dòng khí, +/- thời gian thở vào, tần số hô hấp điều khiển và
độ nhạy. Nếu máy là hô hấp nhân tạo áp lực thì cần có mức độ áp lực và thời gian thở
vào.
Máy giúp cho bệnh nhân tự thở dễ hơn và sự hỗ trợ áp lực làm cho bệnh nhân dễ cai
máy hơn bệnh nhân chuyển dần về hô hấp tự nhiên.
Tuy nhiên SIMV cũng có những nhược điểm như IMV và A/C :
- Tăng thông khí và kiềm hô hấp.
- Nếu máy đáp ứng chậm hoặc không đủ áp lực thì bệnh nhân phải gắng sức nhiều hơn.
- Nếu có auto – PEEP thì bệnh càng nặng hơn.
8. Thông khí với hỗ trợ áp lực PSV (
Pressure Support Ventilation
)
PSV là thông khí giới hạn áp lực dòng khí, trong đó bệnh nhân tự tạo nên nhịp thở cho
máy. PSV có lợi điểm là vừa để TKNT dài ngày vừa để cai thở máy. TKNT dài ngày mang
tính chất hỗ trợ nên bộ máy điều khiển hô hấp phải bình thường (bệnh nhân phải thở
được dù thở yếu)
Ở thì thở vào, áp lực dương lên ngay đến một cao nguyên và kéo dài cho đến hết thì
thở vào. Cả bệnh nhân và máy đều hợp tác để có cao nguyên đó. PS là một thí dụ điển
hình của khái niệm giới hạn dòng chảy : thì thở vào kết thúc khi dòng chảy giảm nghĩa
là khi bệnh nhân thôi không nỗ lực hít vào. còn trong A/C áp lực, thời kỳ thở vào kết
thúc bằng một đồng hồ định giờ timer. PSV sử dụng các thông số sau : mức độ áp lực
và độ nhạy. Đa số các máy hô hấp nhân tạo (HHNT) hiện đại đều có thêm hệ thống
phục hồi TKNT điều khiển giới hạn thể tích.
mô phỏng sự thở dài ở chế độ thở tự nhiên làm cho bệnh nhân khoan khoái, kích thích
sự tự thở của bệnh nhân.