Tài liệu Bài giảng Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch - Pdf 94

Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch

1. Lâm sàng.
1.1. Triệu chứng cơ năng.
1.2. Triệu chứng thực thể và cận lâm sàng.
1.2.1. Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch điển hình.
1.2.2. Thể bong biểu mô sắc tố đơn thuần.
1.2.3. Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch không điển hình.
1.2.4. Bệnh biểu mô sắc tố võng mạc toả lan.
2. Tiến triển, tiên lượng.
3. Bệnh sinh.
4. Chẩn đoán phân biệt.
5. Điều trị.
5.1. Điều trị nội khoa.
5.2. Quang đông laser.
1
Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch
(Central serous chorioretinopathy)
Đây là một bệnh đã được biết tới từ lâu. Từ trước đến nay bệnh được gọi với
nhiều tên khác nhau:
- Viêm võng mạc trung tâm tái phát (Von Graefe, 1866).
- Viêm võng mạc trung tâm (Asayama, 1898).
- Viêm hắc võng mạc trung tâm thanh dịch: Uhthoff (1912); Hasuda (1914),
Fuchs (1916); Kitahara (1932).
+ Bong võng mạc dẹt nguyên phát vùng hoàng điểm (Walsh và Sloan, 1934).
+ Bệnh võng mạc trung tâm thanh dịch (Dorne, 1971 và Coscas, 1972).
Do bệnh ảnh hưởng cả hắc mạc và võng mạc thuật ngữ thường được sử dụng
hơn ngày nay là bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch.

- Nhìn vật biến dạng, méo, cong, thu nhỏ và xa ra. Dùng lưới Amsler khám
sẽ thấy các đường thẳng bị cong, méo mó, thường có cả ám điểm.
- Rối loạn sắc giác: Rối loạn sắc giác trục xanh – vàng là triệu chứng sớm
nhất của bệnh, tồn tại lâu, khi bệnh đã ổn định, rối loạn sắc giác vẫn còn trong
khoảng 2 – 3 tháng. Nó có giá trị trong chẩn đoán, theo dõi tiến triển và tiên lượng
của bệnh: khi bệnh giảm rối loạn sắc giác cũng giảm, nếu bệnh tái phát nhiều lần,
rối loạn sắc giác trục xanh – vàng sẽ tồn tại mãi mãi.
- Thích ứng sáng tối giảm sút: Test loá hoàng điểm: Chiếu sáng vùng hoàng
điểm trong 30 giây với máy soi đáy mắt thông thường. Đo thị lực trước và sau khi
làm test. Bình thường sau 30 – 50 giây, thị lực hồi phục bằng trước khi làm test.
Trong các bệnh hoàng điểm, thị lực hồi phục chậm hơn người bình thường 4 – 5
lần.
1.2. Triệu chứng thực thể và cận lâm sàng.
1.2.1. Bệnh hắc võng trung tâm thanh dịch điển hình.
* Đáy mắt.
- Hoàng điểm sẫm màu, giảm hay mất ánh trung tâm.
- Dấu hiệu chính là bong thanh dịch võng mạc vùng hoàng điểm (bọng giữa
lớp võng mạc cảm thụ và biểu mô sắc tố bởi một lớp dịch trong) kích thước thường
khoảng 2 – 3 đường kính đĩa thị, bờ của vùng bong nghiêng và hoà nhập dần với
vùng võng mạc xung quanh còn nguyên vẹn.

3
- Soi lập thể với đèn khe, kính Goldmann, kính Hruby hoặc kính Volk 60D –
90D giúp nhìn thấy vùng bong rõ hơn, ngoài ra nó còn giúp loại trừ màng tân mạch
hắc mạc cũng xảy ra đồng thời.
Trên bọng bong này có thể thấy những chấm tủa màu vàng nhạt, nhỏ như đầu
kim, tách biệt nhau, ranh giới rõ ràng, không có khuynh hướng kết nhập lại.
Các chấm tủa không có ngay từ những ngày đầu bị bệnh mà xuất hiện sau vài
tuần tiến triển (theo Dorne, 1971: thường là sau 4 tuần).
Chú ý: Nếu có lẫn rối loạn sắc tố, tân mạch hay xuất huyết nên nghĩ đến phối

Nếu vị trí bong biểu mô sắc tố không ở tại vùng hoàng điểm, bệnh nhân sẽ
không có hội chứng hoàng điểm.
* Đáy mắt:
Hình ảnh điển hình của bong biểu mô sắc tố là những tổn thương hình tròn,
màu vàng – xám, bờ rõ, nằm sâu tại lớp biểu mô sắc tố, đội nhẹ võng mạc.
* Hình ảnh chụp mạch huỳnh quang:
Tăng huỳnh quang từ rất sớm, với cường độ tăng dần, ranh giới rõ, không
thay đổi kích thước theo thời gian, không có hiện tượng khuếch tán ở thì muộn.

* OCT
Cho hình ảnh một lớp tăng tín hiệu của biểu mô sắc tố và giảm tín hiều hình
thấu kính ở dưới của khối dịch dưới biểu mô sắc tố võng mạc.
1.2.3. Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch không điển hình.
* Đáy mắt:
Có thể thấy bong thanh dịch võng mạc cảm thụ, bong biểu mô sắc tố võng
mạc, những biến đổi của biểu môi sắc tố võng mạc.
* Hình ảnh chụp mạch huỳnh quang:
- Có thể không thấy điểm rò. Người ta cho rằng nó quá nhỏ hoặc bị che lấp,
hoặc đã sẹo hoá. Trên thực tế từ 2 đến 6 tuần, điểm rò có thể mất đi.
- Hoặc điểm rò mất lớn có thể gây giả tân mạch dưới võng mạc.
- Có thể kèm theo hình ảnh bong biểu mô sắc tố hoặc kèm theo hình ảnh biến
đổi biểu mô sắc tố.
* OCT: Có sự tồn tại vùng giảm tín hiệu thể hiện có bong thanh dịch võng
mạc hoặc bong biểu mô sắc tố, lớp tăng tín hiệu của biểu mô sắc tố.

5
1.2.4. Bệnh biểu mô sắc tố võng mạc toả lan.
Thường gặp ở nam giới, độ tuổi trên 40, bệnh có tính chất mạn tính với nhiều
đợt tái phát liên tiếp, tiên lượng về thị lực xấu.
* Triệu chứng cơ năng: Những dấu hiệu chức năng biến đổi rất rõ với thị lực

+ Hay gặp ở người Châu á.
+ Tuổi trên 50.
+ Chức năng thị giác giảm nhiều.
+ Tiến triển mạn tính.
+ Tái phát liên tục.
Có nhiều yếu tố nguy cơ như: cao huyết áp, sử dụng corticoide, thuốc hướng
tâm thần… hơn so với những bệnh nhân bị bệnh võng mạc trung tâm thanh dịch
kinh điển.
Trên lâm sàng: thấy có sự phân bố rộng của những bong biểu mô sắc tố nhỏ,
kèm theo những vùng teo biểu mô sắc tố nhỏ, kèm theo những vùng teo biểu mô sắc
tố, chụp mạch huỳnh quang thấy tăng huỳnh quang không đồng đều, điểm rò mạn
tính, nhiều điểm rò, phối hợp với bong biểu mô sắc tố. Bệnh còn được đặt tên là
bệnh lý biểu mô sắc tố võng mạc toả lan.
3. Bệnh sinh.
* Tổn thương hàng rào máu võng mạc ngoài:
- Màng đáy của biểu mô sắc tố không còn dính vào lớp collagen của màng
Bruch ở bên dưới, do biểu mô sắc tố không còn bình thường hoặc do lớp mao mạch
hắc mạc bị tổn thương.
- Bong biểu mô sắc tố võng mạc khu trú làm cho chất dịch thoát vào khoang
dưới võng mạc, và bong thanh dịch vùng hoàng điểm xảy ra. Bệnh nhân bị bong
thanh dịch lớn nếu lỗ rò nhiều.
- Nhiều đợt bệnh tái phát, có thể gây mất bù trừ biểu mô sắc tố võng mạc
(bệnh lý biểu mô sắc tố võng mạc toả lan). Bệnh có khuynh hướng bong hoàng
điểm tái phát và mất thị lực vĩnh viễn.
* Những yếu tố thuận lợi hoặc làm nặng thêm bệnh:
- Nhân cách nhóm A: Các nghiên cứu đã cho thấy đa số bệnh nhân bị bệnh
hắc võng mạc trung tâm thanh dịch có biểu hiện dễ xáo trộn tâm lý, không ổn định
tinh thần, dễ bị stress cũng như tính tự phát và dễ bị điều khiển cao.

7


8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status