Chuyên đề thực tập
LỜI NÓI ĐẦU
Sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở tồn tại của xã hội loài người. Trong
đó mỗi một đơn vị sản xuất kinh doanh lại là một tế bào của nền kinh tế quốc
dân, nơi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm, thực
hiện cung cấp các lao vụ, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Xã hội càng phát triển thì càng đòi hỏi sự đa dạng và phong phú cả về
số lượng, chất lượng của các loại sản phẩm. Điều đó đặt ra câu hỏi lớn cho
các doanh nghiệp sản xuất là sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? sản xuất như
thế nào? Vì thế các doanh nghiệp cần phải đặc biệt quan tâm đến khách hàng,
nhu cầu và thị hiếu của khách hàng để sản xuất và cung ứng những sản phẩm
phù hợp. Muốn tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải bằng mọi cách
đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng, được người tiêu dùng chấp nhận và thu
được lợi nhuận nhiều nhất có nghĩa là doanh nghiệp phải thực hiện tốt công
tác tiêu thụ sản phẩm. Một trong những yếu tố quyết định điều đó là phải thực
hiện tốt công tác hạch toán tiêu thụ thành phẩm. Hạch toán tiêu thụ thành
phẩm sẽ cho doanh nghiệp có cái nhìn tổng quát về kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của mình một cách cụ thể thông qua các chỉ tiêu doanh thu
và kết quả lỗ, lãi. Đồng thời còn cung cấp những thông tin quan trọng giúp
cho các nhà quản lý phân tích, đánh giá, lựa chọn các phương án sản xuất,
kinh doanh để đầu tư vào doanh nghiệp có hiệu quả nhất.
Qua quá trình học tập và thời gian tìm hiểu thực tế tại Công ty cổ phần
tấm lợp và vật liệu xây dựng Đông Anh, em đã nhận thức được tầm quan
trọng của công tác hạch toán tiêu thụ thành phẩm. Chính vì vậy mà em đã
chọn đề tài:
Tổ chức hạch toán thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết
quả tiêu thụ tại Công ty cổ phần tấm lợp và vật liệu xây dựng Đông Anh.
Chuyên đề thực tập của em gồm hai phần chính:
Ho ng Dià ệu Ly - Kế toán 43D
1
Chuyên đề thực tập
kỳ này nền kinh tế nước ta chưa đổi mới, vẫn là nền kinh tế tập trung quan
liêu bao cấp, công ty được liên hiệp giao cho nghĩa vụ và quyền hạn kinh
doanh vật tư và sản xuất theo chỉ tiêu củ hội liên hiệp giao cho và luôn luôn
hoàn thành các chỉ tiêu, kế hoach mà cấp trên đã đề ra.
* Giai đoạn II (1985 – 1989): Xí nghiệp chuyển sang tổ chức hạch toán
kinh tế độc lập với nghĩa vụ chính là hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ và
mục tiêu nghành nghề. Theo quy định ban đầu là tổ chức tiếp nhận và cung
ứng vật tư thiết bị phục vụ cho toàn liên hiệp.
* Giai đoạn III (1989 – 1998): Thời kỳ đầu của giai đoạn này nền kinh
tế của nước ta chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Xí nghiệp phải tự tìm đầu vào và đầu ra cho
sản phẩm của mình, tự xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh. Do đó xí
nghiệp gặp nhiều khó khăn, giá cả vật tư theo giá thị trường, vận tải gặp rất
nhiều khó khăn vì máy móc, trang thiết bị lạc hậu, chi phí xăng dầu lên cao
Ho ng Dià ệu Ly - Kế toán 43D
3
Chuyên đề thực tập
nhưng giá cước vẫn không tăng (do phải cạnh tranh). Trước tình hình đó, để
tồn tại và phát triển phù hợp với nền kinh tế đổi mới, giám đốc xí nghiệp đã
bàn bạc với tập thể cán bộ xí nghiệp, được phép của tổng liên hiệp, mở rộng
sản xuất bằng cách liên doanh với nhà máy tấm lợp Amiăng Ximăng Đồng
Nai lắp ráp một dây chuyền sản xuất tấm lợp Amiăng và đồng thời xí nghiệp
dùng vốn tự có mua sắm phương tiện vận tải phục vụ cho công tác sản xuất
của xí nghiệp.
Ngày 20/02/1993 xí nghiệp được thành lập lại theo quyết định số 584/
BXD-TCLĐ và đến tháng 1 năm 1996 Xí nghiệp cung ứng vật tư vận tải đổi
tên thành Xí nghiệp vật tư sản xuất vật liệu xây dựng Đông Anh và Tổng liên
hiệp thi công cơ giới đổi tên thành Tổng công ty xây dựng và phát triển hạ
tầng thuộc bộ xây dựng với nhiệm vụ chính là sản xuất tấm lợp kim loại. Do
biết chú trọng tốt đến các yêu cầu đòi hỏi của thị trường mà từ năm 1994 trở
Hội đồng quản trị
Ban kiểm soát
Tổng giám đốc
Phó giám đốc
Phòngt
ổ
chức
h nh à
chính
Phòng
kinh
tế kế
hoạch
Phòng
công
nghệ
cơ
điện
Phòng
t i à
chính
kế
toán
Phòng
kinh
doanh
tiếp
thị
Phòng
KCS
năm của công ty, cân đối nhiệm vụ, kế hoạch giao cho các phân xưởng, đội
chỉ đạo sản xuất hàng ngày, tuần, tháng.
* Phòng tài chính kế toán: Có nhiệm vụ giúp tổng giám đốc tổ chức chỉ
đạo công tác kế toán và thống kê, đồng thời kiểm tra, kiểm soát công tác tài
chính của công ty, có trách nhiệm quản lý vốn, quỹ, tài sản, bảo toàn và sử
dụng vốn của công ty có hiệu quả, lập báo cáo quyết toán hàng quý, hàng năm
lên cơ quan cấp trên, cơ quan thuế và các đối tượng khác.
* Phòng tổ chức-hành chính: Có nhiệm vụ về công tác tổ chức, công
tác hành chính, bảo vệ, an ninh, y tế... cụ thể là phân công lao động, xây dựng
các nội quy, quy chế, kỷ luật lao động...
* Phòng công nghệ cơ điện: Có nhiệm vụ về lĩnh vực quản lý kỹ thuật,
máy móc điện và các thiết bị khác.
* Phòng kinh doanh tiếp thị: Tìm nguồn hàng, lập kế hoạch ký kết các
hợp đồng kinh tế về cung cấp nguyên liệu, vật tư cho sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm.
* Phòng kinh tế-kế hoạch: Tham mưu cho tổng giám đốc xây dựng sản
xuất, kỹ thuật, tài chính, đời sống... xây dựng dự án, kế hoạch giá thành các
công trình...
Ho ng Dià ệu Ly - Kế toán 43D
6
Chuyên đề thực tập
* Phòng KCS (kiểm tra chất lượng sản phẩm): Chịu trách nhiệm kiểm
tra chất lượng sản phẩm, có trách nhiệm nghiêm chỉnh thực hiện quy định,
pháp luật nhà nước, quyết định và chỉ thị của cơ quan cấp trên về kiểm tra
chất lượng sản phẩm.
* Phân xưởng sản xuất tấm lợp AC (PXTLAC): Là một phân xưởng
của công ty chuyên sản xuất tấm lợp Amiăng xi măng.
Đội xe vận tải và đội xây lắp: Làm nhiệm vụ vận chuyển nguyên vật
liệu Amiăng xi măng và vận chuyển tấm lợp theo yêu cầu của khách hàng.
Chuyên xây dựng và lắp đặt mới theo đơn đặt hàng.
Chuyên đề thực tập
Sơ đồ 2: Quy trình sản xuất sản phẩm của công ty
Ho ng Dià ệu Ly - Kế toán 43D
9
Bảo dưỡng trong bể nước
Để nguội dỡ khuôn
Nồi hơi
Nghiền ba-via
Nhập kho
Kho nguyên vật liệu
Giấy
amiăng
Ximăng
Nước đục
Ngâm-xé
Cân
Cân
Cân
Nghiền
Máy trộn
holander
Nước
trong
Đong
Bể bùn
Bể phân phối Pulper
Bể xeo
Băng tải dạ
Xi lanh tạo tấm phẳng
Băng tải cao su
kế toán về doanh thu,
tiền mặt, thanh toán với
người mua...
Kế toán chi tiết, kế
toán với ngân h ng, à
KT vật liệu, kế
toán với người
bán...
Thủ quỹ
Chuyên đề thực tập
là ngắn, vì vậy mà không có chi phí sản phẩm dở dang nên cuối kỳ không
phải đánh giá sản phẩm dở dang.
III. Tổ chức hạch toán thành phẩm tại Công ty cổ phần tấm lợp và vật
liệu xây dựng Đông Anh.
1. Đặc điểm về thành phẩm của Công ty
Sản phẩm chính của công ty bao gồm 2 loại là: Tấm lợp amiăng-
ximăng (tấm lợp AC) và tấm lợp kim loại (tấm lợp KLM). Đây là các loại vật
liệu phục vụ cho các công trình xây dựng ở giai đoạn hoàn thiện.
Đặc điểm của sản phẩm: Sản phẩm của công ty trước hết có tính đa
dạng và chất lượng sản phẩm cao bởi sản phẩm được sản xuất trên dây truyền
công nghệ hiện đại, công nghệ Châu Âu, vật liệu được nhập từ Úc, Nhật, Hàn
quốc, Đài Loan theo các tiêu chuẩn JIS của Nhật, ASTM của Mỹ và AS của
úc.
Tấm lợp amiăng-ximăng: Do công ty sản xuất chất lượng cao, có uy tín
trên thị trường mang nhãn hiệu độc quyền “Đông Anh” theo quyết định số
0186/QĐNH ngày 17/01/1998 của cục sở hữu công nghiệp Việt Nam.
Tấm lợp kim loại: Được sản xuất trên dây truyền hiện đại, công nghệ
Thuỵ Điển và Phần lan, có các dạng sóng ngói, sóng vuông, Klip-lok, vòm và
các phụ trình công nghiệp và dân dụng.
Nhìn chung sản phẩm của công ty đa dạng, chịu nhiệt tốt, phù hợp với
nhập trong kỳ/số lượng thành phẩm thực tế tồn và nhập trong kỳ X số lượng
xuất.
Ví dụ: Tính giá xuất kho của Tấm lợp AC
Giá thành thực tế TL AC xuất kho:
= (52500000 +17675000000)/ (3000 + 1010000) X 1013000 =
17727500000
3. Hạch toán chi tiết và hạch toán tổng hợp thành phẩm ở công ty.
Để phù hợp với quy mô sản xuất của doanh nghiệp, Công ty cổ phần
tấm lợp và vật liệu xây dựng Đông Anh đã áp dụng hình thức kế toán Nhật ký
Ho ng Dià ệu Ly - Kế toán 43D
12
Chuyên đề thực tập
chung và áp dụng phương pháp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê
khai thường xuyên. Để quản lý thành phẩm một cách chặt chẽ về mặt số
lượng, giá trị theo từng loại thành phẩm Công ty cổ phần tấm lợp và vật liệu
xây dựng Đông Anh đã tổ chức kiểm tra chi tiết và tổng hợp thành phẩm một
cách khoa học và hợp lý. Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều được phản ánh
vào các chứng từ kế toán. Công tác kế toán thành phẩm trong Công ty sử
dụng 2 loại chứng từ là phiếu nhập kho thành phẩm và hóa đơn giá trị gia tăng
kiêm phiếu xuất kho.
3.1. Hạch toán chi tiết thành phẩm
3.1.1. Chứng từ kế toán và thủ tục nhập xuất kho thành phẩm
- Đối với thành phẩm nhập kho: Khi có thành phẩm hoàn thành Biên
bản nghiệm thu sản phẩm hoàn thành do phòng KCS lập. Phòng kinh doanh
viết phiếu nhập kho thành phẩm, phiếu nhập kho thành phẩm được lập thành
3 liên (đặt giấy than viết 1 lần):
Liên 1: Lưu tại quyển ( Phòng kinh doanh)
Liên 2, liên 3: Giao cho người nhập.
Người nhập hàng mang 2 liên phiếu nhập kho xuống kho thành phẩm
để nhập hàng. Thủ kho kiểm tra số lượng và chất lượng hàng nhập, ghi số
Đơn giá
Thành
tiền
1 Tấm lợp AC Tấm 23 000 23 000
Cộng 23 000 23 000
Thủ trưởng đơn vị Người viết phiếu Người giao hàng Thủ kho
(Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)
Phiếu nhập kho phải có đáy đủ chữ ký mới được coi là hợp pháp.
Trong trường hợp hàng bán bị trả lại thì sau khi được sự đồng ý của
Giám đốc và phòng kinh doanh, thủ kho tiến hành nhập kho và phiếu nhập
kho được lập thành 3 liên.
- Đối với thành phẩm xuất kho: Khi xuất kho thành phẩm (Căn cứ vào
hợp đồng, phiếu đặt mua hàng hoặc yêu cầu mua hàng) đã được giám đốc
duyệt, phòng kinh doanh viết hoá đơn GTGT. Hoá đơn được lập thành 3 liên
(đặt giấy than viết 1 lần):
Liên 1: Lưu trên quyển hoá đơn
Liên 2: Giao cho khách hàng
Liên 3: Dùng để thanh toán
Ho ng Dià ệu Ly - Kế toán 43D
14
Chuyên đề thực tập
Người mua mang 2 liên hoá đơn (liên 2, 3) tới kho thành phẩm để nhận
hàng. Thủ kho kiểm tra số lượng hàng xuất, ghi số lượng thực xuất vào cột
thực xuất, ký xác nhận vào cả 2 liên. Liên 2 giao cho khách hàng, liên 3 dùng
để vào thẻ kho. Định kỳ thủ kho đối chiếu với kế toán theo dõi thành phẩm ký
xác nhận vào thẻ kho và giao liên 1 cho kế toán để thanh toán với khách hàng.
Ví dụ: Ngày 15 tháng 1 năm 2005 xuất 5000 tấm lợp AC cho Công ty
TNHH thương mại và sản xuất Ba Tám theo hợp đồng kinh tế số 350/BT-VT
ký ngày 20/12/2004.
HÓA ĐƠN GTGT
Đông Anh được tiến hành theo phương pháp ghi sổ song song. Cụ thể:
* Ở kho: Việc hạch toán chi tiết thành phẩm thực hiện trên thẻ kho
thành phẩm.
Hàng ngày căn cứ vào các chứng từ nhập và xuất kho thành phẩm thủ
kho ghi số lượng thực nhập, thực xuất vào thẻ kho sau khi đã kiểm tra tính
hợp lý, hợp pháp của chứng từ.
Cuối tháng sau khi đã phản ánh tất cả các nghiệp vụ nhập kho thành
phẩm, thủ kho tính được số lượng thành phẩm tồn kho cuối tháng.
Bảng số 1:
Công ty cổ phần tấm lợp và vật liệu xây dựng Đông Anh
TÊN KHO: KHO THÀNH PHẨM
THẺ KHO
Ngày lập thẻ :31/01/2005
Tên thành phẩm : Tấm lợp AC
Đơn vị tính : Tấm
Mã số :
Chứng từ
Ngày
tháng
Số phiếu
Nhập Xuất
Diễn giải
Số lượng
Nhập Xuất Tồn
Ký
xác
nhận
Kiểm kê 01/01/2005 3000
03/01 13 Nhập từ phân xưởng TL AC 25 000
05/01 15 Nhập từ phân xưởng TL AC 23 000
Chứng từ
Số
hiệu
Ngày
tháng
Diễn
giải
TK
đối
ứng
Đơn
giá
Nhập Xuất Tồn
SL TT SL TT SL TT
13
15
03/01
05/01
15/01
PX TL
AC
BaTám
154
154
632
......
25
23
5
28
Tấm
m
2
3 52500 1010
55
17 675 000
3 382 500
1013
55
17 727 500
3 382 500
0
0
0
0
Cộng 52500 21 057 500 21 110 000 0
3.2. Hạch toán tổng hợp thành phẩm
Ngoài việc theo dõi chi tiết tình hình nhập – xuất – tồn kho thành phẩm, kế
toán trong Công ty còn phải phản ánh tình hình này theo chỉ tiêu giá trị trên sổ
kế toán tổng hợp.
3.2.1. Tài khoản sử dụng
- Tài khoản 155: Thành phẩm
- Tài khoản154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
- Tài khoản 632: Giá vốn hàng bán
Xuất phát từ đặc điểm của Công ty cổ phần tấm lợp và vật liệu xây
dựng Đông Anh là áp dụng hình thức hạch toán hàng tồn kho theo phương
pháp kê khai thường xuyên. Theo phương pháp này khi nhập, xuất kho thành
phẩm kế toán phản ánh vào sổ kế toán theo giá vốn (giá thành sản xuất), điều
này phụ thuộc vào kỳ tính giá thành. Theo quy định của Công ty thì kỳ tính
Ho ng Dià ệu Ly - Kế toán 43D
Cuối tháng kết chuyển giá vốn hàng bán đã tiêu thụ để xác định kết quả
kinh doanh, kế toán ghi:
Nợ TK 911 : 21 110 000 000
Ho ng Dià ệu Ly - Kế toán 43D
19
Chuyên đề thực tập
Có TK 632 : 21 110 000 000
Tất cả các nghiệp vụ liên quan đến thành phẩm, giá vốn hàng bán đều
được phản ánh trên nhật ký chung và sổ cái các tài khoản.
Bảng số 4:
Công ty cổ phần tấm lợp và vật liệu xây dựng Đông Anh
NHẬT KÝ CHUNG
Tháng 01 năm 2005
Đơn vị tính: đồng
Trang số 31
Chứng từ
Số
hiệu
Ngày
tháng
Diễn giải TK
ĐƯ
Số tiền
Nợ Có
Cộng mang sang 90540557183 90540557183
PN 31/01
.............
Nhập kho thành phẩm tháng 1
Thành phẩm
Sản xuất kinh doanh dở dang
796553121
796553121
BK911 31/01 K/c doanh thu bán hàng
Doanh thu bán hàng
Xác định kết quả kinh doanh
511
911
23093569872
23093569872
BK911 31/01 K/c LN sản xuất kinh doanh
Xác định kết quả kinh doanh
Lợi nhuận chưa phân phối
911
421
419886198
419886198
Cộng 178896996927 178896996927
Kế toán tổng hợp Kế toán trưởng Giámđốc
(Ký, họ tên) (Ký, họ tên) (Ký, họ tên)
Bảng số 5
Công ty cổ phần tấm lợp và vật liệu xây dựng Đông Anh
Ho ng Dià ệu Ly - Kế toán 43D
20
Chuyên đề thực tập
SỔ CÁI TK 155
Tháng 01 năm 2005
Tên Tài khoản: Thành phẩm
Đơn vị: 1000đ
Ngày
chứng
402 500
87 500
Cộng phát sinh
Dư cuối kỳ
21 057 500
0
21 110 000
Người lập biểu Kế toán trưởng Thủ trưởng đơn vị
IV. Hạch toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ tại Công
ty cổ phần tấm lợp và vật liệu xây dựng Đông Anh.
1. Thị trường tiêu thụ thành phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là một nhiệm vụ rất quan trọng, nó quyết định đến
sự tồn tại, phát triển hay suy vong của một doanh nghiệp. Một trong những
doanh nghiệp có hiệu quả sản xuất kinh doanh tốt phải là một doanh nghiệp
tiêu thụ sản phẩm tốt và có một thị trường tốt. Nhất là trong giai đoạn hiện
nay khi tất cả các doanh nghiệp hoạt động theo quy luật của cơ chế thị trường
thì các biện pháp và chính sách để tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp càng
phức tạp và cần cụ thể tăng cường thường xuyên hơn.
Sản phẩm tấm lợp của công ty là một loại hàng hoá thuộc lĩnh vực vật
liệu xây dựng, nó dùng để lợp mái các công trình, nhà xưởng, kho tàng, nhà
Ho ng Dià ệu Ly - Kế toán 43D
21
Chuyên đề thực tập
ở... Từ ngày sản phẩm tấm lợp xuất hiện trên thị trường đến nay, nhờ có
những cố gắng và phát huy trong việc duy trì thị trường cũ tiến tới mở rộng
thị trường mới. Sản phẩm của công ty đã tạo được những ấn tượng rất tốt đối
với người tiêu dùng của toàn miền Bắc và các vùng đồng bằng.
Khối lượng sản phẩm hàng năm của công ty đang ngày một tăng lên
hàng năm, điều đó chứng tỏ công ty đã xác định đúng đối tượng thị trường
của mình, từng bước xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường miền Bắc, các vùng
* Phương thức tiêu thụ trực tiếp
- Bán cho công trình
Do sản phẩm của Công ty là tấm lợp, kết cấu thép cầu trục, cổng trục
và do đặc điểm của ngành xây dựng công nghiệp nên hoạt động bán hàng cho
công trình, dự án chiếm tỉ trọng lớn nhất trong doanh số bán hàng của Công
ty. Bán hàng thông qua ký kết hợp đồng kinh tế tạo cơ sở vững chắc về pháp
luật trong hoạt động kinh doanh của Công ty nói chung và cho mỗi nghiệp vụ
tiêu thụ nói riêng.
Mỗi hợp đồng kinh tế thường quy định rõ:
+ Về quy cách, giá cả, chủng loại, số lượng từng loại thành phẩm
(thường được liệt kê trong phụ lục đính kèm).
+ Về thời gian giao hàng
+ Về phương thức giao hàng
+ Về phương thức thanh toán
+ Về tính toán lắp đặt, bảo hành và hướng dẫn sử dụng hàng hoá
+Về các điều khoản chung
Vì khối lượng bán cho các công trình thường là rất lớn do đó mà để phù
hợp với tiến độ thi công của công trình cũng như để đảm bảo thời gian sản
xuất, Công ty thường giao hàng theo lô và chia thành nhiều đợt cho khách
hàng. Công ty cũng thường vận chuyển đến tận công trình vì có thể còn phải
tư vấn lắp đặt sản phẩm cho khách hàng. Tại đây hai bên sẽ lập biên bản giao
nhận hàng hoá, ký xác nhận về số lượng, chủng loại và quy cách của hàng
hoá. Khi xuất hàng phòng kinh doanh lập phiếu xuất kho kiêm hoá đơn
GTGT làm căn cứ xuất hàng. Công ty chỉ giao lô hàng đầu tiên khi nhận được
Ho ng Dià ệu Ly - Kế toán 43D
23
Chuyên đề thực tập
tiền đặt cọc từ phía khách hàng và khách hàng phải thanh toán những lô tiếp
theo theo đúng những điều kiện đã ghi trong hợp đồng kinh tế. Cuối cùng căn
cứ vào biên bản giao nhận hàng hoá hai bên sẽ tiến hành thanh lý hợp đồng
rồi qua đại lý lấy tiền về hoặc có thể nợ lại khi số nợ của đại lý còn ở trong
giới hạn mà Công ty cho phép.
3. Giá cả và phương thức thanh toán
* Giá cả: Để thu hút khách hàng, Công ty có một chính sách giá cả hết
sức linh hoạt, giá bán tính trên cơ sở giá thành sản xuất, điều chỉnh theo giá
thị trường đồng thời phụ thuộc mối quan hệ giữa khách hàng với Công ty trên
cơ sở giá cả cạnh tranh bù đắp chi phí đảm bảo có lợi nhuận dương.
Công ty chỉ thực hiện giảm giá đối với khách hàng mua thường xuyên,
ổn định, mua với số lượng lớn và thanh toán ngay bằng tiền mặt hoặc thanh
toán trước hạn và với khách hàng ở tỉnh xa. Phần giảm giá này Công ty có thể
thực hiện ngay hoặc cuối mỗi kỳ kinh doanh sau khi xem xét số khách hàng
mua trong kỳ để thưởng cho khách hàng mua nhiều với tỷ lệ 1% đến 3% trên
tổng doanh số bán cả năm của khách hàng.
Ngoài ra, Công ty còn thực hiện một số dịch vụ kỹ thuật, tư vấn, thiết
kế nhằm giới thiệu và hướng dẫn khách hàng lắp đặt, sử dụng các thành phẩm
của mình mà không thu phí phục vụ. Chính sách giá cả linh hoạt phù hợp với
cơ chế thị trường và các loại hình dịch vụ trên đã làm cho uy tín của Công ty
với các bạn hàng ngày càng cao và thu hút ngày càng nhiều khách hàng mới.
* Phương thức thanh toán: Công ty đã thực hiện các phương thức thanh
toán hết sức đa dạng phụ thuộc vào sự thoả thuận giữa hai bên theo hợp đồng
kinh tế đã ký kết bao gồm: tiền mặt, chuyển khoản, séc chuyển khoản, séc bảo
chi, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu...
Việc thanh toán có thể là thanh toán ngay hoặc là thanh toán chậm sau
một khoảng thời gian nhất định sau khi người mua nhận được hàng (thời hạn
thanh toán chậm tuỳ theo từng hợp đồng quy định và tuỳ thuộc mối quan hệ
với khách hàng tối đa từ 30- 45 ngày. Công ty luôn tạo mọi thuận lợi trong
khâu thanh toán đồng thời không gây thiệt hại về kinh tế cho bản thân doanh
nghiệp.
Ho ng Dià ệu Ly - Kế toán 43D
25