Chương 1
GIỐNG VÀ CÔNG TÁC GIỐNG DÊ
Giống có tính chất tiền ñề trong chăn nuôi nói chung cũng như trong chăn nuôi dê nói
riêng. Những kiến thức chung về giống dê và những việc cần làm ñể không ngừng nâng cao
chất lượng giống dê là là nội dung chính của chương này. Trước hết những thông tin cơ bản
về nguồn gốc và một số ñặc thù sinh học của dê sẽ ñược ñề cập. Các giống dê ñịa phương và
gíông ngoại nhập ñược nuôi phổ biến ở nước ta cũng sẽ ñược giới thiệu. Tiếp theo là những
nội dung cơ bản về chọn lọc và nhân giống dê. Phần cuối của chương nói về một số biện
pháp theo dõi và quản lý ñàn dê.
I. NGUỒN GỐC VÀ ðẶC THÙ SINH HỌC CỦA DÊ
1.1. Nguồn gốc và phân loại của dê
a Nguồn gốc dê nhà
ðã có trên 350 giống dê ñược ghi nhận và cũng ñã có nhiều nghiên cứu khác nhau về
nguồn gốc của dê nhà. Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau về vấn ñề này song các nhà khoa học
ñều thống nhất cho rằng dê là một trong những loài vật ñược con người thuần hoá sớm nhất,
sau ñấy mới ñến chó (Zeuner, 1963). Giống như các vật nuôi khác sau khi thuần hóa, ñầu tiên
dê ñược nuôi ñể lấy thịt, sau ñó ñược nuôi ñể lấy sữa.
Nguồn gốc của dê nhà là dê rừng. Dê rừng (Capra aegagrus) trên thế giới ñược chia
làm ba nhóm:
+ Nhóm 1 là dê Bezoar (C.a aegagrus) có sừng hình xoắn (xem hình 1-1), phân bố tự
nhiên ở vùng Tây Á
+ Nhóm 2 là dê Ibex (C.a Ibex), phân bố tự nhiên ở vùng Tây Á, ñông châu Phi và châu
Âu
+ Nhóm 3 là dê Markhor (C.a Falconeri) thường có sừng quặn về phía sau (xem hình 1-
1), phân bố ở Afghanistan và vùng Kashimir-Karakorum.
cỏ như trâu bò nhưng nó thích ăn lá cây, hoa
và các cây lùm bụi (xem hình 1-2), cây họ ñậu
thân gỗ hạt dài. Dê rất phàm ăn, nhưng luôn
luôn tìm thức ăn mới. Dê là con vật thích hoạt
ñộng nhanh nhẹn, chúng di chuyển rất nhanh
khi ăn xung quanh cây và bứt lá búp ở phần
ngon nhất rồi nhanh chóng chuyển sang cây
và bụi khác. Dê thích ăn ở ñộ cao 0,2-1,2m.
Chúng có thể ñứng bằng 2 chân rất lâu ñể bứt
lá, thậm chí còn trèo lên cây ñể chọn phần
ngon ñể ăn. Môi và lưỡi dê rất linh hoạt ñể vơ
ngoạm thức ăn và chọn loại thức ăn nào nó ưa
thích nhất.
Dê khó ăn thức ăn ñể sát mặt ñất,
thường phải quỳ chân trước xuống ñể ăn.
Dê là con vật có khả năng chịu khát rất giỏi. Devendra (1967) cho biết dê nặng 18-20
kg thì một ngày cần uống 680 ml nước ở mùa hè và 454 ml nước vào mùa xuân.
Dê là loại gia súc rất sạch sẽ, không ăn các thức ăn thừa, bẩn hay lên men thối rữa;
thức ăn rơi vãi dê thường bỏ không ăn lại
b. Tập tính ngủ nghỉ
Dê thích nằm ở những nơi cao ráo thoáng mát, thích ngủ nghỉ trên những mô ñất hoặc
trên những tảng ñá phẳng và cao. Dê ngủ nhiều lần trong ngày, nhiều lúc trong khi ngủ vẫn
nhai lại.
c. Tập tính ñàn
Hình 1-2: Tập tính ăn ngọn lá cây của dê
Dê thường sống tập trung thành từng ñàn. Mỗi con có một vị trí xã hội nhất ñịnh trong
ñàn. Do vậy, những con mới nhập ñàn thường phải thử sức ñể xác ñịnh vị trí xã hội của nó.
Chọi nhau là hình thức thử sức rất phổ biến trong ñàn dê. Con ở “ñịa vị xã hội” thấp phải
phục tùng và trong sinh hoạt phải nhường con ở “ñịa vị xã hội” cao. Trong ñàn dê thường có
con dê ñầu ñàn dẫn ñầu trên bãi chăn, ñàn dê di chuyển gặm cỏ theo con ñầu ñàn. Khi ở
do nào mà cũng phóng như bay theo một ñường tròn khá rộng, có khi theo một vòng cung,
thường là chạy quanh một vật chuẩn nào ñó, rồi bỗng nhiên nó dừng lại ñột ngột và không
hiểu vì sao, con vật lại chạy thật nhanh như tên bắn, nhảy theo một phía. Tất cả những vận
ñộng ñó ñều ñược thực hiện bằng kiểu "phi nước ñại", bằng những bước nhảy cóc ñặc trưng
cho loài, cũng có lúc nó nhảy chụm cả bốn vó bật ñi rất xa.
f. Tính hung hăng
Dê thường chọi nhau rất hăng, không riêng gì dê ñực mà cả dê cái cũng vậy. Chúng
dùng sừng húc vào mặt, vào ñầu, vào bụng ñịch thủ. Những con dê không sừng thì húc cả ñầu.
Cuộc chiến ñấu có khi kéo dài ñến nửa giờ. Tính thích húc nhau là do tính hung hăng hay gây
sự, hoặc do ñùa nhau, hoặc là do cử chỉ của một con dê trong ñàn mà chúng cho là khiêu
khích. ðôi khi do buồn sừng hay một lý do nào ñó mà dê tự nhiên chuẩn bị tư thế chiến ñấu,
nó lùi lại lấy ñà rồi cúi ñầu lao thẳng vào một bụi cây hoặc húc ñầu vào một mô ñất.
Khi gặp nguy hiểm, ñôi khi dê tỏ ra rất hăng, liều mạng, nhưng nhiều khi lại tỏ ra rất
nhát, dễ hoảng sợ trước một vật lạ.
g. Trí khôn ngoan và thông minh của dê
Nhiều người nuôi dê phàn nàn cho là dê ương bướng. Tuy nhiên dê cũng là con vật rất
khôn ngoan, biết quý mến người chăm sóc chúng. Dê có khả năng nhớ ñược nơi ở của mình
cũng như tên của nó khi con người ñặt cho. Nó nhận biết ñược người chủ của chúng từ xa về
và thường kêu ầm lên ñể ñón chào. Nhiều lúc dê phạm lỗi bị phạt ñòn thì không kêu, nhưng
nếu bị ñánh oan thì dê kêu be be ầm ĩ ñể phản ñối.
h. Tập tính sinh dục
Dê hoạt ñộng sinh dục quanh năm và có khả năng phối giống rất mạnh. Dê ñực có tính
hay ghen nên nếu có một dê ñực khác ñến gần một dê cái thì nó húc ñầu ñánh ñuổi.
Ở dê cái sự ñộng hớn cũng rất mạnh và nhiều khi dê cái tự tìm ñến dê ñực ñể ñược giao phối.
1.3. Một số chỉ tiêu sinh lý quan trọng của dê
Một số chỉ tiêu sinh lý của dê biến ñộng như sau:
Mạch ñập 70-80 lần/phút
Nhịp thở 12-20 lần/phút
Tần số nhai lại 1-1,5 lần/phút
ðộng dục lần ñầu 4-12 tháng
Thời gian ñộng dục 12-36 giờ (trung bình 18 giờ)
Chu kỳ ñộng dục 18-23 ngày
Thời gian mang thai 148-153 ngày
Dung lượng máu 7% thể trọng
Hemoglobin 8-14 g%
Tỷ khối huyết cầu (PCV) 30-40%
Hồng cầu 8-17,5 triệu/ml
Bạch cầu 6-16 triệu/ml
Thời gian ñông máu 2,5 phút
Công thức bạch cầu :
Trung tính 30-48%
Lympho 50-70%
Ái kiềm 0-2%
Ái toan 3-8%
ðơn nhân 1-4%
Hình 1-3: Dê Cỏ
Khối lượng sơ sinh 1,7-1,9 kg, 6 tháng tuổi 11-12kg; trưởng thành 30-35 kg.
Khả năng cho sữa 350-370g/ngày với chu kỳ cho sữa là 90-105 ngày.
Tuổi phối giống lần ñầu 6-7 tháng, ñẻ 1,4 lứa/năm, bình quân 1,3 con/lứa.
Thích nghi với chăn thả quảng canh.
b. Dê Bách Thảo
Là giống dê kiêm dụng sữa-thịt. Cho ñến nay
chưa xác ñịnh ñược rõ nguồn gốc (Một số người cho
rằng nguồn gốc của nó là con lai giữa dê British-
Alpine từ Pháp với dê Ấn ðộ ñã ñược nhập vào nước
ta, nuôi qua hàng trăm năm nay).
Hình 1-6: Dê Beetal
Hình 1-5: Dê Jumnapari
Dê này cũng phàm ăn nhưng hiền lành.
c. Dê Barbari
Là giống dê ñược nhập từ Ấn ðộ
Dê có thân hình thon chắc, màu lông vàng
loang ñốm trắng như hươu sao, tai nhỏ thẳng.
Khối lượng trưởng thành 30-35 kg.
Dê cái có bầu vú phát triển, khả năng cho sữa
0,9-1kg/ngày với chu kỳ 145-148 ngày.
Khả năng sinh sản tốt (ñẻ 1,8 con/lứa và 1,7
lứa/năm).
Dê này ăn rất tạp, chịu ñựng kham khổ tốt,
hiền lành, phù hợp với hình thức chăn nuôi ở nước ta.
d. Dê Alpine
Là giống dê sữa của Pháp (nuôi nhiều ở vùng núi Alpes).
Dê có bộ lông dài, màu lông thay ñổi khác nhau từ ñen ñến trắng, tai nhỏ và thẳng.
Khối lượng trưởng thành của con cái khoảng
60 kg, con ñực 65 kg.
Năng suất sữa 900-1000 lít/1 chu kỳ cho sữa
240-250 ngày.
Dê Alpine ñã ñược nhập vào nước ta, ñang
ñược nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ
Sơn Tây và tỉnh Ninh Thuận. Tinh cọng rạ của
giống dê này cũng ñược nhập về từ Pháp, ñang
ñược dùng ñể lai tạo với dê trong nước, bước ñầu ñã