Bệnh học giác mạc
a- Đại cương
1.Giải phẫu : Giác mạc là một màng xơ trong suốt,không có mạch máu ,chiếm
1/5diện tích phía trước của vỏ nhãn cầu diện tích khoảng 123mm vuông .Bán kính độ
cong giác mạc trung bình ở người Việt Nam trưởng thành là 7,71+-0,24mm (Ngô Như
Hoà 1970) .Đường kính ngang bằng 12mm,đường kính dọc bằng 11mm(Hà Huy Tiến
1970). Độ dày là 0,509mm ở trung tâm 0,74mm ở sát vùng rìa (Maurice và Giardini-
1961).Ranh giới giữa giác mạc và củng mạc là vùng rìa giác mạc bề rộng của vùng rìa
chừng1mm.Đây là vùng có cấu tạo giải phẫu rất đặc biệt và vai trò sinh lý rất quan
trọng của nhãn cầu .
2.Tổ chức học : Giác mạc gồm 5lớp như sau;
- Lớp biểu mô giác mạc
- Lớp màng Bowman
- Lớp nhu mô
- Lớp màng Descemet
- Lớp nội mô
* Biểu mô: dầy khoảng 50 gồm 5-7 lớp biểu mô lát tầng xếp rất trật tự ,không
sừng hoá .Lớp trên cùng là hai hàng tế bào mỏng dẹt .những tế bào bề mặt có các mối
liên kết chặt chẽ bằng các vòng dính tạo nên hàng rào thẩm thấu của bề mặt giác mạc
.Bào tương các tế bào bề mặt có các vi nhung mao và các nếp gấp siêu vi có nhiệm vị
trao đổi chất ,chuyển hoá và là nơi bám dính của màng nước mắt .Lớp trung gian có 2-
3 hàng tế bào đa diện dạng xoè ngón tay hoặc có nhánh .Các tế bào đáy hình trụ gắn
chặt với màng đáy dày chừng 50nm,các tế bào đáy hoạt động chuyển hoá mạng .Màng
đáy có cấu tạo chủ yếu từ collagen typ IV ,laminin, heparin,fibronectin và fibrin .Dưới
kính hiển vi điện tử ,màng đáy gồm lá trong suốt (clear lamina lucida ) ở phía trước
,có chứa thể bán liên kết gắn chặt với tế bào đáy ở trước và lá đặc (dark lamina densa )
ở phía sau.Các tơ neo tạo bởi collagen typ VII đã neo lá đạc với chân bì và màng
Bowman ở phía sau
*Màng Bowman : Đây là màng mỏng trong suốt dày cỡ 10-13 m áp sát vào lớp
nhu mô.William Bowman năm 1847 khi lân đầu tiên ô tả đã gọi đó là (màng chun
trước ) (anteriorr elastic lamina ),với cấu tạo dạng sợi tương đối chặt chẽ.Màng
lamina ).Trên người trưởng thành màng này dày chừng 5-7 m ở trung tâm và tăng dần
độ dày về phía ngoại vi .Ơ sát rìa có độ dày chừng 8-10 m.
Màng Descemet trong suốt có cấu tạo gồm các sợi rất nhỏ kết chặt với nhau nhờ
chất căn bản làm nên đặc tính là tương đối dai và đàn hồi .Các sợi của màng Descemet
kéo dài liên tục tới góc tiền phòng .Ơ đoạn này chất căn bản có mật độ ít hơn nhiều so
với ở đoạn giác mạc -chỉ có các sợi là chiếm ưu thế và tạo nên cấu trúc bè củng mạc
(trabeculum)là nơi dẫn lưu thuỷ dịch từ tiền phòng ra ngoài *Nội mô; chỉ có một lớp tế
bào ,các tế bào hình lục giác đường kính 18-20 m xếp sát vào nhau 2500cái
/1mmvuông, trải đều trên mặt sau của màng Descemet
.Một đặc điểm quan trọng của nội mô giác mạc là số lượng tế bào hằng địnhtừ
khi mới sinh ra ,hầu như không có sự tái tạo .Khi một vùng nào đó của nội mô bị tổn
thương thì các tế bào nội mô lân cận sẽ trải rộng để che phủ vùng bị thương do đó mật
độ tế bào giảm xuống .Từ đặc điểm này mà có phương pháp xét nghiệm đếm tế bào
nội mô để chẩn đoán một số bệnh lý của mắt.
*Thần kinh của giác mạc:thần kinh cẩm giác giác mạc xuất phát từ nhánh của
dây V,các nhánh mi dài ,mi ngắn xuyên qua củng mạc đi theo khoang thượng củng
mạc ra phía trước hợp với các dây thần kinh mi trước của Boucheron(là -những nhánh
thần kinh nhỏ li ti đi từ lớp thượng củng mạc và kết mạc )thành đám rối thần kinh
quanh giác mạc và từ đây phát ra những nhánh nhỏ đi hướng tâm giác mạc .Các nhánh
thần kinh tiếp tục chia đôi nhiều lần và càng đi về phía bề mặt giác mạc ,tới các lớp
trước của nhu mô-ngay dưới màng Bowman thì tạo nên một mạng thần kinh dày đặc
và từ màng này tạo ra những nhánh xuyên qua màng Bowman đồng thời mất dần bao
schwann và len lỏi giữa các tế bào biểu mô.Các nhánh này còn chia ra các nhánh nhỏ
hơn nữa tạo thành mạng thần kinh bao quanh các tế bào biểu mô
Giác mạc bình thường không có mạch máu ,dinh dưỡng của giác mạc chủ yếu
do thẩm thấu từ hai cung mạch nông và sâucủa vùng rìa ,từ thuỷ dịch và từ nuớc mắt
3.Một số đặc điểm sinh lý bệnh học của giác mạc :Giác mạc được nuôi dưỡng
bởi ba nguồn ;
-Đường bạch huyết
-Thẩm thấu từ nước mắt qua biểu mô
.Sự tăng sinh tế bào giúp khôi phục số lượng và khối lượng tế bào
.Còn sự tái tạo phục hòi nhu mo gắn liền với việc tái tạo những bó sợi collagen ,
Các tế bào sợi đóng vai trò râtds quan trọng trong quá trình này .Men collagen do
những tế bào biểu mô vùng tổn thương tiếp xúc với nhu mô ,các tế bào bạch cầu đa
nhân và cả các tế bào sợi góp phần tạo ra là yếu tố gây phân huỷ collagen ,cản trở sự
tái tạo hồi phục của giác mạc .Trong điều trị các tổn thương giác mạc cà phải ức chế
men này .
B_collagenase
Gross và Lapiere phát hiện ra men này ở con nòng nọc Anura từ năm 1962 .Men
này đực tiết ra từ các tế bào biểu môthấm vào các tổ chức collagen và gây ra quá trình
phân huỷ đặc hiệu .
-Ơ người men này cũng tìm thấy ở một số tổ chức bệnh lý ; vết thương da viêm
,bao khớp do thấp viêm lợi răng ,u thần kinh ,u biểu mô ruột và cổ tử cung ...
Ơ giác mạc người bình thường không có hoạt động tiêu collagen .Men tiêu
collagen chỉ phát hiện thấy trong các trường hợp bệnh lý. Bởi vì khi giá mạc bị tổn
thương lớp biểu mô sản xuất ra collagenase và lôi cuốn tế bào viêm xâm nhập giác mạc
;Slansky(1969) thấy men này ở 10 giác mạc loét cấp hoặc mãn tính do bỏng ,do bệnh