MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
A.DẪN NHẬP 3
1.Lý do chọn đề tài 3
2.Tình hình nghiên cứu 4
3.Mục tiêu nghiên cứu 6
3.1.Mục tiêu chung 6
3.2.Mục tiêu cụ thể 6
4.Nội dung nghiên cứu 6
5.Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 6
5.1.Đối tượng nghiên cứu 6
5.2.Khách thể nghiên cứu 6
5.3.Phạm vi nghiên cứu 7
6.Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 7
6.1.Ý nghĩa lý luận 7
6.2.Ý nghĩa thực tiễn 7
7.Kết cấu đề tài 7
B.NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
1.Cơ sở lý luận 8
1.1.Lý thuyết lối sống 8
1.2.Thuyết lựa chọn hợp lý 9
2.Các khái niệm 10
2.1.Tiếp cận 10
2.2.Cơ sở y tế 10
2.3.Sức khỏe 10
2.4.Tây y (khám, chữa theo phương thức hiện đại) và y học cổ truyền (khám, chữa theo
phương thức truyền thống) 11
2.5.Khám chữa bệnh 11
3.Nguồn dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 11
3.1.Phương pháp thu thập thông tin đinh lượng 11
3.3.Việc tiếp cận các dịch vụ y tế của người dân xã Khánh Hòa, huyện U Minh 21
3.4.Người dân đánh giá về mức độ đáp ứng của dịch vụ y tế tại địa phương 23
4.Người dân ngày càng hài lòng khi sử dụng các dịch vụ y tế tại địa phương 26
C.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 30
1.Kết luận 30
2.Kiến nghị 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
2
A. DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài
Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển xã hội, nên phát triển
nguồn nhân lực luôn được sự quan tâm chú ý trong chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội nước ta.
“Sức khỏe là vốn quí nhất của con người”. Xã hội muốn có nguồn lực tốt về thể
chất tinh thần phải được chăm sóc tốt từ khi trong bụng mẹ, từng thế hệ nối tiếp, thế hệ sau
phải tốt hơn thế hệ trước về thể chất và tinh thần, để đảm bảo duy trì cho phát triển xã hội,
chăm sóc nâng cao chất lượng dân số là một trong những tiêu chí hàng đầu của quốc gia.
Hồ Chí Minh cũng đã rất coi trọng sức khỏe con người, Người đã từng nói: “Mỗi người
dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt. Mỗi người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe.
Dân cường thì nước thịnh”. Trong Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII cũng đã nêu:
“Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu của bản thân con người đồng thời là vốn quý để
tạo ra tài sản trí tuệ và vật chất cho xã hội, chăm lo cho con người về thể chất là trách
nhiệm của bản thân xã hội”. Sức khỏe là vốn quý, có sức khỏe thì sẽ khỏe mạnh, làm giàu
cho bản thân tạo ra nhiều của cải cho xã hội, thúc đẩy đất nước phát triển.Từ đó có thể thấy
chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh là một nhu cầu cấp thiết của mọi người. Theo chủ
trương xã hội hóa y tế của Nhà nước, mọi người dân đều có quyền được hiểu biết nhiều
hơn về bệnh tật, những yếu tố tác hại đến sức khỏe của mình cũng như quyền được hưởng
các dịch vụ y tế khám chữa bệnh và phòng ngừa bệnh tật.
Bên cạnh đó có một quan điểm cho rằng chăm sóc sức khỏe là quyền lợi và ai cũng có quyền
hưởng thụ theo như mục tiêu nhất quán của y tế Việt Nam từ trước đến nay là “ Mọi người
khá cao, đa phần người đến khám nhiều chỉ là những người có thu nhập cao, nghề nghiệp ổn
định, và là dân thành thị nhiều hơn.
Tình hình tiếp cận cơ sở y tế của người nghèo Tp. Hồ Chí Minh còn gặp nhiều khó
khăn đặc biệt là khó khăn về kinh tế. đưa ra được nhưng phương thức khám chữa bệnh của
người nghèo ở TP.HCM. Đề tài cũng chỉ ra được sự đánh giá cao các chương trình chăm sóc
sức khỏe mở rộng định kì vì tính thiết thực và không tốn phí như: chương trình khám thị lực
cho người trung niên và cao niên,chương trình khám dinh dưỡng cho phụ nữ và trẻ em,
4
nhưng đề tài chỉ dừng lại ở việc nêu ra các thực trạng chug của người nghèo và quan niệm về
sức khỏe. .( Nguyễn Thị Lê Uyên, khóa 2002-2006).
Cũng liên quan đến nội dung khám chữa bệnh thì tác giả Thái Thị Thảo Uyên ( K10,
ĐH Bình Dương, năm 2011), nói rõ về việc người nông dân nông thôn khám chữa bệnh, đề
tài là một một cái nhìn của người dân tin tưởng vào các cơ sở y tế nhà nước và phương pháp
khám chữa bệnh bằng tay y hơn là phương thức cổ truyền, đề tài nêu ra những khó khăn khi
người dân đi khám chữa bệnh.
Đặc biệt quan tâm đến việc chăm sóc sức khỏe cho đòng bào dân tộc vùng sâu vùng xa
để từ đó đưa ra một số kết luận và khuyến nghị có tính khả thi giúp các nhà hoạch định chính
sách cùng chính quyền địa phương có sơ sở tham khảo để đề ra những chính sách và chương
trình, kế hoạch phát triển để nâng cao chất lượng chăm sóc ban đầu cho dân tộc La Hủ ở địa
bàn Mường Tè nói riêng và đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu xa nói chung cả nước.
Bàn về những bất cập quanh chăm sóc sức khỏe, các tác giả cho rằng nguyên nhân thuộc
kinh tế thị trường. (Trịnh Hòa Bình - Nguyễn Đức Chính, trích theo Thái Thị Thảo Uyên là
sinh viên K10,ĐH Bình Dương).
Bên cạnh tình hình chung về hệ thống chăm sóc sức khỏe cả nước, cũng có những
nghiên cứu quan tâm về sự không công bằng về y tế sức khỏe giữa các vùng miền, nhóm
thu nhập…, đặc biệt là tình hình khám chữa bệnh ở các vùng nông thôn, vùng sâu vùng
xa.
Về phương pháp, mỗi một nhà nghiên cứu sử dụng một phương pháp khác nhau.
Người thì sử dụng một kết quả của một dự án để nói về vấn đề của tác giả quan tâm ( theo
Trịnh Hòa Bình và Đào Thanh Trường, 2004) . Có tác giả thì sử dụng phương pháp phân
Hướng tiếp cận y tế của người dân.
5.2. Khách thể nghiên cứu
Người dân xã Khánh Hoà, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau
Cán bộ chính quyền địa phương.
6
5.3. Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Đề tài được thực hiện tại ấp 2, ấp 5, ấp 6, ấp 7, ấp 8, ấp 14 ở xã Khánh
Hòa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau
Thời gian: Bắt đầu từ ngày 20 tháng 06 năm 2013.
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài thực hiện góp phần vào nghiên cứu về mức độ sử dụng các dịch vụ y tế , đặc
biệt là hướng việc tiếp cận các phương thức khám chữa bệnh của người dân như thế nào. Việc
vận dụng các cách tiếp cận và lý thuyết trong nghiên cứu xã hội học, sử dụng các phương
pháp điều tra và xử lý số liệu thuộc lĩnh vực xã hội học, kết hợp với những tài liệu tham khảo
của các nghiên cứu có liên quan. Đồng thời qua nghiên cứu thực nghiệm để làm sáng tỏ và
chứng minh những cách tiếp cận và lý thuyết xã hội học được áp dụng trong quá trình nghiên
cứu.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Với những phân tích trong đề tài này, tôi muốn đem lại một cái nhìn sâu sắc về những
khó khăn trong việc sử dụng và hướng tiếp cận dịch vụ y tế của người dân xã Khánh Hòa .
Bên cạnh đó là việc đề xuất những hướng giải quyết (nếu có) giúp người dân trong việc tiếp
cận các dịch vụ y tế được tốt hơn. Bản thân cảm thấy đây là một việc làm có ý nghĩa đối với
sự phát triển của địa phương đặc biệt là khi nơi đây người dân còn khá nghèo và tiếp cận các
thông tin về y tế còn hạn chế.
7. Kết cấu đề tài
Đề tài này gồm hai chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu gồm có: cơ sở lý luận, nguồn dự liệu,
phương pháp nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu.Chương 2: Hướng tiếp cận các dịch vụ y tế của
người dân xã Khánh Hoà, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Gồm có một là đặc điểm tình hình địa
trong gia đình.
8
1.2. Thuyết lựa chọn hợp lý
Thuyết lựa chọn hợp lý (hay còn gọi là thuyết lựa chọn duy lý) trong xã hội học có
nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học vào thế kỷ VIII, XIX. Một số nhà triết học đã
cho rằng bản chất con người là vị kỷ, luôn tìm đến sự hài lòng, sự thoả mãn và lảng tránh nỗi
khổ đau. Một số nhà kinh tế học cổ điển thì từng nhấn mạnh vai trò động lực cơ bản của động
cơ kinh tế, lợi nhuận khi con người phải đưa ra quyết định lựa chọn hành động. Đặc trưng thứ
nhất có tính chất xuất phát điểm của sự lựa chọn duy lý chính là các cá nhân lựa chọn hành
động.
Thuyết này gắn với tên tuổi của rất nhiều nhà xã hội học tiêu biểu như: George
Homans, Peter Blau, James Coleman
Thuyết lựa chọn hợp lý dựa vào tiên đề cho rằng con người luôn hành động một cách
có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt
được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu.
Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để quyết
định sử dụng loại phương tiện hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thực
hiện có để đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực. Phạm vi của mục đích
đây không chỉ có yếu tố vật chất (lãi, lợi nhuận, thu nhập) mà còn có cả yếu tố lợi ích xã hội
và tinh thần.
Định đề này được Homans diễn đạt theo kiểu định lý toán học như sau: khi lựa chọn
trong số các cách hành động có thể có, cá nhân sẽ chọn cách nào mà họ cho là tích của xác
suất thành công của hành động đó với giá trị mà phần thưởng của hành động đó là lớn nhất.
Tức là Homans đã nhấn mạnh đến đặc trưng thứ hai của sự lựa chọn hợp lý là quá trình tối ưu
hoá.
Đối với nghiên cứu này tác giả sử dụng lý thuyết lựa chọn hợp lý nhằm xem xét những
hành vi tiếp cận các dịch vụ y tế như thế nào?
Trong đề tài này, tác giả vận dụng lý thuyết lựa chọn hợp lý để có thể chứng minh sự
lựa chọn lý của người dân về vấn đề chăm sóc sức khỏe. Người dân có những lựa chọn khác
nhau trước các vấn đề chăm sóc sức khỏe. Như người dân xã Khánh Hoà có thể nhận thức
trên một phương diện nào đó, sức khỏe toàn diện của con người khó kiểm tra bằng chỉ số
định lượng. Bởi vì một lí do đơn giản, không thể định lượng một cách chính xác những niềm
vui, nỗi buồn, niềm phấn khởi, sung sướng và khổ đau , mà nó là yếu tố cấu thành nên sức
khỏe.
[4]
2
]
:nguồn:my opera.com/healthyck/blog/show.dml/10521161.
3]
Theo định nghĩa của tổ chức y thế giới ( WHO –World Hearth Organization, 1947).
4]
www.binhduong.com.vn
[5]
,
[6]
Trích theo tác giả Nguyễn Thị Lê Uyên, khóa 2002-2006, trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố
Hồ Chí Minh.
10
2.4. Tây y (khám, chữa theo phương thức hiện đại) và y học cổ truyền
(khám, chữa theo phương thức truyền thống)
Tây y
[6]
là nền y học sử dụng phương pháp khám chữa bệnh hiện đại ( y học hiện đại).
Phương pháp điều trị sử dụng Tây y mang tính định lượng, là ứng dụng từ công nghệ giện đại
và mang lại hiệu quả nhanh.
Y học cổ truyền là nền y học được khai sinh đồng thời với sự xuất hiện loài người. Nó
3.3.2 Thu thập thông tin sẵn có
Bằng phương pháp này, tác giả thu thập những thông tin sẵn có thông qua các báo cáo
tổng kết của xã Khánh Hòa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Đồng thời tôi có sử dụng một số tài
liệu trên internet và các đề tài luận văn liên quan đến vấn đề việc tiếp cận các dịch vụ y tế
của người dân để làm tiền đề cho tôi trong việc thực hiện đề tài này.
3.4. Phương pháp quan sát
Sử dụng phương pháp quan sát để thu thập thông tin về tình hình cơ sở hạ tầng ở địa
phương, cơ sở vật chất và điều kiện sống của người dân dưới tác động của quá trình thực hiện
chương trình nông thôn mới.
4. Câu hỏi nghiên cứu
Câu 1: Người dân xã Khánh Hoà có sự lựa chọn trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế?
Câu 2: Người dân ngày càng hài lòng khi sử dụng các dịch vụ y tế tại địa phương?
CHƯƠNG 2 : SỰ LỰA CHỌN TRONG TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ Y TẾ CỦA
NGƯỜI DÂN XÃ KHÁNH HOÀ, U MINH, CÀ MAU.
12
1. Sơ lược địa bàn nghiên cứu
Xã Khánh Hoà nằm ở phía bắc huyện U Minh, cách trung tâm huyện khoảng 2 km,
ranh giới hành chính được xác định như sau: phía đông giáp thị trấn U Minh, phía tây giáp xã
Khánh Tiến, phía nam giáp xã Khánh Lâm, phía bắc giáp xã Khánh Thuận,.
Diện tích tự nhiên 6.390 ha, chiếm 0,82% diện tích tự nhiên của huyện U Minh. Nằm
trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa ổn định và mang tính đặc trưng phân mùa rõ rệt. Mùa
mưa có từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung
bình trong năm khoảng 2.400 mm, trong đó mùa mưa chiếm khoảng 90% lượng mưa cả năm.
Nhiệt độ trung bình trong năm là 26,50
0
C, số giờ nắng trung bình năm đạt 2.500 giờ.
1.1. Điều kiện kinh tế xã hội
Cũng như các khu vực khác ở Cà Mau, xã này có địa hình chủ yếu là kênh rạch chằng
chịt, nước lợ. Giao thông thủy thịnh hành. Ngành nghề chủ yếu là trồng lúa và nuôi trồng
thủy sản nước lợ như cua, tôm sú, tôm càng xanh.
vai trò và khả năng của người nông dân trong việc phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh xã
hội tại địa phương.
Tuy nhiên xã Khánh Hòa vẫn còn phải đối mặt với những khó khăn như : còn tồn tại một
số loại tội phạm khiến cho tình hình an ninh trong xã gặp nhiều khó khăn, việc huy động vốn
đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng còn hạn chế. Đời sống người dân còn thấp nhưng một số ít
lại không chủ động làm ăn mà phụ thuộc nhiều vào các chính sách của nhà nước. Địa bàn xã
rộng, kênh rạch chằng chịt giao thông gặp nhiều khó khăn. Dịch vụ và thương mại phát triển
chậm, một số mô hình kinh tế mang lại hiệu quả chưa cao.
1.8. Phương hướng phát triển
1.8.1. Về kinh tế
Để thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã vận động người dân phát triển sản xuất,
không bỏ trống ruộng đất, đảm bảo sản lượng lương thực đạt chỉ tiêu, đặc biệt quan tâm tới
việc tiến hành gieo xạ lúa hè thu và cấy lúa trên đất nuôi tôm 100%.
Vận động người dân tiếp tục cải tạo đất để trồng màu và trồng cây ăn trái mang lại
hiệu quả kinh tế cao.
14
Xã cũng đã đưa ra những chương trình xin hỗ trợ vốn, kỹ thuật để đáp ứng nhu cầu
sản xuất của bà con.
1.8.2. Về văn hóa –xã hội
Xã tiếp tục vận động toàn dân xây dựng đời sống văn hóa, thực hiện nếp sống văn
minh, duy trì và nâng cao chất lượng gia đình văn hóa.
1.9. Giáo dục
Xã Khánh Hòa tiếp tục thực hiện tốt công tác quản lý cơ sở vật chất để đảm bảo các
điều kiện cho năm học mới. Tăng cường các hoạt động của hội khuyến học,ưu tiên tạo những
điều kiện thuận lợi cho hộ thuộc diện gia đình chính sách, nghèo được đi học. Định hướng
chính sách phổ cập giáo dục trên toàn địa bàn xã.
2. Mô tả mẫu nghiên cứu
Mẫu cho đề tài này là 239 mẫu. Dung lượng mẫu là 239. Trong phần này sẽ trình bày
khái quát một vài đặc điểm về mẫu nghiên cứu trong đề tài như: Trình độ học vấn, việc làm,
giới tính và tuổi. Nhưng phân tích sâu hơn sẽ được trình bày trong phần quá trình chuyển đổi
hiện việc chăm lo cho việc giáo dục được địa phương được quan tâm và phát triển .
Bảng 1: Bảng thể hiện trình độ học vấn của người dân.
Học vấn Số lượng Phần trăm (%)
Chưa bao giờ đi học 50 4.9
Tiểu học 336 33
Trung học CS 386 37.8
Trung học phổ thông 106 10.4
Cao đẳng/ đại học hoặccao hơn 50 4.9
Dưới 6 tuổi 92 9.9
Tổng 1020 100
(Nguồn: Lối sống của người dân xã Khánh Hòa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, năm 2013)
18
2.4. Việc làm
Là một vùng đất thuần nông với nghề nghiệp chính là nghề nông điều đó thể hiện qua số
liệu khảo sát được, với nghề nông chiếm tỷ lệ 43.73%, tiếp theo là học sinh/sinh viên chiếm
tỷ lệ khá cao 17.8%, đứng thứ ba đó là thất nghiệp chiếm tỷ lệ 7.55%, ngoài ra còn có làm
thuê chiếm tỷ lệ 5.69%, cán bộ công nhân viên chức chiếm tỷ lệ 3.82%, ngư nghiệp chiếm tỷ
lệ 3.33%, buôn bán, dịch vụ chiếm 2.76%. Nhìn chung, việc làm của người dân tại địa bàn
khảo sát tương đối nhiều và đa dàng tạo điều kiện cho người dân có nhiều lựa chọn nhằm
nâng cao thu nhập cải thiện cuộc sống. Nhưng nghề nông nghiệp vẫn là nghề chủ đạo tại địa
phương.
Bảng 2: Bảng thể hiện việc làm của người dân
Nghề nghiệp
Nghề chính Nghề phụ
Số lượng % Số lượng %
Nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) 446 43.73 42 4.12
Lâm nghiệp 3 0.29 1 0.01
Ngư nghiệp
34 3.33 5 0.49
Buôn bán, dịch vụ 28 2.76 16 1.57
cho câu hỏi này.
20
3.2. Khoản chi cho việc khám chữa bệnh của người dân cho việc khám
chữa bệnh của các thành viên
Từ số liệu khảo sát mức chi cho việc khám chữa bệnh của người dân cho các thành
viên trong gia đình. Chúng ta có một cái nhìn tổng quát về tình hình người dân nơi đây, phải
chi cho việc khám chữa bệnh của các thành việc trong gia đình là tương đối lớn khi so sánh
với mức thu nhập và việc làm của người dân là tương đối lớn khi với với 446 người chiếm tỷ
lệ 43.73% người với nghề chính là nghề nông, và không có việc làm là 77 người chiếm tỷ lệ
7.3 % người không có việc làm. Với mức chi cho việc khám chữa bệnh của các thành viên từ
100 ngàn - 1 triệu chiếm 123 người chiếm tỷ lệ 12.1% ngoài ra mức chi từ 1 triệu – 5 triệu
chiếm 22 người chiếm tỷ lệ 2.2% và trên 6 triệu 23 chiếm tỷ lệ là 2.3%, cũng tương đối lớn.
Bảng 3: Mức chi tiêu cho việc khám chữa bệnh của người dân trong 6 tháng
Mức tiền Số lượng Phần trăm (%)
Dưới 100 ngàn 70 6.86
Từ 100 ngàn - 1 triệu 123 12.1
Từ 1 triệu - 5 triệu 22 2.2
Trên 6 triệu 23 2.3
Tổng 238 23.3
Không trả lời 782 76.7
Tổng 1020 100
(Nguồn: Lối sống của người dân xã Khánh Hòa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, năm
2013)
Như vậy, việc chi cho việc khám chữa bệnh của người dân nơi đây tương đối lớn so
với mức thu nhập và công việc hiện tại của người dân. Như vậy, người dân phải có những
hiểu biết và về các dịch vụ y tế như thế nào để có thể vừa chăm lo cho sức khỏe và có thể hạn
chế được được những khoản chi cho việc khám chữa bệnh được giảm đi. Vậy người dân ở
đây đã đã có những hướng chọn lựa như thế nào để đảm bảo sức khỏe và giảm chí phi khi
khám và chữa bệnh?
3.3. Việc tiếp cận các dịch vụ y tế của người dân xã Khánh Hòa, huyện
23.14
không trả lời 788 76.863
Tổng 1020 100
Ngoài ra, theo số liệu khảo sát thì ngoài tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tại trạm y tế
xã người dân còn có hướng tiếp cận các nguồn chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh như:
bệnh viện tuyến trên, bệnh viện huyện, bệnh viện tư nhân, tự khám ở nhà… Như vậy việc tiếp
cận các dịch vụ y tế của người dân nơi đây khá nhiều lựa chọn nhằm đảm bảo cho sức khỏe
của mình.
Bảng 4: Tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh khác.
Nơi khám Số lượng Phần trăm (%)
Bệnh viên huyện 18 1.765
Bệnh viện tư nhân 26 2.549
Con làm bác sĩ nên tự khám ở nhà 1 0.01
Tự khám ở nhà 1 0.01
Không trả lời 974 95.49
Tổng 1020 100
(Nguồn: Lối sống của người dân xã Khánh Hòa, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, năm 2013)
3.4. Người dân đánh giá về mức độ đáp ứng của dịch vụ y tế tại địa
phương
Tuy rằng, xu hướng chính của người dân là sử dụng các dịch vụ tại chính địa phương
là làm phương thức chăm sóc sức khoẻ của mình nhưng một thực trạng đang điễn ra là các
trạm y tế xã vẫn chưa đáp ứng tốt trong phục vụ và chăm sóc sức khỏe của người dân. Sự hạn
chế về quy mô và trình độ của các y bác sĩ tại địa phương :
Hỏi: Chị có biết về dịch vụ trong trạm y tế xã không, chị có thường đến trạm y tế xã không?
Đáp: Ít bệnh, với lại xã nó không đầy đủ như là dưới huyện, đa số người ta bệnh người ta chỉ
ra bác sĩ tư nhiều hơn là trong xã.
(Nguồn: trích từ PVS, trường hợp Nhà bị xập hoàn toàn, nữ, 20tuổi, người dân.)
Hỏi : Khi mà cô đưa các thành viên trong gia đình của cô đi khám bệnh thì cô thấy khu vực
làm bảo hiểm y tế thì người ta có làm tốt trách nhiệm của người ta không cô ?
Đáp : Tốt gì có tốt đâu, bắt đầu còn ấy còn có khám qua loa rồi sau mấy cái người làm bảo