Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu.
Sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (Tháng 12/1986), cơ cấu nền kinh tế
nớc ta từng bớc chuyển sang nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ
nghĩa. Trong khi đó, khu vực kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền
kinh tế nhng lại hoạt động kém hiệu quả đã kìm hãm sự phát triển nền kinh tế đất
nớc.
Trong cơ chế quản lý mới, hiệu quả sản xuất kinh doanh trở thành yếu tố
sống còn của các doanh nghiệp Nhà nớc thì các doanh nghiệp lại lâm vào tình
trạng khủng hoảng. Biểu hiện rõ nhất là thiếu vốn và phơng thức quản lý vốn kém
hiệu quả. Để thoát khỏi sự khủng hoảng và tồn tại trong môi trờng cạnh tranh với
các thành phần kinh tế khác doanh nghiệp nhà nớc buộc phải thay đổi phơng thức
quản lý vốn và tạo vốn trên cơ sở phát huy tối đa hiệu quả nguồn vốn huy động đ-
ợc
Việc giải quyết hai vấn đề trên thực chất là để tìm ra một mô hình tổ chức
doanh nghiệp khác có khả năng thu hút vốn và quản lý vốn thích hợp với cơ chế
thị trờng.
Công ty cổ phần là mô hình doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu về tạo vốn và
quản lý vốn hiệu quả trong cơ chế thị trờng. Đảng và nhà nớc ta hết sức chú trọng
mô hình này, coi đó là biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của các doanh Nghiệp
nhà nớc hiện nay.
Để thực hiện chủ trơng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc, Chính phủ và các
bộ, ngành hữu quan đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để hớng dẫn và chỉ đạo
việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc, qua đó từng bớc xây dựng hoàn chỉnh một
khung pháp luật về vấn đề này.
Tuy đã đạt đợc những kết quả đáng khích lệ nhng đến nay tốc độ triển khai
cổ phần hoá vẫn rất chậm là do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong bài khoá
luận này, em xin đề cập đến những vấn đề về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc
và đề xuất một số giải pháp để đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thực hiện những nhiệm vụ nhà nớc giao vì lợi ích của toàn xã hội. Do đó, doanh
nghiệp nhà nớc không chỉ bao gồm các tổ chức kinh tế làm nhiệm vụ kinh doanh
thu lợi nhuận mà còn bao gồm các tổ chức làm nhiệm vụ công ích.
Những đề xuất trên, ta có thể thấy rằng vấn đề đầu t vốn của nhà nớc vào các
donh nghiệp nhà nớc cũng cần phải xem xét. Vấn đề này làm xuất hiện những ý
kiến cho rằng:
Thứ nhất: có cần thiết phải đầu t 100% vốn vào các doanh nghiệp nhà nớc
hay không? vì trong điều kiện nền kinh tế nớc ta hiện nay nhà nớc rất khó khăn về
vốn, đặc biệt cho lĩnh vực đầu t phát triển nên không thể trải đều vốn ngân sách
cho tất cả các doanh nghiệp nhà nớc.
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Thứ hai: doanh nghiệp nhà nớc không chỉ có doanh nghiệp 100% vốn đầu t
của nhà nớc mà còn cả những doanh nghiệp có cổ phần chi phối của nhà nớc. ý
kiến này đựơc đa vào luật doanh nghiệp nhà nớc bởi khi tìm hiểu về tỷ trọng vốn
nhà nớc trong các doanh nghiêp nhà nớc trên thế giới thì cũng có ý kiến nh vậy.
ở nớc ta, ngân sách nhà nớc rất eo hẹp nên việc đầu t toàn bộ vốn sản xuất
kinh doanh cho tất cả các doanh nghiệp nhà nớc là không thể. Do đó, doanh
nghiệp nhà nớc cần phải huy động thêm vốn vào các thành phần nền kinh tế khác,
nhà nớc chỉ cần nắm cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt hay thậm chí không cần
đầu t vốn. Với mô hình công ty cổ phần nhà nớc vẫn có quyền quyết định hoạt
động của các doanh nghiệp có cổ phần chi phối hay cổ phần đặc biệt trong khi đó
vẫn thu hút vốn đầu t từ các thành phần kinh tế khác.
Nh vậy chúng ta có thể hình dung doanh nghiệp nhà nớc không chỉ có một
loại, hoạt động ở những lĩnh vực với những phạm vi và mục tiêu khác nhau. Để
nâng cao hoạt động của các donh nghiệp nhà nớc cũng nh để thiết lập cơ chế quản
lý phù hợp, chúng ta cần tìm hiểu thế nào là công ty cổ phần
2.Khái niệm về công ty cổ phần
Công ty cổ phần, về bản chất nó thể hiện là một đơn vị sản xuất kinh doanh
có t cách pháp nhân, chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản
suất cố định hàng năm không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công
ty cổ phần.
3.Vai trò của công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trờng.
Nền kinh tế hàng hoá phát triển đến giai đoạn cao tất yếu sẽ trở thành kinh tế
thị trờng-nền kinh tế mà trong đó, các vấn đề kinh tế cơ bản đợc quyết định chủ
yếu bằng quan hệ cung cầu trên thị trờng. Động lực phát triển của nền kinh tế thị
trờng là lợi ích cá nhân, thông qua lợi nhuận của ngời sản xuất và lợi ích của ngời
tiêu dùng.
Trong nền kinh tế thị trờng, cơ chế thị trờng vận động một cách tự phát và
các quan hệ thị trờng điều tiết mọi hành vi kinh tế, hiệu quả của nền kinh tế cũng
nh xu hớng phát triển của nó. Nền kinh tế thị trờng với đặc trng là sự cạnh tranh
khắc nghiệt đã buộc các nhà sản xuất phải luôn tìm cách tích tụ vốn nhằm tái sản
xuất cả về chiều rộng lẫn chiều sâu nếu muốn tránh nguy cơ phá sản và để đảm
bảo thị phần của mình trên thị trờng.
Mặt khác lực lợng sản xuất phát triển làm cho trình độ kĩ thuật sản xuất tăng
lên, quy mô sản xuất cũ không còn phù hợp trong điều kiện mới. Cùng với sự tác
động của quản lý cạnh tranh tự do để có thể sản xuất trong điều kiện bình thờng
đòi hỏi phải có một lợng t bản tối thiểu. Trong điều kiện sản xuất phát triển cạnh
tranh ngày càng gay gắt thì một nhà t bản bình thờng không đủ khả năng đáp ứng
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đủ về vốn cho kinh doanh. Để có thể khắc phục đợc điều này các nhà t bản vừa và
nhỏ phải thoả hiệp liên kết với nhau hình thành một sức mạnh về vốn nhằm đủ sức
cạnh tranh trên thị trờng. Hơn nữa để có thể nắm bắt nhanh chóng các cơ hội kinh
doanh, tối đa hoá lợi nhuận các nhà t bản hình thành nên công ty cổ phần nhằm
thu hút đợc nguồn vốn kinh doanh từ mọi thành phần trong xã hội.
Thuộc tính vốn có của nền sản xuất hàng hoá là rủi ro, mạo hiểm. Trong nền
kinh tế thị trờng sản xuất ngày càng phát triển, trình độ kĩ thuật công nghệ ngày
càng cao, quy mô sản xuất ngày càng rộng dẫn đến sự cạnh tranh khắc nghiệt thì
mức độ rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngày càng lớn. Công ty cổ phần là hình
nhờ thế mà hoạt động kinh doanh có hiệu quả
Khoảng cách giữa ngời lao động và t liệu sản xuất mà họ sử dụng là nguyên
nhân cơ bản dẫn đến tình trạng thờ ơ của ngời lao đông đối với tài sản của nhà nớc
trong doanh nghiệp nhà nớc, ở hầu hết các nớc làm cho khu vực hoạt động kém
hiệu quả. Công ty cổ phần là một dạng tổ chức có thể khắc phục đợc tình trạng
này vì thành viên của công ty có quyền sở hữu một phần tài sản của công ty tơng
ứng với phần vốn góp vào công ty. Do đó, trách nhiệm của ngời lao động đối với
các hoạt động của công ty sẽ cao hơn khi họ có cổ phần trong công ty vì họ phải
bảo toàn và phát triển vốn đầu t của họ. Kết quả hoạt động của công ty gắn liền
với lợi ích của họ.
Việc tách quyền sở hữu và quyền kinh doanh tạo cho nhà kinh doanh có
những quyền hạn và lợi ích nhất định để tự mình đa ra những phơng án sản xuất
kinh doanh năng động có hiệu quả nhất.
Hội đồng quản trị với t cách là bộ máy quản lý công ty và trực tiếp bầu ra
giám đốc nhng hội đồng quản trị không trực tiếp can thiệp vào các hoạt động sản
xuất kinh doanh cụ thể mà chỉ quyết định những vấn đề có tính chất chiến lợc lâu
dài còn giám đốc có quyền tự chủ lớn trong kinh doanh để nâng cao hiệu quả sử
dụng đồng vốn.
*Công ty cổ phần là một hình thức tổ chức kinh doanh có tính dân chủ cao.
Trong công ty cổ phần, số lợng các cổ đông thờng rất lớn; ít nhất cũng có 3
thành viên và nhiều nhất đến hàng triệu cổ đông. Cơ cấu tổ chức của công ty vừa
đảm bảo vai trò chủ sở hữu, vừa đảm bảo cho công ty cổ phần hoạt động hiệu quả.
công ty cổ phần có thể thu hút sự tham gia của số đông quần chúng nên nó trở
thành tổ chức kinh tế mang tính xã hội cao và thể hiện tính dân chủ trong quản lý
kinh tế. Xét về phơng diện cá nhân thì sự góp vốn của ngời lao động trong công ty
cổ phần có thể tạo cho họ tiếng nói nhất định đối với những hoạt động của công
ty.
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Hoạt động của công ty cổ phần mang tính công khai cao đặc biệt trớc toàn
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trong điều kiện các doanh nghiệp nhà nớc ta hiện nay đang đứng trớc những
thách thức to lớn, việc chuyển đổi một bộ phận doanh nghiệp nhà nớc thành công
ty cổ phần là vô cùng cấp bách nâng cao hiệu quả cạnh tranh, hiệu quả của khu
vực kinh tế Nhà nớc trong quá trình hội nhập.
4.Tổ chức hoạt động của công ty cổ phần
*Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp trong đó:
-Vốn điều lệ đợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần
-Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã
góp vào công ty.
-Cổ đông có quyền tự do chuyển nhợng cổ phần của mình cho ngời khác.
-Cổ đông có thể là tổ chức, các nhân, số lợng cổ đông ít nhất là ba và không
hạn chế số lợng tối đa.
-Hình thức công ty cổ phần : Là hình thức kinh doanh chung vốn nhng việc
huy động vốn không phải chủ yếu là qua vay mợn hoặc góp vốn trực tiếp của
nhiều ngời kinh doanh. Có thể nói hình thức của công ty cổ phần là phát minh
quan trong nhất trong lịch sử phát triển các hình thức tổ chức doanh nghiệp. Chính
vì vậy, chủ nghĩa t bản đã lợi dụng công ty cổ phần với những biến đổi và thích
nghi nhanh nhất với cơ chế thị trờng, với việc áp dụng khoa học kĩ thuật ...Để
đứng vững và nhanh chóng phục hồi sau cuộc khủng hoảng.
*Đặc điểm công ty cổ phần trong hoạt động kinh doanh.
-Về mặt pháp lý công ty cổ phần có bốn đặc trng sau:
Trách nhiệm pháp lý hữu hạn: Các cổ đông chỉ có trách nhiệm tài chính với
công ty trong giới hạn cổ phần mà họ đóng góp. Nếu công ty bị phá sản hay giải
thể, chủ nợ của công ty chỉ có thể đòi nợ trên cơ sở số tài sảncủa công ty chứ
không có quyền đòi nợ trực tiếp các cổ đông.
Tính có thể chuyển nh ợng cổ phiếu : Nói chung các cổ phiếu có thể tự do mua
bán, khi ngời ta có tiền nhàn rỗi họ có thể mua cổ phiếu để huy động kiếm lợi cổ
tức. Nhng khi họ cần tiền họ không thể bắt công ty hoàn lại vốn mua cổ phiếu,
Chính sách lợi tức cổ phần cũng là một nét đặc trng trong hoạt động tài chính
của công ty cổ phần . Một mặt, lợi tức cổ phần là chỉ tiêu đánh giá hoạt động của
công ty, qua đó nâng cao sức hấp dẫn của nó, mặt khác lợi tức cổ phần có ảnh h-
ởng đến sự tồn tại và phát triển của công ty.
-Về mặt sở hữu công ty cổ phần là hình thức tổ chức kinh doanh có nhiều chủ
sở hữu số lợng cổ đông có thể hang trăm, hàng ngàn, thậm chí hàng triệu với quy
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
mô vốn hết sức đa dạng: Lớn, trung bình và nhỏ. Chủ sở hữu chỉ thực quyền sở
hữu trên các phơng diện sau:
*Thu lợi tức cổ phần trên cơ sở hoạt động của công ty.
Tham gia đại hội cổ đông quyết định những vấn đề chiến lợc của công ty nh
thông qua điều lệ phơng án phát triển quyết toán tài chính, bầu và ứng cử vào các
cơ quan lãnh đạo.Không trực tiếp rút vốn, nhng đợc phép chuyển nhợng quyền sở
hữu của mình thông qua việc mua bán cổ phiếu. Hoạt động của công ty không bị
ảnh hởng của quá trình chuyển nhợng quyền sở hữu.
*Ưu điểm của công ty cổ phần về mặt sở hữu nh sau:
Nó tạo ra cơ chế giải phóng hầu hết các chủ sở hữu khỏi nhiệm vụ quản lý và
sử dụng vốn, chức năng đó đợc giao cho các nhà quản lý chuyên nghiệp. Điều đó
một mặt làm cho các chủ sở hữu yên tâm về quyền lợi, mặt khác giúp cho đồng
vốn đợc sử dụng có hiệu quả cao.
Nó là giải pháp hạn chế độc quyền rất hữu hiệu, với số lợng cổ đông đông
đảo và lợng vốn rất lớn làm cho khả năng chi phối của một vài cá nhân giảm đi rất
nhiều chỉ có nhà nớc mới có khả năng thực hiện sự chi phối này nếu xét thấy cần
thiết.
-Về mặt sở hữu: Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị, giám đốc điều hành là
tổ chức làm đại diện cho quyền sở hữu của các cổ động có nghĩa vụ trực tiếp quản
lý công ty.
*Đối với công ty cổ phần có trên 11 cổ đông phải có ban kiểm soát
Sơ đồ mô tả hệ thống tổ chức của công ty cổ phần:
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
-Hội đồng quản trị: Hội đồng quản trị là cơ quan điều hành mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty, chịu trách nhiệm thi hành các nghị quyết đợc
thông qua trong đại hội cổ đông.
Hội đồng quản trị là cơ quan trờng trực của đại hội cổ đông. Do vậy, chức
năng và nhiệm vụ chính là chuẩn bị dự thảo, xem xét tất cả các văn bản thuộc
thẩm quyền giải quyết của đại hội cổ đông quyết định. Hội đồng quản trị có những
quyền hạn sau:
Xây dựng và trình trớc đại hội cổ đông chơng trình kế hoạch hoạt động hàng
năm và báo cáo định kỳ.
Soạn thảo chơng trình và triệu tập đại hội cổ đông.
Đề nghị tăng vốn điều lệ và chia tổ chức.
ấn định việc trích lập các quỹ của công ty theo điều lệ.
Quyết định các vấn đề liên quan đến bộ máy tổ chức của công ty theo nghị
quyết của đại hội cổ đông. Chủ tịch hội đồng quản trị là ngời đứng đầu Hội đồng
quản trị có thể kiêm tổng giám đốc công ty và do Hội đồng quản trị bầu ra. Chủ
tịch hội đồng quản trị là ngời chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức điều hành
thực hiện những nghị quyết, quyết định của đại hội cổ đông, đồng thời chịu trách
nhiệm trớc các cổ đông về kết quả hoạt động sản xuất công ty. Chủ tịch hội đồng
quản trị cũng là ngời chịu trách nhiệm cuối cùng về các quyết định của hội đông
quản trị.
-Ban kiểm soát: công ty cổ phần có trên 11 cổ đông phải có ban kiểm soát
gồm 3 đến 5 thành viên do đại hội cổ đông bầu ra. Trong đó ít nhất một thành viên
có chuyên môn về kế toán và tất cả các kiểm soát viên không phải là thành viên
trong hội đồng quản trị cũng không phải là thân nhân của Hội đồng quản trị và
giám đốc. Ban kiểm soát bầu một thành viên làm trởng ban, Trởng ban kiểm soát
phải là cổ đông, quyền và nghĩa vụ của trởng ban do điều lệ công ty quy định.
Ban kiểm soát có những quyền hạn và nghĩa vụ sau đây:
Kiểm tra các sổ sách chứng từ và tài sản của công ty.
Báo cáo trớc đại hội cổ đông về các sự kiện tài chính bất thờng sảy ra, những
Những chủ trơng chính sách chế độ đó đã từng bớc thúc đẩy công tác cổ phần
hoá ngày càng mạnh và rộng hơn thể hiện qua từng giai đoạn.
A.Giai đoạn thí điểm(tháng 6-1992 đến tháng 4-1996).
Từ khi có quyết định 202/CT ngày 8\6\1992 của Chủ tịch hội đồng bộ tr-
ởng(nay là Thủ tớng chính phủ) về thí điểm chuyển một số doanh nghiệp Nhà nớc
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thành công ty cổ phần. Trong giai đoạn này chính sách cổ phần hoá dè dặt, thận
trọng việc lựa chọn doanh nghiệp cổ phần hoá rất kĩ lỡng, chính sách đối với
doanh nghiệp chuyển sang hoạt động theo công ty cha rõ, chính sách đối với ngời
lao động còn hạn chế, phơng thức cổ phần hoá còn đang mới mẻ, nhận thức của xã
hội, ngời quản lý ngời lao động còn rất lan man. Vì vậy, thời gian thí điểm kéo dài,
kết quả còn rất hạn chế. Trong bốn năm mới cổ phần hoá đợc 5 doanh nghiệp gồm
3 doanh nghiệp trung ơng và 2 doanh nghiệp địa phơng. Tất cả các doanh nghiệp
cổ phần này đều có quy mô nhỏ, có những lợi thế nhất định trong hoạt động sản
xuất kinh doanh. Tuy kết quả của giai đoạn thí điểm còn ít nhng rút ra nhiều kinh
nghiệm quý báu cho việc xây dựng chế độ chính sách chỉ đạo thực hiện công tác
cổ phần hoá trong giai đoạn sau này.
B. giai đoạn đầu của thời kỳ mở rộng công tác cổ phần hoá(từ tháng 5/1996
đến tháng 5/1998)
Giai đoạn này đợc đánh dấu bằng việc chính phủ ban hành nghị định 28/CP
lần đầu tiên quy định một cách hệ thống từ mục đích yêu cầu, đối tợng đến phơng
thức tiến hành, chế độ đối với doanh nghiệp và ngời lao động trong doanh nghiệp
cổ phần hoá, các văn bản hớng dẫn của các nghành chức năng nh bộ tài chính, bộ
lao động cũng đầy đủ hơn. Vì vậy, tốc độ cổ phần hoá nhanh hơn, trong hai năm
cổ phần hoá đợc 25 doanh nghiệp gấp năm lần giai đoạn thí điểm, diện cổ phần
hoá cũng rộng hơn, có ba bộ và chín tỉnh, thành phố có doanh nghiệp cổ phần hoá.
Quy mô doanh nghiệp cổ phần hoá cũng lớn hơn với một doanh nghiệp có vốn
trên 120 tỷ đồng, 5 doanh nghiệp có vốn từ 10 tỷ đồng trở lên. Tuy nhiên so với
yêu cầu thì tốc độ cổ phần hoá còn chậm.
774 doanh nghiệp. Tuy nhiên ta cũng nhận thấy rằng tốc độ cổ phần hoá cũng
đang trên đà chậm lại.
Tháng 9 năm 2001, Hội nghị ban chấp hành trung ơngĐảng khoá IX ban
hành nghị quyết số 05-NQ/TW về tiếp tục sắp xếp đổi mới phát triển và nâng cao
hiệu quả của doanh nghiệp nhà nớc. Đây là nghị quyết có tác động mạnh mẽ đến
khu vực doanh nghiệp nhà nớc có thể so sánh tơng tự với tác động của nghị quết
khoán 10 đối với khu vực nông nghiệp. Mục tiêu cơ bản của nghị quyết là làm cho
doanh nghiệp nhà nớc hoạt động có hiệu quả thực sự, với số lợng doanh nghiệp
không nhiều nhng đủ mạnh, có thể đảm đơng sứ mệnh lịch sử làm cho kinh tế nhà
nớc giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Nghị quyết đã đề ra những ph-
ơng hớng cơ bản và những tiêu chí cụ thể để từng bớc sắp xếp lại hệ thống doanh
nghiệp nhà nớc, khắc phục tình trạng yếu kém, hoạt động không có hiệu quả của
doanh nghiệp. Ngay sau đó, Thủ tớng chính phủ đã ban hành Nghị quyết số
183/2001/QĐ-TTg ngày 20/11/2001 về chơng trình hành động của Chính phủ thực
hiện nghị quyết hội nghị lần thứ ba BCH Trung ơng Đảng, khoá IX. Mục tiêu của
chơng trình hành động là tổ chức hoạt động thắng lợi Nghị quyết của trung ơng:
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tiếp tục đổi, phát triển và mới nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nớc, để doanh
nghiệp nhà nớc góp phần quan trọng bảo đảm các sản phẩm, dịch vụ công ích thiết
yếu của xã hội và nhu cầu cần thiết của quốc phòng, an ninh, là lực lợng lòng cốt
đẩy nhanh tăng trởng kinh tế và tạo nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện
đại hoá đất nớc.
2.Luật doanh nghiệp
Luật doanh nghiệp đã đợc Quốc hội nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khoá X kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 12/06/1999. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng
để nhà nớc quản lý, khuyến khích phát triền các thành phần kinh tế và hình thành
tổ chức kinh doanh nhằm giải phóng sức lao động, động viên tối đa mọi mguồn
lực trong nhân dân và toàn xã hội phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá hiện đại
hoá đất nớc, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, cải thiện đời sống cho nhân dân.
Công ty cổ phần cho phép các cổ đông tự do chuyển nhợng cổ phần, cổ phần
có thể đem chào bán cho bất ky ai, ngời mua có thể mua một hoặc nhiều cổ phần
và trở thành cổ đông của công ty.
Số lợng cổ đông của công ty cổ phần về nguyên tắc không có giới hạn tối đa
(mục d, khoản 1, điều 51 luật doanh nghiệp). Tất cả mọi ngời đều có thể tham gia
đầu t và trở thành thành viên của công ty cổ phần.
Quy mô của công ty cổ phần thờng là vừa, lớn và rất lớn, sự mở rộng đầu t và
phát triển của công ty về lý thuyết là không hạn chế nếu công ty có quy hoạch
phát triển tốt.
Về mặt lý thuyết công ty cổ phần là hình thức tổ chức kinh doanh linh hoạt
nhất trong các loại hình tổ chức kinh doanh. Các chủ đầu t có thể sử dụng để huy
động, tập trung và cấp vốn cũng nh quản lý mọi quy mô và nghành nghề kinh
doanh. Từ doanh nghiệp nhỏ sản xuất một hoặc một số sản phẩm đơn lẻ thuộc sở
hữu của hàng ngàn cổ đông, kinh doanh trên lĩnh vực nghành hàng và có thể vợt ra
ngoài phạm vi quốc gia.
Luật doanh nghiệp quy định cổ đông có quyền tự do chuyền đổi cổ phần của
mình cho ngời khác nh một loại tài sản (trừ cổ phần u đãi không đợc chuyển đổi,
cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập bị hạn chế chuyển đổi trong thời hạn 3
năm). Tạo điều kiện cho các cổ đông quyền tự do mua bán hay tuỳ nghi sử dụng
vốn của mình trong công ty mà không cần sự đồng ý của cổ đông khác. Điều này
làm tăng thêm sự hấp dẫn đối với các nhà đầu t, cũng nh tạo điều kiện cho công ty
cổ phần khắc phục khó khăn về tài chính trong việc mở rộng nhu cầu kinh doanh,
đa dạng hoá sản phẩm. Tuy nhiên để phát huy tối đa sức mạnh của lợi thế này đòi
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hỏi phải có một thị trờng chứng khoán đủ mạnh, cơ chế quản lý linh hoạt và hệ
thống pháp luật phù hợp với tiến trình kinh tế -xã hội
Nói chung không một loại hình tổ chức kinh doanh nào mà chỉ có u điểm mà
không có nhợc điểm. Nhợc điểm chung của công ty cổ phần (xét trên góc độ chủ
đầu t) là khó trốn thuế để hởng siêu lợi nhuận và đa số các cổ đông chỉ quan tâm
của Đảng và chính quyền các cấp.
Trớc mắt đề nghị ban đổi mới doanh nghiệp trung ơng cần tập trung thực
hiện một số công việc sau:
Tăng cờng công tác huấn luyện về cổ phần hoá cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo.
Đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục để nâng cao nhận thức cho
cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp và ngời đứng đầu cổ phần hoá doanh
nghiệp.
Tổ chức các hội nghị từng vùng hoặc cả nớc để trao đổi kinh nghiệm trong
quá trình thực hiện cổ phần hoá và đề xuất kiến nghị sửa đổi bổ sung các chính
sách phù hợp với thực tế.
Hoàn thiện quy trình cổ phần hoá , đặc biệt là quy trình xác định giá trị
doanh nghiệp nhà nớc để rút ngắn thời gian thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp.
Phối hợp với uỷ ban chứng khoán nhà nớc để lựa chọn các công ty cổ phần
tham gia vào trung tâm giao dịch chứng khoán, từ đó tác động trở lại đối với việc
cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc. Phối hợp với các bộ tiếp tục hoàn thiện các
văn bản pháp luật về cổ phần hoá doanh nghiệp cũng nh các chính sách về khoán,
bán, cho thuê doanh nghiệp nhà nớc cho tập thể ngời lao động.
Phối hợp với Bộ tài chính trình chính phủ về quyết định cổ phần hoá có bán
cổ phần cho nhà đầu t nớc ngoài, thành lập quỹ hỗ trợ đổi mới doanh nghiệp và cổ
phần hoá . Phối hợp với Bộ lao động-thơng binh xã hội, trình Chính phủ các chính
sách đối với ngời lao động dôi d trong quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n-
ớc.
Hợp tác với các tổ chức quốc tế nghiên cứu tìm ra các dự án nhằm nâng cao
năng lực hoạt động của ban đổi mới quản lý doanh nghiệp một số tỉnh, thành phố
và tổng công ty 91, đồng thời tranh thủ các nguồn tài trợ quốc tế hỗ trợ các doanh
nghiệp nhà nớc trong diện cổ phần hoá, giải quyết các tồn đọng về tài chính và lao
động.
Duy trì chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất của các ban quản lý đổi mới
doanh nghiệp của các bộ địa phơng, tổng công ty 91 về tình hình thực hiện cổ
phần hoá theo hớng dẫn của uỷ ban đổi mới doanh nghiệp trung ơng, kịp thời xử
trình đổi mới doanh nghiệp nhà nớc ở nớc ta.
Sau 10 năm đổi mới, các doanh nghiệp nhà nớc đã và đang chuyển biến khá
căn bản. Đã sắp xếp lại một bớc quan trọng, giảm đợc gần một nửa số doanh
nghiệp chủ yếu là các doanh nghiệp địa phơng nhỏ bé hoạt động không có hiệu
quả. Phần lớn các doanh nghiệp còn lại đợc tổ chức và từng bớc phát huy quyền
làm chủ kinh doanh.
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nhng nhìn chung các doanh nghiệp nhà nớc vẫn rất khó khăn, hiệu quả kinh
doanh còn thấp, nhiều doanh nghiệp vẫn làm ăn thua lỗ triền miên, sự đóng góp
cho ngân sách của doanh nghiệp nhà nớc cha tơng xứng với phần đầu t của nhà n-
ớc cho nó, cũng nh tình trạng thất thoát vốn đang diễn ra hết sức nghiêm trọng,
việc quản lý đối với doanh nghiệp nhà nớc còn quá yếu kém, đặc biệt nghiêm
trọng là tình trạng buông lỏng quản lý tài chính làm nhà nớc mất vai trò thực sự là
ngời chủ sở hữu, tình trạng phân hoá, chênh lệch trong thu nhập ngày càng tăng.
Tóm lại, các doanh nghiệp nhà nớc ở nớc ta do yếu tố lịch sử để lại và đang đóng
góp vai trò to lớn trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, nhng lại hoạt
động kém hiệu quả và phát sinh nhiều bất cập. Quá trình chuyển đổi đất nớc sang
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản
lý của nhà nớc tất yếu phải đổi mới căn bản doanh nghiệp nhà nớc
2.Các bớc để tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc.
Trình tự và nội dung các bớc tiến hành cổ phần hoá một doanh nghiệp nhà n-
ớc theo tiến độ sau:
Bớc1: Thành lập ban vận động cổ phần hoá doanh nghiệp. Ban vận động cổ
phần hoá doa uỷ ban nhân dân các tỉnh quyết định thành lập và cử giám đốc doanh
nghiệp làm trởng ban. Bao gồm: các chuyên gia kĩ thuật, cán bộ quản lý, các
chuyên gia quản lý các nghành quản lý nhà nớc(nghành chủ quản, tài chính, ngân
hàng). Ban vận động có nhiệm vụ chuẩn bị phơng án cổ phần hoá và nội dung các
bớc tiến hành cổ phần hoá xây dựng luận chứng sơ bộ về cổ phần hoá : quy mô,
loại hình sản xuất kinh doanh...
đăng ký lại doanh nghiệp.
Toàn bộ nội dung các bớc trên đây đợc thể hiện trong đề án cổ phần hoá
doanh nghiẹp và đợc chủ tịch uỷ ban doanh nghiệp tỉnh thông qua trớc khi tiến
hành cổ phần hoá.
3.Tiến trình cổ phần hoá- Những kết quả đạt đợc.
Kể từ khi có quyết định 202/CT ngày 8/6/1992 của Chủ tịch hội đồng bộ tr-
ởng nay là Thủ tớng chính phủ về việc thí điểm chuyển một số doanh nghiệp nhà
nớc thành công ty cổ phần cho tới nay là tròn 10 năm và chủ trơng cổ phần hoá đã
thu đợc những kết quả đáng khích lệ, đặc biệt là từ năm 1998 trở lại đây. Trong ba
năm(1990-1993) Chính phủ đã đa ra ba văn bản về cổ phần hoá nhng đến cuối
năm 1993 mới có hai doanh nghiệp nhà nớc đợc cổ phần hoá đó là công ty cổ phần
đại lý liên hiệp vận chuyển và công ty cổ phần cơ điện lạnh. Năm 1994 là một
doanh nghiệp. Năm 1995 là 3 doanh nghiệp.Năm 1996 là 5 doanh nghiệp Cho mãi
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đến hết năm 1997, tức là sau 7 năm mới chuyển đợc 18 doanh nghiệp. Dới tác
động của Nghị định 28/CP (ban hành ngày 7/5/1996) và Nghị định 25/CP (sửa đổi
bổ sung Nghị định 28/CP), ban hành ngày 26/3/1997 đã có 100 doanh nghiệp đợc
cổ phần hoá trong năm 1998. Việc ban hành Nghị định 44/CP ngày 19/6/1998
thay thế cho Nghị định 28/CP và hệ thống các văn bản hớng dẫn đã kiến tạo khuôn
khổ pháp luật đầy đủ nhất cho việc cổ phần hoá, khắc phục đợc những khuyết
điểm nảy sinh trong Nghị định 28/CP đặc biệt là các vấn đề về u đãi cho ngời lao
động, xác định giá trị doanh nghiệp, thẩm quyền định giá, thẩm quyền ra quyết
định cổ phần hoá . Về cơ bản nó mang những nội dung tích cực phù hợp với thực
tiễn cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam. Vì vậy năm 1999 công tác cổ
phần hoá có những bớc khởi sắc nhất định cổ phần hoá đợc 250 doanh nghiệp.
Năm 2000 cổ phần hoá đợc 212 doanh nghiệp và năm 2001 là 149 doanh nghiệp
cho đến nay có khoảng 774 doanh nghiệp nhà nớc trong cả nớc đợc cổ phần hoá.
Trong số các doanh nghiệp nhà nớc đã cổ phần hoá có tới 60 doanh nghiệp trớc
khi cổ phần hoá kinh doanh thua lỗ. Số còn lại khi có lãi khi lỗ, tính chung thì có