Tài liệu Nhận diện tư duy doc - Pdf 92

Nhận diện tư duy
Bài từ Tủ sách Khoa học VLOS.

Mục lục
[giấu]

1 Sự cần thiết của nhận diện tư duy

2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự nhận diện tư duy

3 Đánh giá hoạt động thần kinh và nhận diện tư duy
o
3.1 Năng lực nhận thức.
o
3.2 Năng lực hành vi.
o
3.3 Năng lực tư duy.
Sự cần thiết của nhận diện tư duy
Trong thực tiễn hoạt động của con người, có nhiều vấn đề nếu chỉ giải quyết theo những
cách đã biết sẽ không đem lại hiệu quả hoặc trong một hoàn cảnh mới, những cách giải
quyết đó có thể dẫn đến thất bại. Để tránh những điều này, yêu cầu đặt ra là phải tìm
những cách làm mới, tìm những con đường đi mới bằng hoạt động tư duy của bộ não.
Vấn đề hiện nay thường được nêu ra trước tiên là hô hào đổi mới tư duy và phát huy tư
duy sáng tạo. Nhưng những người hô hào đổi mới tư duy, thậm trí còn kêu gọi phải có
những cuộc nổi dậy của tư duy, lại không hề cho biết phải đổi mới cái gì, đổi mới như thế
nào, cái tư duy mới đó là gì. Đây là một điều kỳ lạ bởi không thể thay đổi được cái mà
không biết đó là gì và thay đổi đó sẽ dẫn đến đâu. Vì vậy dù có hô hào mạnh mẽ đến đâu
thì cũng chẳng có sự thay đổi nào.
Bài Tư duy là gì nêu những nét khái quát về tư duy, bài viết này nêu một vài nét chính về
một số dạng tư duy. Đây là một lĩnh vực lớn cho nên chỉ với một vài trang viết sẽ không
thể chuyển tải hết được. Bạn đọc cố gắng tìm hiểu.

khi so sánh sự làm việc của bộ não với sự làm việc của máy tính điện tử. Máy tính điện tử
có thể sản xuất hàng loạt còn hệ thần kinh là không thể. Vì vậy việc nhận diện tư duy
không thể là hàng loạt.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự nhận diện
tư duy
Nghiên cứu về hoạt động của bộ não giống như việc khám phá các bí ẩn trong một cái
hang hẹp và sâu, không có ai có thể chui vào đó được. Có hai hướng nghiên cứu tiếp cận
tới hoạt động của bộ não: nghiên cứu cấu trúc giải phẫu kết hợp với sử dụng các thiết bị
quan sát bộ não đang hoạt động ( chụp cắt lớp, cộng hưởng từ, điện não đồ...) và quan sát
các hành vi. Hướng thứ nhất giống như việc đưa camera vào hang để quan sát, cách này
có thể giúp cho việc nhìn thấy mọi thứ trong hang nhưng lại không biết cụ thể đó là gì.
Điều này giống như việc nhìn thấy chất lỏng trong hang nhưng không biết đó là nước hay
dầu. Còn việc quan sát các hành vi giống như việc nghe các âm thanh , ngửi các mùi bay
ra từ trong hang để phán đoán về các vật hoặc các chất có thể có trong hang nhưng không
cho biết hình dạng, trạng thái nguồn gốc của chúng. Hướng thứ nhất có yêu cầu chi phí
lớn và không phải ai, không phải lúc nào cũng thực hiện được. Hướng thứ hai có yêu cầu
về thời gian nhưng chi phí không cao và dễ thực hiện, ai cũng có thể làm được. Freud và
người viết bài này thực hiện theo hướng thứ hai. Freud quan sát để tìm ra bệnh và các dấu
hiệu bệnh lý của bộ não, còn tác giả bài viết đi tìm những cái bình thường mà hệ thần
kinh thực hiện hàng ngày. Trên thực tế đây cũng là hai hướng tiếp cận. Trong thực tế hoạt
động của não bộ, chỉ trừ những trường hợp có những tổn thương hoặc khuyết tật trong
não bộ tạo nên ranh giới rõ ràng trong hoạt động thần kinh, còn lại thì ranh giới này
không rõ ràng mặc dù hoạt động thần kinh có những khác biệt rõ rệt. Ranh giới không rõ
ràng thể hiện qua những điểm giống nhau trong hoạt động thần kinh giữa các cá thể và
giữa các loại hình hoạt động thần kinh. Ranh giới không rõ ràng cũng gây khó khăn cho
nhận diện tư duy. Sự tiếp cận trên nhiều hướng và kết hợp các kết quả khám phá của từng
hướng là sự kết hợp đúng và tất yếu. Cũng xin nêu thêm một ví dụ về hướng tiếp cận thứ
hai nhưng sử dụng thiết bị để quan sát, đó là sử dụng hệ thống thiết bị phát hiện nói dối.
Hệ thống thiết bị này không trực tiếp phát hiện được các biểu hiện nói dối trong não mà
quan sát sự biến đổi trạng thái cơ thể để phát hiện đối tượng đang nói dối hay không. Hệ

cũng phải học để sử dụng được các ngôn ngữ đó. Với một mức độ nào đó, các loài vật
này cũng đã có biểu hiện hoạt động cao cấp của hệ thần kinh. Bộ não không chỉ dùng
tiếng nói để tư duy, mà còn dùng các hình tượng để tư duy
Cũng không nên coi nhận thức là một bộ phận của ý thức hoặc hoà nhập nhận thức vào ý
thức. Trong thực tế ý thức chỉ là giai đoạn tiếp theo sau giai đoạn nhận thức trong hoạt
động của hệ thần kinh.
Hoạt động cao cấp của hệ thần kinh phụ thuộc rất nhiều yếu tố như di truyền, điều kiện
thổ nhưỡng, khí hậu, khu vực địa lý, sự phát triển kinh tế, khoa học, xã hội, môi trường
văn hoá giáo dục, giới tính, v.v…Hệ thống di truyền có thể tạo cho hệ thần kinh một
phương thức, một xu hướng hoạt động thần kinh, nhưng chúng có thể bị biến đổi do cơ
chế sinh sản hữu tính. Điều kiện thổ nhưỡng liên quan đến chế độ dinh dưỡng nói chung
và việc cung cấp các nguyên tố vi lượng có tác động đến hoạt động thần kinh nói riêng.
Yếu tố di truyền và điều kiện thổ nhưỡng có ảnh hưởng đến từng cá nhân. Điều kiện khí
hậu có ảnh hưởng đến từng cộng đồng và trong từng gia đoạn, từng thời tiết khi nó tạo ra
hưng phấn hay làm trì trệ hoạt động thần kinh. Khu vực địa lý nói chung bao gồm nhiều
yếu tố như khi hậu, thổ nhưỡng, nhưng trong trường hợp này vai trò của yếu tố địa lý
được xem xét như một yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tiến hoá của hệ thần kinh. Sự tiến
hoá theo yếu tố địa lý thể hiện ở cách tiếp nhận và xử lý thông tin của hệ thần kinh và thể
hiện rõ trong sự khác nhau giữa người Châu Âu và người Châu Á. Người Châu Âu
thường tiếp nhận và xử lý thông tin về từng đối tượng và đi sâu về đối tượng đó, người
Châu Á thường tiếp nhận và xử lý đồng thời nhiều đối tượng nhưng không đi sâu về từng
đối tượng. Điều này có thể thấy rõ qua các tác phẩm hội hoạ hay công trình kiến trúc.
Người Châu Âu mô tả kỹ càng từng đối tượng, nêu được nhiều nhất có thể các chi tiết,
các bộ phận của đối tượng trong các bức tranh hay tác phẩm điêu khắc, các công trình
kiến trúc rất đồ sộ với đầy đủ công năng, còn người Châu Á không làm điều này mà chỉ
nêu những cái đặc trưng, các bức hoạ thể hiện những nét khái quát, không miêu tả chi tiết
nhưng lại đưa nhiều yếu tố hư cấu. Các yếu tố hư cấu ( như hình tượng rồng ) thể hiện sự
chú ý của người Châu Á đến các mối mối liên hệ giữa các đối tượng khác nhau, còn
người Châu Âu lại chú ý đến sự liên kết giữa các chi tiết, các yếu tố của cùng đối tượng (
phản ánh tính thực tế của đối tượng). ( Một lưu ý khi nghiên cứu về phong cách tư duy

nhân dẫn đến xu hướng ghi nhớ hướng đối tượng. Hai chế độ dinh dưỡng khác nhau
trong qúa trình tiến hoá và phát triển giữa Châu Á và Châu Âu đã hình thành nên hai
chiều hướng, hai phong cách tư duy phương Đông và phương Tây, thực đơn của người
Châu Á là đa dạng nhưng có nguồn gốc chủ yếu từ thực vật, còn thực đơn của người
Châu Âu đơn giản hơn nhưng hàm lượng prôtêin cao. Yếu tố giới tính có tác động tới
hoạt động của hệ thần kinh thể hiện qua sự hình thành chức năng của từng giới. Chức
năng của giới nữ là trực tiếp duy trì sự tồn tại của giống nòi. Chức năng này yêu cầu giới
nữ cần có sự nhanh nhạy trong việc nhận biết mọi sự thay đổi của môi trường sống và sự
xuất hiện của các đối tượng có thể đe doạ đến sự tồn tại để thực hiện việc phòng tránh thụ
động ( trốn tránh). Chức năng này đã đem đến cho giới nữ sự phát triển mạnh các cơ
quan cảm giác hơn giới nam, làm cho chúng trở nên thính nhạy và các kích thích thần
kinh do chúng tạo ra mạnh hơn. Yếu tố này của các cơ quan cảm giác dẫn đến sự ghi nhớ
đồng thời nhiều yếu tố, nhiều đối tượng, mối liên kết giữa các phần tử ghi nhớ cũng được
tạo ra khiến cho việc ghi nhớ gần giống như sự chụp ảnh. Điều này lý giải tại sao giới nữ
có khả năng mô tả lại những sự kiện đã xảy ra rõ ràng hơn giới nam, sự phát triển khả
năng sử dụng ngôn ngữ diễn ra cũng sớm hơn nhưng khả năng tưởng tượng lại kém hơn
bởi sự liên kết thần kinh bền vững đã không cho phép hệ thần kinh tạo ra các liên kết mới
giữa các điểm ghi nhớ về các đối tượng khác nhau. Giới nam có chức năng phát triển nòi
giống. Chức năng này có yêu cầu về sự phát triển thể lực để đảm nhiệm khả năng sinh
nhiều con và bảo vệ lãnh thổ để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng. Yêu cầu phát triển thể lực
làm nảy sinh khả năng hấp thụ và nhu cầu cao về prôtêin, giới nam phải sử dụng khối
lượng thức ăn lớn. Để có thể lấp đầy cái dạ dày, giới nam không thể kén chọn loại thức
ăn. Sự gia tăng khả năng hấp thụ prôtêin và sự phong phú về chúng loại thức ăn đã thúc
đẩy sự phát triển của bộ não và tính đa dạng về thành phần dinh dưỡng. Điều này giúp
cho bộ não của giới nam ghi nhớ được nhiều hơn. Mặt khác, do có thể lực nên giới nam
có thể đương đầu với nguy hiểm và khó khăn nên hoạt động thần kinh của giới nam
thường hướng sự chú ý vào một hoặc một số hạn chế các đối tượng, sự chú ý này làm
tăng năng lực hoạt động của hệ thụ cảm thị giác, vì vậy sự ghi nhớ về hình khối và sự vận
động nhiều hơn và do đó khả năng tưởng tượng của giới nam về không gian tốt hơn giới
nữ. Nữ giới có cảm nhận về thính giác tốt hơn nên khả năng sử dụng lời nói của nữ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status