Đau mắt đỏ - Đừng chủ quan!
Đau mắt đỏ là một thuật ngữ có tính chất dân gian nhiều hơn là khái niệm
bệnh học chính thống. Tựu trung, nhân dân cho rằng đau mắt đỏ nghĩa là thấy mắt
đỏ hơn bình thường kèm theo những khó chịu không trầm trọng lắm ví như cộm,
rát, ra dỉ, ngứa, đau nhức ít hoặc không đau nhức, thị lực không giảm hoặc giảm
không đáng kể. Giới chuyên khoa mắt thì định khu rõ ràng hơn đó là các trường
hợp mắt đỏ nhưng không có đau nhức và giảm thị lực. Đỏ mắt có đau nhức và
giảm thị lực mang tính chất nghiêm trọng hơn, điều trị khó khăn hơn và hậu quả
cũng nặng nề hơn. Chúng ta sẽ bàn luận sâu hơn về bệnh đau mắt đỏ với sự tách
biệt rõ ràng với nhóm còn lại: chúng không thuộc nhóm gây mù lòa nếu không có
biến chứng và được điều trị thích đáng.
Chắc chắn là bất cứ ai trong đời cũng đã có lần bị đau mắt đỏ. Cảm giác rất
giống nhau: đỏ mắt do người khác báo cho bạn hoặc tự bạn soi gương mà thấy,
cảm giác bất ổn trong mắt: cộm, ngứa, căng tức ở trong mắt hơn là một đau nhức
thực thụ, ra dỉ mắt nhiều hoặc rất nhiều. Những khó chịu khác có thể biểu hiện
toàn thân hoặc quanh mắt: sốt, nổi hạch, đau họng, viêm mũi xoang, đau răng...
Cách phân loại để điều trị rất phong phú thế nhưng dựa theo bệnh nguyên
vẫn là phổ biến và được chấp nhận nhiều nhất. Chúng ta hãy đi từ đơn giản đến
phức tạp :
Đỏ mắt do tác nhân hóa lý từ môi trường: Đỏ mắt xuất hiện nhanh, mất đi
nhanh dù điều trị hay không điều trị, có mối quan hệ nhân quả với tác nhân ngoại
lai. Chúng ta có vô vàn ví dụ cho đỏ mắt thuộc nhóm này: gió, bụi, nước mưa, đi
bơi, dùng rượu bia, khói, cảm động, khóc lóc... Cần nói ngay là điều trị trong
những trường hợp này chỉ đơn giản là nước muối sinh lý, nước mắt nhân tạo hay
hỗn dịch mà nhiều hãng đang bán rộng rãi trên thị trường: Osla, naphacollyre, V-
Rohto, visime, daigaku. Hỗn dịch thường chứa chất co mạch, chất kháng histamin
(chống ngứa), chất sát trùng do vậy nhìn chung chúng sẽ giải quyết ổn thỏa đỏ mắt
thuộc nhóm này.
Đỏ mắt do nguyên nhân toàn thân: Nếu ai đó đã trải qua cảm mạo, sốt nóng
đều thấy mắt mình đỏ lên nhiều. Nhiễm virut trong những ngày đầu ngoài việc sốt
thuốc để chăm sóc mắt bị bệnh. Bệnh lây lan rất nhanh chóng và dễ dàng do virut
tồn tại ở môi trường tới vài ngày, kháng cồn và ê-the tốt. Đường lây cũng rất đa
dạng: tiếp xúc trực tiếp, qua nước bọt, qua sinh hoạt tình dục. Chúng ta không giơ
tay đầu hàng với căn bệnh này thế nhưng chính người bệnh và các bác sĩ chuyên
khoa mắt phải có ý thức phòng bệnh cho mình và cộng đồng thì dịch mới có thể
được ngăn chặn. Lạm dụng thuốc, điều trị tùy tiện cũng làm khoảng 10-15% bệnh
nhân bị đau mắt dịch có những biến chứng có thể làm giảm thị lực hay mù lòa như
viêm loét giác mạc, sẹo giác mạc...
Viêm kết mạc do các chủng virut khác như do herpes simplex, virut zona
mang tính cá nhân. Cần thăm khám thận trọng và hỏi bệnh kỹ càng mới chẩn đoán
chính xác được.
Điều trị nói chung chỉ cần nước muối sinh lý 0,9%, kháng sinh nhỏ mắt.
Việc dùng các thuốc chống viêm hay kháng virut sẽ cần tư vấn của bác sĩ chuyên
khoa mắt.
Viêm kết mạc dị ứng: Có từ 25 - 40% dân số có viêm kết mạc dị ứng với
các mức độ khác nhau. Số lượng bệnh nhân có vẻ ngày càng tăng do ô nhiễm môi
trường, khí hậu trái đất nóng lên. Bên cạnh đó thì mất cân bằng dinh dưỡng, tiêu
thụ mỡ động vật quá nhiều, dùng kháng sinh bừa bãi cũng là nguyên nhân khả dĩ
của sự gia tăng này. Viêm kết mạc dị ứng có 3 dạng: viêm kết mạc mùa xuân,
viêm kết mạc cơ địa dị ứng và viêm kết mạc có nhú khổng lồ. Hai dạng đầu
thường xuất hiện trên người có cơ địa dị ứng, gây bệnh sớm ngay trong 10 năm
đầu đời. Dạng thứ 3 liên quan đến việc mang kính tiếp xúc. Chẩn đoán xác định
khá phức tạp. Nhưng bù lại chúng ta cần chú ý hai điểm mấu chốt: bệnh nhân đến
viện chủ yếu do ngứa mắt, điều trị bằng nước mắt nhân tạo và thuốc kháng dị ứng
nhỏ mắt đem lại dễ chịu nhanh cho người bệnh.
Các thuốc điều trị dị ứng nói chung và dị ứng tại mắt nói riêng đã gặt hái
được rất nhiều thành công. Các thuốc kháng histamin loại nhỏ mắt, thuốc ức chế
giải phóng hạt từ dưỡng bào, cyclosporin lần lượt ra đời nhằm xoa dịu cái ngứa
của bệnh nhân. Tránh nóng, tránh tiếp xúc với dị nguyên, giải mẫn cảm đặc hiệu
cũng là những biện pháp cần thiết để giảm tần suất phải nhập viện điều trị.