Tài liệu Đề tài "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá" - Pdf 92

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỀ TÀI:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá


2
PHẦN I
MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
KINH TẾ QUỐC DÂN
1. NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CƠ CẤU KINH TẾ.
1.1. Khái niệm cơ cấu:
Trước khi đi vào tìm hiểu khái niệm cơ cấu kinh tế chúng ta hãy tiếp
cận nó bằng khái niệm "cơ cấu". "Cơ cấu là một phạm trù triết học dùng để
biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành
hệ t hống. Cơ cấu được biểu hiện như là tập hợp những mối quan hệ liên kết
hữu cơ, các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định. Nó biểu hiện ra
như là một thuộc tính của sự vật hiện tượng nó biến đổi cùng với sự biến đổi
sự vật, hiện tượng". Vì thế khi nghiên cứu cơ cấu phải đứng trên quan điểm
hệ thống.
1.2. Khái niệm cơ cấu kinh tế:
Ở trên là khái niệm về cơ cấu, cũng như vậy đối với nền kinh tế quốc
dân, khi xem nó là một hệ thống phức tạp thì c ó thể thấy rất nhiều các bộ
phận và các kiểu cơ cấu hợp thành của chúng, tuỳ theo cách mà chúng ta
tiếp cận khi nghiên cứu.
Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống có thể
hiểu: cơ cấu kinh tế là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh tế của
nền kinh tế quốc dân, giữa chúng có mối liên hệ hữu cơ, những tương tác
qua lại cả về số lượng và chất lượng, trong những không gian và điều kiện
kinh tế - xã hội cụ thể, chúng vận động hướng vào những mục tiêu nhất
định. Theo quan điểm này cơ cấu kinh tế là phạm trù kinh tế, là nền tảng của
cơ cấu xã hội và c hế độ xã hội.
Một cách tiếp cận khác thì cho rằng: cơ cấu kinh tế hiểu một cách đầy
đủ là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt
chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong những không gian và thời gian

Là tổ hợp các ngành hợp thành các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối
liên hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân. Cơ cấu ngành phản
ánh phần nào trình độ phân công lao động xã hội chung của nền kinh tế và
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Khi phân tích cơ cấu ngành của
một quốc gia người ta thường phân tích theo 3 nhóm ngành chính:
- Nhóm ngành nông nghiệp: Gồm các ngành nông lâm, ngư nghiệp.
- Nhóm ngành công nghiệp: Gồm các ngành công nghiệp và xây
dựng.
- Nhóm ngành dịch vụ: Gồm thương mại, du lịch…
Chúng ta cần nghiên cứu loại cơ cấu này nhằm tìm ra cách thức duy
trì tính tỷ lệ hợp lý của chúng và những lĩnh vực cần ưu tiên tập trung cao
nguồn lực có hạn của mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ nhằm thúc đẩy sự phát
triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân một cách nhanh nhất, có hiệu quả
nhất.
b. Cơ cấu vùng, lãnh thổ kinh tế:
Nếu cơ cấu ngành kinh tế hình thành từ quá trình phân công lao động
xã hội và chuyên môn hoá sản xuất thì cơ cấu vùng - lãnh thổ lại được hình
thành chủ yếu từ việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý. Cơ cấu vùng -
lãnh thổ kinh tế và cơ cấu ngành kinh tế thực chất là hai mặt của một hệ
thống nhất và đều là biểu hiện của sự phân công lao động xã hoọi. Cơ cấu
vùng lãnh thổ hình thành gắn liền với cơ cấu ngành và thống nhất trong
vùng kinh tế. Trong cơ cấu vùng - lãnh thổ kinh tế có sự biểu hiện của cơ
cấu ngành trong điều kiện cụ thể của không gian lãnh thổ. Loại cơ cấu này
phản ánh những mối liên hệ kinh tế giữa các vùng lãnh thổ của một đất nước
trong hoạt động kinh tế. Thông thường cơ cấu này bao gồm cơ cấu khu vực
kinh tế thành thị và nông thôn, khu vực kinh tế trọng điểm và phi trọng
điểm, khu vực kinh tế đồng bằng và miền núi…
c. Cơ cấu thành phần kinh tế:
Nếu như phân công lao động sản xuất đã là cơ sở hình thành cơ cấu
ngành và cơ cấu lãnh thổ - vùng, thì chế độ sở hữu là cơ sở hình thành cơ

khẩu chiếm tỷ trọng cao.
e. Cơ cấu công nghệ sản xuất:
Phản ánh số lượng và tỷ lệ các loại công nghệ đang và sẽ sử dụng
trong nền kinh tế. Một nền kinh tế thường sử dụng những loại công nghệ
khác nhau: công nghệ kém hiện đại, công nghệ hiện đại, công nghệ tiên tiến,
công nghệ sử dụng nhiều lao động, sử dụng ít lao động, công nghệ sạch,
công nghệ gây ô nhiễm. Vai trò, vị trí quan hệ tương hỗ và tỷ lệ giữa các
loại công nghệ nói trên trong quá trình phát triển nền kinh tế tạo thành cơ
cấu công nghệ của nền kinh tế đó.
f. Cơ cấu kết cấu hạ tầng:
Nền kinh tế quốc dân muốn phát triển phải có cơ cấu hạ tầng hợp lý,
cơ cấu kết cấu hạ tầng của nền kinh tế là số lượng, quan hệ tỷ lệ, vị trí, vai
trò của các ngành thuộc kết cấu hạ tầng kỹ thuật, xã hội. Thuộc các ngành
cơ cở hạ tầng kỹ thuật có ngành điện, giao thông, nước, thông tin liên lạc,

5
các ngành thuộc cơ sở hạ tầng xã hội gồm: giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá,
pháp lý…
Ngoài các loại cơ cấu kinh tế kể trên còn có nhiều loại cơ cấu khác
nữa nhưng trong phạm vi bài viết xin được chỉ nêu những cơ cấu cơ bản có
sự ảnh hưởng lớn đến cơ cấu ngành mà thôi.
1.4. Vai trò của cơ cấu kinh tế trong quá trình phát triển kinh tế:
Cơ cấu kinh tế là nhân tố cơ bản quyết định sự tồn tại, phát triển kinh
tế các nước. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng phát triển thì phải hợp lý,
tiên tiến, đáp ứng nhu cầu đặt ra của thời đại không một nền kinh tế nào chỉ
dựa vào nông nghiệp, công nghiệp hay dịch vụ. Cơ cấu kinh tế hợp lý cho
phép khai thông tạo động lực cho việc khai thác có hiệu quả nguồn lực trong
ngoài nước.
Việc hình thành cơ cấu kinh tế được diễn ra theo hai quá trình tự phát
và có kế hoạch. Ngày nay để được thực hiện được mục tiêu tổng quát trong

Mô hình chung nhất của hầu hết các nước trên thế giới là một nền
kinh tế năng động công nghiệp hoá cùng với sự phát triển cân đối giưã các
ngành; phát triển hệ thống tài chính tăng cường các mối quan hệ tài chính
nhằm khuyến khích đạt tỷ lệ đầu tư cao. Vai trò quan trọng của chính phủ
trong việc hoạch định chính sách điều chỉnh, có khả năng đối phó với những
biến động bất thường của trong nước cũng như người nước.
* Thứ nhất: Công nghiệp hoá cùng với sự phát triển cân đối các
ngành:
Đây là loại yếu tố có lợi đặc biệt so với phương chuyên môn hoá
trong sản xuất nông nghịêp. Mô hình này không ủng hộ chiến lược phát triển
một ngành duy nhất. Nó khẳng định đầu tư là yếu tố quan trọng quyết định
phát triển. Nó có khả năng ứng phó linh hoạt với những biến động bất
thường và dễ hoà nhập với quốc tế.
* Thứ hai: Phát triển hệ thống tài chính, tăng cường các mối quan hệ
nhằm khuyến khích đạt tỷ lệ đầu tư cao.
Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển thì hệ thống tài chính
tăng trưởng nhanh hơn nhiều so với GDP và cuả cải. Tuy nhiên mối quan hệ
nhân quả không phải một chiều và sự phát triển của khu vực tài chính đã đáp
ứng cho nhu cầu ngày càng từng của các khu vực khác trong nền kinh tế về
dịch vụ tài chính. Như vậy sẽ thúc đẩy gia tăng đầu tư với tỷ suất lợi nhuận
khả quan nhất và chi phí giao dịch thấp nhất. Nó có thể khuyến khích tính
linh hoạt kinh tế bằng cách tăng hiệu quả của chính sách tiền tệ, tạo môi
trường kinh tế vĩ mô ổn định, cân đối. Tăng khả năng điều chỉnh nhu cầu về
tiền tệ thông qua chính sách lãi suất và c ác chính sách khác, cải thiện cơ sở,
thể chế kiểm soát cung ứng tiền tệ thông qua các giao dịch trên thị trường
mở.
* Thứ ba: Vai trò nhiệmn vụ của nhà nước.
Trong mô hình này Nhà nước đóng vai trò quan trọng. Nếu nhà nước
hoạt động có hiệu quả sẽ tạo ra những thành phần có tính chất sống còn cho
sự phát triển. Thị trường phải được phát triển trong sự vận hành của nhà

cấu kinh tế.
b. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mô hình hướng ngoại.
Mô hình hướng ngoại là mô hình với chính sách chuyển dịch cơ cấu
kinh tế phát triển theo hướng phát triển nhiều hơn, có thể thúc đẩy thương
mại và các luồng tư bản đổ vào khuyến khích lợi nhuận giữa việc sản xuất
cho thị trường trong nước hay thị trong ngoài nước tạo ra khả năng sinh lãi
cao hơn trong việc sản xuất hàng hoá xuất khẩu. Có hai loại hình của chiến
lược kinh tế mở cửa đó là:
* Thứ nhất: Tạo ra các khuyến khíc về giá cả một cách tích cực theo
hướng có lợi cho xuất khẩu.
* Thứ hai: Tạo ra sự trung lập thích hợp về giá cả giữa sản xuất cho
thị trường trong nước và ngoài nước. Tức là chuyển các khuyến khích theo
hướng có lợi cho sự mở cửa.
Đặc điểm của chính sách hướng ngoại ban đầu ở các nước đang phát
triển là hướng vào xuất khẩu những hàng nông sản truyền thống và thực
hiện chính sách thuế nhập khẩu vừa phải để tăng nguồn thu cho chính phủ,
nhằm nâng cao cơ sở hạ tầng hỗ trợ cho xuất khẩu. Mô hình này được thực
hiện với các chính sách thương mại thiên về ủng hộ sự thay thế nhập khẩu,
tạo một biểu thuế nhập khẩu đem lại nguồn thu thích hợp mà không cần bảo
hộ mạnh mẽ. Sau khi hoàn thành giai đoạn đầu của việc thay thế nhập khẩu
các nước phát triển thường chuyển sang các chính sách hướng ngoại đối với
các ngành chế tạo máy. Cách tốt nhất là quan tâm đến việc cung cấp các đầu
vào cho các nhà xuất khẩu trong khi cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng đầy đủ.
Chuyển dịch cơ cấu theo mô hình hướng ngoại rất có ý nghĩa đối với
thuế quan và các hình thức khác của chính sách bảo hộ mậu dịch, chính sách
tỷ giá hối đoái và quản lý kinh tế vĩ mô trong nước. Ưu tiên của mô hình này
là thúc đẩy quá trình đổi mới, tăng năng suất lao động nhanh, tạo ra khả

8
năng thích nghi cho nền kinh tế, tác động tốt đến quá trình phát triển dài

dịch cơ cấu kinh tế chúng ta thấy sức ép và nhu cầu của thị trươngf, yêu cầu
phát triển kinh tế đòi hỏi phải thay thế, thay đổi cơ cấu ngành của nền kinh
tế gọi là chuyển dịch cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác,
hợp lý hơn và hiệu quả hơn.
Chuyển dịch cơ cấu ngành phải được coi là điểm trọng yếu một nội
dung cơ bản lâu dài trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nếu xác
định phương hướng, giải pháp chuyển dịch đúng sẽ đảm bảo hiệu quả kinh
tế xã hội cao trong sự phát triển. Ngược lại sẽ phải trả giá đặt cho những sự
phát triển về sau.
Trong sự phát triển thời đại ngày nay, sự thay đổi nhanh chóng của
nhu cầu thị trường và tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ ở các nước đều
đặt ra vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành. Riêng ở các nước đang phát triển,

9
chuyển dịch cơ cấu ngành phải luôn luôn gắn liền với công nghiệp hoá, hiện
đại hoá là tạo lập cơ cấu ngành phù hợp với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước. Yêu cầu đặt ra là phải định vị được một cơ cấu các ngành
kinh tế, xác định hợp lý các ngành mũi nhọn, trong điểm cho phù hợp với
mỗi giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành thành công hay thất bại phụ thuộc
rất nhiều vào khâu quyết định chủ trương chính sách chuyển dịch và tổ chức
thực hiện mục tiêu nhiệm vụ đã xác định. Ở đây nhà nước có vai trò quyết
định trong việc hoạch định chủ trương và chính sách kinh tế vĩ mô, còn các
doanh nghiệp thì có vai trò quyết định việc thực thi phương hướng nhiệm vụ
chuyển dịch.
2.4. Những yếu tố ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu ngành của
nền kinh tế.
Đối với cơ cấu kinh tế thì nó chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhóm nhân tố,
có thể kể ra đây gồm những nhóm như:
- Nhóm những nhân tố chính trị xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status