Tiểu luận
Giới thiệu về vận tải
đường biển_Vận đơn
đường biển
VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN GVHD: Ths.PHAN CHUNG THUỶ
Page 1
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VẬN TẢI ÐƯỜNG BIỂN
Vận tải đường biển ra đời khá sớm so với các phương thức vận tải khác.
Ngay từ thế kỷ thứ V trước công nguyên con người đã biết lợi dụng biển làm các
tuyến đường giao thông để giao lưu các vùng các miền, các quốc gia với nhau trên thế
giới. Cho đến nay vận tải biển được phát triển mạnh và trở thành ngành vận tải hi
ện
đại trong hệ thống vận tải quốc tế.
* Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của vận tải đường biển:
-Vận tải đường biển có thể phục vụ chuyên chở tất cả các loại hàng hoá trong buôn
VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN GVHD: Ths.PHAN CHUNG THUỶ
Page 2
Trong thanh toán quốc tế , chứng từ vận tải là chứng từ quan trọng nhất vì nó xác
nhận quyền sở hữu hàng hóa và được dùng làm chứng từ chủ yếu để nhận hàng ở nơi đến
.Tùy theo phương thức vận tải mà có chứng từ vận tải khác nhau. Trên thực tế, việc vận
chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu chủ yếu bằng đường biển nên vận đơn đường biển được
sử dụng phổ biến nhất.
I. ĐỊNH NGHĨA VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN (Marine Bill of Lading /
Ocean Bill of Lading).
Là chứng từ do người chuyên chở (chủ tàu, thuyền trưởng) cấp cho người gửi
hàng nhằm xác nhận việc hàng hóa đã được tiếp nhận để vận chuyển.
Tuy mỗi hãng tàu đều có mẫu vận đơn riêng, nhưng về nội dung chúng có
những điểm chung. Ở mặt trước của B/L có ghi rõ tên người gởi, người nhận (hoặc
"theo lệnh" ...), tên tàu, cảng bốc hàng, cảng dỡ hàng, tên hàng, ký mã hiệu, s
ố lượng
kiện, trọng lượng, giá cả, tổng trị giá, cách trả cước (cước trả trước hay trả tại cảng
đến), tình hình xếp hàng, số bản gốc đã lập, ngày tháng cấp vận đơn .v.v.. Mặ t sau
ghi các điều kiện chuyên chở. Khi chuyên chở hàng vừa có hợp đồng vừa có vận đơn
thì quan hệ giữa người vận tải và người nhận hàng do vận đơn điề
u chỉnh, còn quan
hệ giữa người gởi hàng và người vận tải do hợp đồng thuê tàu điều chỉnh.
Vận đơn đường biển tuy về danh nghĩa do nhà người vận tải cấp,nhưng trong
thực tế công tác,người gởi hàng phải chuẩn bị sẳn trên cơ sở mẫu chứng từ do hãng
tàu cấp.Thuyền trưởng chỉ căn cứ vào biên lai thuyền phó để kí vào vận đơn đường
biển và phê chú nếu thấy cần.
Vận đơn đường biển được lập thành một số bản gốc. Trên các bản gốc, người
ta in hoặc đóng dấu các chữ "Original". Ngoài bộ vận đơn gốc, còn có một số bản sao,
hàng hoá đã đuợc giao.Tại cảng đến ,người chuyên chở cũng phải giao cho người
nhận theo đ
úng trọng lượng ,khối luợng ,tình trạng của hàng hoá như lúc nhận ở cảng
đi ,khi người nhận xuất trình vận đơn phù hợp.
- Là một bằng chứng về những điều khoản của một hợp đồng vận tải đường
biển (Contract of Carriage) .Mặc dù bản thân vận đơn đường biển không phải là một
hợp đồng vận tải , vì nó chỉ có chử kí của mộ
t bên nhưng vận đơn có giá trị như một
hợp đồng vận tải đường biển. Nó không những điều chỉnh mối quan hệ giữa người
chuyên chở và người nhận hàng hoặc người cầm vận đơn. Nội dung của vận đơn
không chỉ được thể hiện bằng những điều khoản trên đó mà còn bị chi phối bởi các
công ước quốc tế v
ề vận đơn và vận tải đường biển.
- Là một chứng từ sở hữu hàng hóa (Document of Title), quy định hàng hóa
sẽ giao cho ai ở cảng đích, do đó cho phép mua bán hàng hóa bằng cách chuyển
nhượng B/L. Ai có vận đơn trong tay ,người đó có quyền sở hữu hàng hoá ghi trên đó.
Do có tính chất sở hữu nên vận đơn là chứng từ lưu thông được (Negotiable). Người
ta có thể mua bán , chuyển nhượng hàng hoá ghi trên vận đơn bằng cách mua bán,
chuyển nhượng v
ận đơn.
III. PHÂN LOẠI
:
1) Nếu xét theo dấu hiệu trên vận đơn có ghi chú xấu về hàng hóa hay không, thì
vận đơn được chia làm hai loại:
- Vận đơn hoàn hảo (Clean B/L) là vận đơn không có ghi chú khiếm khuyết
của hàng hóa hay bao bì.Hay nói một cách khác , trên vận đơn không có những ghi
chú , những nhận xét xấu hoặc những bảo lưu về tình trạng bên ngoài của hàng hoá.
VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN GVHD: Ths.PHAN CHUNG THUỶ
i vận đơn được dùng phổ biến vì người
mua khi yêu cầu xuất trình bộ chứng từ để thanh toán tiền hàng thường yêu cầu xuất
trình vận đơn đã xếp hàng ,tức là hàng hoá thực sự được xếp lên tàu . Việc đã xếp
hàng lên tàu ( On Board) được thể hiện trên vận đơn như sau:
+ Nếu trên vận đơn (ở góc dưới bên phải) có chữ in sẵn "Nhận để xếp"
(Received for Shipment hoặc Taken in Charge), thì khi Thuyền trưở
ng kí vận đơn ,
phải ghi thêm chữ "Đã xếp hàng lên tàu , ngày tháng năm " để chứng minh cho việc
dã xếp hàng, thể hiện bằng tiếng Anh là "Laden on Board 5 October 1997" hoặc
"Shipped on Board 5 October 1997" và ngày đó là ngày giao hàng.
VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN GVHD: Ths.PHAN CHUNG THUỶ
Page 5
+Nếu trên vận đơn có ghi sẵn chữ "Shipped on Board", thì không cần ghi
thêm gì để chứng minh cho việc đã xếp ,mà ngày kí vận đơn chính là ngày xếp hàng
lên tàu cũng là ngày giao hàng.
- Vận đơn nhận hàng để xếp (Received for shipment B/L) là vận đơn
được cấp trước khi hàng hóa được xếp lên tàu. Trên B/L không ghi rõ ngày, tháng
được xếp xuống tàu. Sau khi xếp hàng xuống tàu, người gửi hàng có thể đổi lấy vận
đơn đã xếp hàng. Loại vận đơn này có thể bị ngân hàng từ
chối thanh toán trừ khi thư
tín dụng (L/C) quy định cho phép .Khi hàng đã thực sự xếp lên tàu, có thể đóng dấu
hoặc ghi thêm chữ "Đã xếp" để biến thành vận đơn đã xếp hàng.
3) Nếu xét theo dấu hiệu qui định người nhận hàng sẽ có các loại vận đơn:
- Vận đơn theo lệnh (B/L to order) là vận đơn trên đó không ghi rỏ họ tên ,
địa chỉ của người nhận hàng mà ghi chữ :"Theo lệ
nh" (to order) hoặc có ghi tên người
nhận hàng đồng thời ghi thêm chử "Hoặc theo lệnh" (or order) .Trên vận đơn theo
lệnh có thể ghi rỏ theo lệnh của người gửi hàng, của người nhận , của ngân hàng .Nếu
không ghi rỏ theo lệnh của ai thì hiểu là theo lệnh của người gửi hàng.
một con tàu đi từ cảng xếp đến cảng đích, nghĩa là tàu chở đi từ cảng đến cảng
- Vận đơn đi suốt (Through B/L) là B/L dùng trong trường hợp chuyên
chở hàng hóa giữa các cảng bằ
ng hai hoặc nhiều tàu thuộc hai hay nhiều chủ khác
nhau. Người cấp vận đơn đi suốt phải chịu trách nhiệm về hàng hóa trên chặng đường
từ cảng xếp đến cảng dỡ cuối cùng.
- Vận đơn địa hạt (Local B/L) là B/L do các tàu tham gia chuyên chở cấp,
loại B/L này chỉ có chức năng là biên lai nhận hàng hóa mà thôi.
- Vận đơn đa phương thức (vận tải liên hợp ) : Vận đơn v
ận tải đa phương
thức (Multimodal Transport B/L) hay vận đơn vận tải liên hợp (Combined Transport
B/L) là vận đơn được sử dụng trong trường hợp hàng hoá được chuyên chở từ nơi đi
đến nơi đến bằng hai hay nhiều phương thức vận tải khác nhau. Vận đơn này có đặc
điểm:
+ Trên vận đơn thường ghi rõ nơi nhận hàng để chở và nơi giao hàng,
người cấp B/L này phải là người chuyên ch
ở .
+Ghi rõ việc được phép chuyển tải, các phương thức vận tải tham gia và nơi
chuyển tải.
+Người cấp vận đơn này phải chịu trách nhiệm về hàng hoá từ nơi nhận
hàng để chở ( có thể nằm sâu trong nội địa ) đến nơi giao hàng (có thể nằm sâu trong
nội địa của nước đến)
* Ngoài các loại B/L cơ bản kể trên, trong thực tế còn gặp các loại B/L
khác nh
ư:
- Vận đơn theo hợp đồng thuê tàu (Charter party B/L) là loại B/L do
thuyền trưởng cấp. Loại này chỉ in một mặt, còn mặt sau để trắng (nên còn có tên gọi
là B/L lưng trắng - Blank back B/L). Trừ khi có quy ịnh riêng trong L/C, các ngân
hàng sẽ từ chối các loại vận đơn này.
thực tế có nhiều trường hợp hàng đã đến nhưng vận đơn chưa đến do đó không nhận
được hàng. Để khắc phục tình trạng này và để tiết kiệm chi phí gửi vận đơn gốc ,trong
những năm gần đ
ây người ta dùng một loại vận đơn gọi là vận đơn đã xuất trình tại
cảng gửi. Đây là loại vận đơn thông thường , chỉ khác là khi cấp vận đơn này , người
chuyên chở hoặc đại lí đóng thêm dấu "Đã xuất trình" (Surrendered), đồng thời điện
báo "Express Release" cho đại lí tại cảng đến biết để đại lí giao hàng cho người nhận
mà không cần xuất trình B/L gốc.Người gửi hàng ch
ỉ cần Fax bảng vận đơn này đến
người nhận là người nhận có thể nhận được hàng.
- Giấy gửi hàng đường biển (Sea Waybill): Do sự tiến bộ về khoa học kĩ
thuật trong ngành vận tải nên tốc độ đưa hàng trong thương mại quốc tế rất nhanh
chóng.Như đã nói ở trên, nhiều trường hợp hàng đã đến cảng đích nhưng vận đơn g
ửi
qua ngân hàng hoặc bưu điện vẫn chưa đến.Người nhận không nhận được hàng. Hơn
nữa cuộc cách mạng thông tin trong những năm qua , việc sử dụng rộng rãi mạng vi
tính ở tất cả các nước trên thế giới tạo ra một khả năng buôn bán thông qua trao đổi
dữ liệu điện tử( EDI) mà không cần chứng từ kể cả vận đơn đường biển.Vậ
n đơn
đường biển cùng với một loạt giấy tờ, chứng từ khác trong thương mại quốc tế trở
VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN GVHD: Ths.PHAN CHUNG THUỶ
Page 8
thành trở ngại và tốn kém.Vì vậy người ta đề nghị sử dụng một chứng từ không lưu
thông (Non-Negotible) để thay thế vận đơn truyền thống đó là "Giấy gửi đường biển".
Giấy gửi đường biển này có ưu điểm là người nhận có thể nhận hàng khi
xuất trình giấy tờ , chứng từ để nhận dạng , chứ không cần xuất trình bản thân "Giấy
g
ửi hàng đường biển".
Nhược điểm của nó là không thể dùng khống để khống chế hàng hoá , vì
- Cảng dỡ hàng.
- Số lượng bản vận đơn gốc.
VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN GVHD: Ths.PHAN CHUNG THUỶ
Page 9
- Nơi phát hành vận đơn.
- Chữ kí của người chuyên chở hoặc người thay mặt người chuyên chở.
- Khoản cước do người nhận trả.
- Điều nói về việc áp dụng Công ước.
- Điều nói về việc hàng sẽ hoặc có thể chở trên boong.
- Ngày hoặc thời hạn giao hàng tại cảng dỡ, nếu có thoả thuận giữa các bên.
- Tho
ả thuận tăng thêm giới hạn trách nhiệm(nếu có).
Về mặt hình thức, vận đơn của các hãng tàu thường một khuôn mẫu tương
đối giống nhau. Các vận đơn đều gồm hai mặt. Mặt trước được chia thành từng ô và
có các chi tiết, theo thứ tự từ trên xuống dưới là: Tên hãng tàu, người gửi hàng, người
nhận hàng, bên thông báo, tên tàu, cảng xếp, cảng dỡ, số vận đơn, số phiếu lưu cước
tham chiếu xuất khẩu, đại lí giao nhận, nơi xuất xứ của hàng hoá, những chi tiết do
người gửi hàng cung cấp (tên hàng, kí mã hiệu, trọng lượng, số lượng, thể tích, số
container…), cước phí, phụ phí, trước trả trước hay sau, số lượng bản gốc, ngày phát
hành vận đơn, ngày xếp hàng hay ngày nhận hàng, chữ kí… Mặt sau của vận đơn in
sẵn các điều kiện, điều khoản chuyên chở (terms and Condition of Carriage) như: các
định nghĩa, điều khoản tối cao, cước phí và phục phí, trách nhiệm của người chuyên
chở, đi thuê lại, thông báo tổn thất và thời hạn khiếu nại, giao hàng, kiểm tra hàng
hóa, container do người gửi hàng đóng, hàng dễ vỡ, hàng nguy hiểm, cầm giữ hàng,
tổn thất chung, giải quyết tranh chấp; điều khoản hai tàu đâm va nhau đều có lỗi, điều
khoản New Jason…
V. NGUỒN LUẬT ĐIỀU CHỈ
NH CỦA VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN.
được ban hành vào ngày 30 tháng 06 năm 1990 và có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01
năm 1991. Về cơ b
ản, Luật Hàng hải giống Qui tắc Hague- Visby
Giá trị pháp lý của vận đơn:
Theo thông lệ Hàng hải Quốc tế (công ước Brussels 1924, điều 1 khoản b) và Bộ luật
Hàng hải Việt nam (điều 81 khoản 3) thì vận đơn là cơ sở pháp lý điều chỉnh quan hệ
giữa người nhận hàng và người chuyên chở. Khi xảy ra thiếu hụt, hư hỏng, tổn thất….
đôí với hàng hoá ở cả
ng đến thì người nhận hàng phải đứng ra giải quyết với người
chuyên chở căn cứ vào vận đơn. Trên lý thuyết thì như vậy nhưng trong thực tế có rất
nhiều tranh chấp phát sinh xung quanh vấn đề này. Cụ thể là:
Trong thương mại hàng hải quốc tế thường lưu hành phổ biến 2 loại vận đơn: vận đơn
loại thông thường (gọi là Conline bill) và vận đơn cấp theo hợp
đồng thuê tàu (gọi là
Congen bill). Điểm khác nhau cơ bản của 2 loại vận đơn này là: Conline bill chức đầy
đủ mọi quy định để điều chỉnh quan hệ giữa người nhận hàng và người chuyên chở
như phạm vi trách nhiện, miễn trách, thời hiệu tố tụng, nơi giải quyết tranh chấp và
luật áp dụng, mức giới hạn bồi thường, các quy định về chuyển tải, giải quy
ết tổn thất
chung, những trường hợp bất khả kháng…. Thông thường loại vận đơn này có đầy đủ
3 chức năng như điều 81 Bộ luật Hàng hải Việt nam quy định.
Ngược lại, Congen bill được cấp phát theo một hợp đồng thuê tàu chuyến nào đó.
Loại này thường chỉ có chức năng là một biên nhận của người chuyên chở xác nhận
VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN GVHD: Ths.PHAN CHUNG THUỶ
Page 11
đã nhận lên tàu số hàng hoá được thuê chở như đã ghi trên đó. Nội dung của loại vận
đơn này rất ngắn gòn và bao giờ cũng phải ghi rõ: phải sử dụng cùng với hợp đồng
thuê tàu (to be used with charter parties). Ngoài ra trong vận đơn loại này bao giờ
cũng có câu: mọi điều khoản, mọi quy định miễn trách nhiệm cho người chuyên chở
ứng từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển
Tên gọi của chứng từ
Chứng từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển cho dù được gọi như thế nào,
UCP 600 không quan tâm, miễn là nội dung của chứng từ đáp ứng những quy định
của UCP.
Ví dụ: Một chứng từ khi xuất trình tại ngân hàng có tiêu đề: "Bill of Lading or
Seawaybill for Combined transport Shipment or port to port Shipment" chưa phải là
VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN GVHD: Ths.PHAN CHUNG THUỶ
Page 12
cơ sở để ngân hàng chấp nhận hay từ chối, mà việc chấp nhận hay từ chối sẽ phụ
thuộc vào nội dung chứng từ thể hiện theo quy định.
Người phát hành và người ký chứng từ
+ Người phát hành chứng từ: Đối với vận đơn đường biển và giấy gửi hàng bằng
đường biển, phải chỉ rõ tên người chuyên chở (indicate the name of the carrier),
nhưng không được thể hiện và ghi là phụ thu
ộc vào hợp đồng thuê tàu (contain no
indication that it is subject to a charter party).
Đối với vận đơn theo hợp đồng thuê tàu, không cần chỉ rõ tên người chuyên chở,
nhưng có ghi là phụ thuộc vào hợp đồng thuê tàu (containing an indication that it is
subject to charter party).
+ Người ký chứng từ: Theo UCP 600, người ký các chứng từ chuyên chở hàng hóa
bằng đường biển cụ thể như sau:
Đối với vận đơn đường biển và giấy gửi hàng bằng đường biển, người ký chứng từ
có thể là người chuyên chở hay
đại lý hoặc người thay mặt người chuyên chở; thuyền
trưởng hay đại lý hoặc người thay mặt thuyền trưởng.
Đối với vận đơn theo hợp đồng thuê tàu, người ký chứng từ có khác đôi chút so
với người ký chứng từ trên vận đơn đường biển và giấy gửi hàng bằng đường biển.
Cụ thể, người ký vận đơn theo hợp đồng thuê tàu có thể là thuyền trưởng hay đại lý