TRƯỜNG CĐSP DAKLAK
******
Đ Ề TÀI NGIÊN CỨU KHOA HỌC
DẠY HỌC CHỦ ĐỀ TỰ CHỌN
NGỮ VĂN LỚP 9
Người thực hiện: Trịnh Đức Long
Tổ Văn –Khoa xã hội
NĂM
2006
2
Ch đ 1: TÌM HI U C I M M T S TH LO Iủ ề Ể ĐẶ Đ Ể Ộ Ố Ể Ạ ..............................................12
PH N H NG D N TH C HI N CH Ầ ƯỚ Ẫ Ự Ệ Ủ ĐỀ.............................................................34
3
A-PHẦN MỞ ĐẦU
I-Lý do chọn đề tài:
1-Xuất phát từ yêu cầu đổi mới chương trình bậc trung học cơ sở trong đó đặt ra yêu cầu
thực hiện chương trình tự chọn bắt đầu cho học sinh khối lớp 8 và 9. Việc học tự chọn góp
phần thực hiện mục tiêu hướng đến người học, lấy người học làm trung tâm trong hoạt
động dạy học. Chương trình đáp ứng nhu cầu tự học của học sinh, rèn luyện kỹ năng tích
cực trong học sinh. Hơn nữa dạy học tự chọn đáp ứng được xu hướng phân hóa đối tượng
dạy học, đây là nguyên tắc dạy học hiện đại.
2-Xuất phát từ thực tiễn nhận thức của bản thân được Sở cử tham gia hội nghị tập huấn bồi
dưỡng giảng viên cốt cán dạy học tự chọn tại Đà Nẵng (tháng 10/2004) sau đó về triển khai
cho giáo viên tỉnh nhà.
3-Xuất phát từ thực tiễn việc thực hiện chương trình (các chủ đề tự chọn) môn Ngữ văn của
giáo viên trung học cơ sở hiện nay còn nhiều lúng túng về nội dung và phương pháp dạy.
Bộ giáo dục và đào tạo mới đề ra chủ trương thực hiện từ năm học 2004-2005, nguồn tài
liệu về các chủ đề tự chọn còn hạn chế (chủ yếu giáo viên THCS phải tự thiết kế chủ đề để
dạy)nên khi thực hiện còn nhiều bất cập chưa mang tính đồng bộ thống nhất giữa các
trường. Sau một năm triển khai thực hiện dạy học tự chọn lớp 8, bản thân đã trực tiếp gặp
gỡ trao đổi với một số giáo viên THCS tại tỉnh nhà khi thực hiện chương trình tự chọn,
Chương I:Tìm hiểu đặc điểm chương trình v những định hướng về nội dung v
phương pháp khi dạy tự chọn Ngữ văn lớp 9
A-Nhận diện đặc điểm chương trình Ngữ văn lớp 9:
Theo chủ trương của Bộ GD&ĐT việc thực hiện chương trình tự chọn với 3 loại hình chủ
đề: Bám sát, nâng cao và đáp ứng không nằm ngoài quỹ đạo của chương trình chính khóa,
lấy nội dung chương trình chính khóa làm nền tảng để thiết kế chủ đề tự chọn. Do vậy
muốn thực hiện tốt hoạt động dạy học tự chọn, giáo viên cần phải nhận diện đặc điểm nội
dung chương trình chính khóa.
5
I-Đặc điểm chung:
1-Đây là lớp cuối cấp học nên chương trình Ngữ văn 9 ngoài nhiệm vụ cung cấp kiến thức
mới cịn tập trung vo việc củng cố kiến thức, ơn tập tồn cấp học. Việc thực hiện tích hợp
dọc kiến thức từ lớp 6 dến lớp 9 luơn được đặt ra và giải quyết một cách triệt để.
2-Nội dung các bài dạy trong cả 3 phân môn đều có khả năng tích hợp cao (Cả tích hợp
ngang lẫn tích hợp dọc).
Do vậy dạy Ngữ văn lớp 9 giáo viên phải nhậy cảm nắm chắc mục tiêu chương trình tồn
cấp học, đây là cái đích để đạt đến chất lượng tồn cấp THCS.
II- Đặc điểm phân môn văn học:
1-Các văn bản được chọn dạy trong chương trình thể hiện r nt dấu hiệu tích hợp. Nhiều
văn bản có sự đan xen của cc phương thức biểu đạt nên là điều kiện tốt để thực hiện tích
hợp với phân môn làm văn.Dưới đây là một số ví dụ thống kê dấu hiệu tích hợp ngang
Văn bản Cc phương thức biểu đạt Tích hợp môn làm văn
+Kiều ở Lầu Ngưng
Bích
+Bi thơ tiểu đội xe
không kính
Biểu cảm kết hợp với tự sự, kể
chuyện
Độc thoại nội tâm trong
lớp 9
Lớp 6 Lớp 7 Lớp 8 Lớp 9
1-Tự sự dân gian:
Thần thoại, truyền
thuyết, cổ tích, ngụ
Tự sự hiện đại:
+Cổng trường mở
ra
Tự sự hiện đại:
+Tôi đi học
+Trong lòng mẹ
1-Tự sự Trung đại:
+Người con gái
Nam Xương.
6
ngôn, truyện cười.
2-Tự sự Trung đại:
+Con hổ có nghĩa
+Mẹ hiền dạy con
+Thầy thuốc cốt ở
tấm lòng
3-Tự sự hiện đại:
+Dế mèn phiên lưu
ký
+Vượt thác
+Buổi học cuối
cùng
*Nhận xét:
Văn bản ngắn, cốt
truyện đơn giản, sự
*Nhận xét:
Độ khó của văn
bản tăng dần; cốt
truyện phức tạp;
yếu tố nghị luận,
biểu cảm, thuyết
minh, biểu cảm đan
xen với tự sự trong
văn bản
III-Đặc điểm phân môn làm văn:
1-So với 2 phân môn Văn và tiếng Việt thì phn mơn lm văn có nhiều thay đổi hơn cả. Điểm
cần lưu ý gio vin l thuật ngữ kiểu bi trước đây được thay thế bằng kiểu văn bản.
Khái niệm kiểu văn bản rộng hơn kiểu bi. Kiểu văn bản được hiểu l phương thức biểu đạt
của văn bản đó. Theo hướng hiểu này phân môn làm văn ở THCS sẽ rèn luyện học sinh kỹ
năng viết 6 kiểu văn bản: Tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận, điều hành. Các
thuật ngữ như kiểu bi:giải thích, chứng minh, bình luận, phn tích…trước đây được quan
niệm như một dạng thức nghị luận.
2-Tất cả các kiểu văn bản đó đều được trở đi trở lại ít nhất 2 lần trong chương trình cấp
học, đến lớp 9 học sinh nắm vững đặc điểm và kỹ năng tạo lập tất cả các kiểu văn bản. Dấu
hiệu tích hợp dọc được thể hiện r nt nhất trong phn mơn ny.Bảng thống k dưới đây thể hiện
dấu hiệu tích hợp đồng tâm kiến thức về kiểu văn bản tự sự:
Lớp 6 Lớp 8 Lớp 9
1-Tìm hiểu chung về tự sự
2-Sự việc và nhân vật
trong văn tự sự
3-Tìm hiểu đề và cách làm
văn tự sự, chủ đề tự sự.
4-Thứ tự kể trong tự sự, kể
chuyện tưởng tượng sáng
tạo
1-Cùng với chương trình chính khoá, dạy học tự chọn góp phần thực hiện mục tiêu cấp
học:Dạy học nhằm hướng đến người học, đáp ứng nhu cầu nguyện vọng tự học của học
sinh. Trước đây chúng ta vẫn chưa chú ý đúng mức đến nhu cầu cá thể của học sinh nên
phần nào hạn chế khả năng sở trường của các em, có thể xem đây là sự thay đổi cả triết lý
giáo dục mang tính nhân bản.
2-Thực hiện nguyên tắc phân hóa trong dạy học : Đây là yêu cầu trong việc đổi mới hoạt
động dạy học. Do lấy người học làm trung tâm nên đối tượng dạy học thay đổi tất yếu
phương pháp dạy học cũng thay đổi, không thể thực hiện nội dung và phương pháp đồng
nhất cho mọi đối tượng được. Dạy học tự chọn là giải pháp tích cực thực hiện nguyên tắc
phân hóa.
3-Dạy học tự chọn góp phần củng cố kiến thức trong chương trình chính khoá, góp phần
đào sâu mở rộng nâng cao kiến thức, rèn luyện kỹ năng ứng dụng kiến thức trong nhà
trường để giải quyết những tình huống trong cuộc sống. Cần xác định rằng dạy học tự chọn
không phải là hoạt động ngoại khoá, dạy học thêm như cách hiểu thông thường bấy lâu
nay. Do vậy khi chọn chủ đề cần phải bám sát nội dung chương trình chính khóa phát hiện
các điểm nhấn về nội dung kiến thức trong chương trình, có như thế chủ đề mới đem lại
hiệu quả thiết thực.
II-Nội dung kiến thức chủ đề tự chọn lớp 9:
1-Xác lập phạm vi kiến thức:
Phạm vi kiến thức của chủ đề tự chọn rộng, mang tính khái quát hơn rất nhiều so với nội
dung kiến thức trong giáo án của bài dạy. Do vậy khi soạn mỗi chủ đề rất công phu, phải có
cách nhìn bao quát diện rộng của chương trình môn học(Nhất là đối với các chủ đề nâng
cao phải tham khảo mở rộng nhiều kiến thức so với sách giáo khoa). Điều này đòi hỏi giáo
viên phải có năng lực khái quát hóa vấn đề.
Cụ thể đối với chương trình Ngữ văn 9 có thể thực hiện các chủ đề trong đó phạm vi kiến
thức bao quát toàn cấp học vừa mang tính chất hệ thống hóa, củng cố ôn tập vừa mang tính
rèn luyện kỹ năng làm văn, cảm thụ văn học để tạo tiền đề cho bậc học cao hơn.
2-Định hướng xây dựng hai loại chủ đề bám sát và nâng cao:
8
+Chủ đề bám sát: Củng cố hệ thống hóa, tổng kết các đơn vị kiến thức đã học để học sinh
định tính thành những vấn đề cần triển khai (Dưới dạng các luận điểm khoa học).
+Tiến hành lập đề cương bài dạy trong đó không chỉ chú ý đến nội dung chủ đề mà còn
dự kiến kế hoạch triển khai thức hiện( thể hiện qua việc xác lập hệ thống những hoạt động
dạy và học).
Theo chương trình THCS mới, các nội dung tự chọn môn Ngữ văn lớp 9 với thời lượng
khoảng 35 tiết / học kỳ. Mỗi chủ đề tự chọn có thời lượng khoảng 6 đến 8 tiết. Giáo viên
cần xác định quỹ thời gian để định lượng kiến thức cho phù hợp với tầm sức học sinh.
Cấu trúc một chủ đề tự chọn gồm 2 phần:
-Phần nội dung bài đọc: có thể ngắn hoặc dài tuỳ theo nội dung của từng chủ đề, biên soạn
linh hoạt nhưng phải tập trung thể hiện kiến thức cơ bản cần trang bị, khắc sâu cho học
sinh.
-Phần hướng dẫn thức hiện: cung cấp những thông tin về phương pháp, hướng dẫn luyện
tập thực hành, tự học.
9
Do đây là lần đầu thực hiện nên sau khi biên soạn xong, giáo viên cần trình bày nội dung
và ý tưởng triển khai chủ đề, tiến hành trao đổi thảo luận trong tổ chuyên môn trước khi
đưa ra thực hiện.
+Cho học sinh tham khảo trước tài liệu chủ đề tự chọn để chuẩn bị học
2-Phương pháp dạy học tự chọn:
Dạy học tự chọn là hình thức dạy học mới, với điều kiện tài liệu về giảng dạy, phòng học
còn hạn chế không tránh khỏi những khó khăn về phương pháp khi thực hiện. Thực chất
dạy học tự chọn vừa có điểm giống với hình thức dạy chính khoá, lại vừa có điểm khác biệt
mang tính đặc thù riêng.
Muốn đề ra phương pháp tích hợp cần hiểu rõ đối tượng, tính chất và nội dung dạy học tự
chọn. Đặc thù của dạy tự chọn có những thuận lợi và khó khăn về phương pháp như sau:
+Thuận lợi:Đối tượng người học tương đối thuần nhất, vì bản thân việc dạy tự chọn đã
hàm nghĩa phân hóa đối tượng người học cùng loại : cùng năng lực(Khá, giỏi ,yếu, kém),
hoặc cùng sở thích nguyện vọng. Vì thế khi triển khai giáo viên có thể vận dụng một loại
phương pháp nào đó tương ứng thích hợp cho từng chủ đề.
+Khó khăn: Về cơ bản chủ đề tự chọn nhằm hướng dẫn học sinh đọc và học ở nhà do đó
hoặc củng cố chủ đề.
+Phương pháp trực quan, đóng vai có thể sử dụng để minh họa cho vấn đề trình bày được
sinh động hấp dẫn hơn.
+Phương pháp thảo luận nhóm,nghiên cứu tình huống, tranh luận nên sử dụng triệt để khi
cho học sinh tiếp cận phân tích vấn đề(đặc biệt là vấn đề mới và khó trong chủ đề).
Nhìn chung cách thực hiện dạy học tự chọn theo hướng tích cực là cho học sinh tiếp cận
giải quyết vấn đề, tiếp cận cùng tham gia, tiếp cận kiến tạo để lĩnh hội tri thức mới.
11
Chương II: Biên soạn một số chủ đề tự chọn phần văn học và làm văn lớp 9
Chủ đề 1 : TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ THỂ LOẠI
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM.
***********
A-MỤC TIÊU:
1-Nắm vững đặc điểm của từng thể loại văn học sau khi đã tiếp cận hệ thống văn bản tác
phẩm văn học trong chương trình THCS.
2-Bước đầu nhận diện một số khái niệm lý luận văn học về thể loại.
3-Biết vận dụng kiến thức về thể loại để phân tích tác phẩm văn học.
4-Mở ra hướng tích hợp kiến thức về các phương thức biểu đạt trong phân môn làm văn.
B-KẾ HOẠCH THỰC HIỆN:
Chuyên đề triển khai trong 8 tiết (Đan xen giữa lý thuyết và luyện tập)
C- TÀI LIỆU CHUẨN BỊ:
1-Bài học TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM MỘT SỐ THỂ LOẠI TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
2-Hệ thống các bài tập
3-Chọn lựa một số văn bản tác phẩm văn học tiêu biểu theo thể loại trong sách Ngữ văn
lớp 6,7,8,9.
--------------------------------------------------------
NỘI DUNG CH Ủ ĐỀ:
A-Tìm hiểu chung về thể loại văn học:
1-Thể loại văn học là những phương thức biểu đạt tồn tại cụ thể và tương đối ổn định trên
điều vòng vèo hoặc chùng chình, vả lại nó đã thấy có cái gì đáng hấp dẫn ở bên kia sông
đâu? Họa chăng chỉ có anh đã từng trải , đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới
nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia, cả
trong những nét tiêu sơ, và cái điều riêng anh khám phá thấy giống như một niềm say mê
pha lẫn nỗi ân hận đau đớn, lời lẽ không bao giờ giải thích hết.”
B-Đặc điểm một số thể loại văn học:
I-Phương thức tự sự: (Truyện)
1-Đặc điểm chung của truyện:
1.1-Truyện là thể loại chỉ tác phẩm sáng tác theo phương thức tự sự, sử dụng yếu tố miêu
tả và kể chuyện nhằm tường thuật lại hiện thực cuộc sống trong thế giới tự nhiên, xã hội,
con người. Truyện có khả năng miêu tả hiện thực cuộc sống một cách chân thực cụ thể sinh
động. Khi miêu tả truyện không bị giới hạn về không gian thời gian.
Vd:Truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao kể về số phận cuộc đời nghèo khổ bất hạnh của
người nông dân (nhân vật lão Hạc) trước Cách mạng tháng Tám.
1.2-Truyện có cốt truyện, đó là hệ thống xâu chuỗi các sự kiện xảy ra từ lúc mở đầu cho
đến khi kết thúc truyện. Những sự kiện miêu tả trong truyện đều có tác động ảnh hưởng
đến số phận tính cách của nhân vật trong tác phẩm. Do vậy khi tìm hiểu truyện người đọc
cần nắm vững hệ thống các sự kiện miêu tả để tóm tắt được cốt truyện.
Vd: Truyện “Sơn Tinh, Thuỷ Tinh”có các sự kiện sau:
-Vua Hùng kén rể
-Sơn Tinh, Thuỷ Tinh đến cầu hôn
-Vua Hùng ra điều kiện chọn rể
-Sơn Tinh đến trước cưới được Mị Nương
-Thuỷ Tinh đến sau tức giận, dâng nước đánh Sơn Tinh
-Hai bên giao chiến hàng tháng trời, cuối cùng Thuỷ Tinh thua trận rút về
-Hàng năm Thuỷ Tinh dâng nước đánh Sơn Tinh gây ra lụt lội
1.3-Truyện có nhân vật, đây là yếu tố quan trọng hàng đầu của truyện. Nhân vật trong
truyện chủ yếu là con người nhưng cũng có khi là con vật mang những nét tính cách như
con người (Nhân vật truyện ngụ ngôn, nhân vật Dế mèn…).Nhân vật trong truyện được
miêu tả khá cụ thể sinh động qua các phương diện như: Ngoại hình, lai lịch, hành động,
+Ngôn ngữ nhân vật: Bao gồm ngôn ngữ đối thoại giữa các nhân vật và ngôn ngữ nhân
vật độc thoại nội tâm. Dạng thức ngôn ngữ này góp phần khắc hoạ rõ nét tâm trạng, tính
cách nhân vật.
Vd:”Nhưng sao lại nảy ra cái tin như vậy được? Mà thằng Chánh Bệu thì đích là người
làng không sai rồi. Không có lửa làm sao có khói? Ai người ta hơi đâu bịa tạc ra những
chuyện ấy làm gì. Chao ôi! cực nhục chưa, cả làng Việt gian! Rồi đây biết làm ăn, buôn
bán ra sao? Ai người ta chứa. Ai người ta buôn bán mấy. Suốt cả cái nước Việt Nam này
người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước…” (Làng- Kim Lân)
Lời độc thoại nội tâm của nhân vật ông Hai thể hiện tâm trạng đau đớn, tủi hổ khi nghe
tin làng mình theo giặc.
2-Một số thể loại truyện tiêu biểu:
2.1-Truyện ngắn: Là dạng thức tự sự ngắn gọn, dung lượng hiện thực ít, số lượng nhân
vật trong truyện không nhiều, khắc họa những nét điển hình của nhân vật (nhất là nhân vật
chính) Vd: Làng (Kim Lân ), Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng)
2.2-Truyện ký: Dạng thức tự sự kể lại những câu chuyện có thật trong lịch sử, nhân vật
truyện xây dựng từ nguyên mẫu những con người có thật ở ngoài đời.
Vd: Sống chết mặc bay (Phạm Duy Tốn), Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu
(Nguyễn Ái Quốc).
2.3-Truyện thơ: Dạng thức tự sự, kể chuyện miêu tả hiện thực bằng thơ (Văn vần).Ở
dạng này yếu tố biểu cảm đan xen với yếu tố tự sự khá nhiều.
Vd: Truyện Kiều (Nguyễn Du), Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu)
14
2.4-Tiểu thuyết: Dạng thức tự sự với dung lượng hiện thực lớn (Có khi cả một thời đại
lịch sử), nhiều nhân vật, sự kiện, kết cấu gồm nhiều chương đoạn.
Vd: Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái)
II-Phương thức trữ tình: (Thơ)
1-Đặc điểm chung của thơ:
1.1-Thơ là thể loại văn học chỉ tác phẩm sáng tác theo phương thức trữ tình thiên về
việc bộc lộ giải bày tâm trạng, cảm xúc (Biểu cảm) của người viết (Còn gọi là chủ thể trữ
tình).
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”
+Về thanh : các chữ thứ 2,6,8 phải thanh Bằng, chữ thứ 4 thanh Trắc. Tuy chữ thứ 6 và 8
ở câu 8 đều là thanh Bằng nhưng phải khác nhau về dấu (Thanh huyền: trầm, thanh không
dấu: bổng:
15