Chuyên đề tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
Đối với một doanh nghiệp, quy mô của thị trường có ảnh hưởng rất lớn
đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Quy mô của thị trường sẽ ảnh
hưởng trực tiếp tới lượng tiêu thụ hàng hóa, theo đó ảnh hưởng trực tiếp tới
lợi nhuận thu được. Mở rộng thị trường là vấn đề mà tất cả các doanh nghiệp
khi tham gia hoạt động kinh doanh đều phải quan tâm vì nó gắn liền với sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, đặc biệt là trong điều kiện toàn cầu hóa
hiện nay.
Là một trong những doanh nghiệp hàng đầu trong ngành may mặc Việt
Nam cũng như trong khu vực trong lĩnh vực xuất khẩu sản phẩm may mặc,
mở rộng thị trường là một tất yếu giúp giải quyết thị trường tiêu thụ cho sản
phẩm của May 10, giúp doanh nghiệp tìm được đoạn thị trường và đối tác phù
hợp với điều kiện của doanh nghiệp. Hiện nay Việt Nam đã gia nhập tổ chức
thương mại thế giới WTO, May 10 sẽ tham gia vào sân chơi chung với các
doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc khác trên thế giới. Hội nhập toàn cầu là
một thế tất yếu để doanh nghiệp mở rộng thị trường, nhằm tạo sự phát triển
vững chắc cho doanh nghiệp trên thị trường thế giới.
Trong quá trình thực tập tại công ty cổ phần May 10, là công ty sản
xuất và xuất khẩu hàng may mặc có uy tín trên thị trường. Em chọn đề tài
“Phát triển thị trường xuất khẩu sản phẩm may mặc của công ty cổ phần
May 10” làm chuyên đề. Đây là vấn đề đang được ban lãnh đạo và các phòng
ban quan tâm và rất phù hợp với tình hình thực tế của công ty. Tuy nhiên với
kiến thức có hạn và thời gian thực tập không nhiều nên chuyên đề có thể còn
gặp nhiều thiếu sót.
Em xin chân thành cảm ơn Thầy giáo Trần Hoè và các anh chị phòng
Marketing đã giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập và giúp em hoàn thành
tốt chuyên đề thực tập.
Nguyễn Thị Bích Thủy Lớp: Thương mại 46A
1
Chuyên đề tốt nghiệp
Sản phẩm may mặc là sản phẩm có tính thời trang cao. Khi xã hội càng
phát triển, đời sống nhân dân càng cao, nhu cầu làm đẹp tăng lên thì các sản
phẩm may mặc dần được coi như một món trang sức, luôn đi kèm với những
phụ kiện nhằm làm tăng thêm vẻ đẹp cho người sử dụng. Xuất phát từ thực tế
này mà hiện nay, các sản phẩm may mặc luôn có tính thời trang cao, thể hiện
phong cách và cá tính của người sử dụng.
Chu kỳ sống của sản phẩm may mặc ngắn. Một sản phẩm may mặc ra
đời luôn gắn liền với một mẫu mã, kiểu cách nhất định, được thiết kế phù hợp
với thị hiếu của người tiêu dùng tại thời điểm nó được tung ra thị trường.
Theo thời gian, thị hiếu thay đổi thì các sản phẩm đó sẽ thành ra lỗi mốt và
không còn được ưa chuộng nữa.
Chất lượng sản phẩm có nhiều cấp độ khác nhau, từ bình dân đến cao
cấp để có thể phục vụ nhu cầu sử dụng của mọi tầng lớp trong xã hội. Người
có thu nhập thấp hoặc trung bình thường lựa chọn các sản phảm mang tính
bình dân. Ngược lại với những người có thu nhập cao thì sản phẩm mà họ lựa
chọn là những sản phẩm cao cấp, chất lượng cao và mang tính độc đáo riêng.
Nguyễn Thị Bích Thủy Lớp: Thương mại 46A
3
Chuyên đề tốt nghiệp
Để sản xuất một sản phẩm may mặc cần phải qua rất nhiều công đoạn,
từ thiết kế, cắt, may, thêu thùa, là, gấp, đóng gói nên cần sử dụng rất nhiều
lao động và đòi hỏi sự khéo léo, sáng tạo cao trong sản xuất.
Nguồn nguyên liệu của ngành may mặc phụ thuộc lớn vào các ngành
công nghiệp và nông nghiệp sử dụng nguồn gốc tự nhiên như ngành bông,
ngành dệt, ngành sợi Các nguồn nguyên liệu này lại phụ thuộc nhiều vào
điều kiện tự nhiên nên tính ổn định về số lượng, chất lượng và giá cả thấp.
Điều này khiến cho sản phẩm may mặc cũng chịu nhiều ảnh hưởng về chất
lượng và giá cả.
Công ty may 10 chuyên kinh doanh và sản xuất các sản phẩm hàng
may mặc thuộc Tổng công ty Dệt may Việt Nam (Vinatex). Hiện nay hai hình
doanh nghiệp may xuất khẩu, giá cả, chất lượng sản phẩm và thời gian giao
hàng của các doanh nghiệp được bình đẳng với các nước và ngành dệt may
Việt Nam có điều kiện huy động tối đa năng lực thiết bị và tay nghề hiện có.
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã có uy tín trên thị trường quốc tế, được khách
hàng trong và ngoài nước biết đến như Việt Tiến, Nhà Bè, Phương Đông, May
Sài Gòn 3,May An Phước, May 10, May 28 sẽ có cơ hội tiếp nhận các đơn
hàng lớn. Nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam làm ăn,
góp phần tạo nên sự tăng trưởng mạnh về kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may.
May 10 là công ty xuất khẩu hàng may mặc có tên tuổi trên thị trường quốc tế,
với kinh nghiệm đã tích luỹ được nhiều cơ hội sẽ đến với công ty, nếu nắm bắt
kịp thời và tận dụng được các cơ hội từ môi trường kinh doanh quy mô của
công ty có thể sẽ được mở rộng đáng kể.
1.2. ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM MAY MẶC
Nhu cầu về sản phẩm may mặc là rất đa dạng, số lượng lớn và thường
xuyên do sản phẩm may mặc là mặt hàng thiết yếu, không một người tiêu
Nguyễn Thị Bích Thủy Lớp: Thương mại 46A
5
Chuyên đề tốt nghiệp
dùng nào không cần đến nó. Điều này làm cho thị trường may mặc luôn sôi
động với các hoạt động mua và bán.
Yêu cầu về công nghệ và vốn đối với sản phẩm may mặc thấp hơn các
sản phẩm khác, do đó cạnh tranh về giá không quan trọng, thị trường không
co giãn về giá, giá cả thay đổi nhưng không làm cầu trên thị trường thay đổi.
Đối với lĩnh vực xuất khẩu thị trường xuất khẩu về cả khách hàng lẫn phạm vi
địa lý là rất rộng lớn, nhất là khi nền kinh tế đang có xu thế toàn cầu hoá như
hiện nay đã tạo ra rất nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc tiêu thụ sản
phẩm nhưng cũng đặt ra rất nhiều thách thức cho doanh nghiệp trong việc tiến
hành các hoạt động kinh doanh xác định đúng đối tượng khách hàng, các khu
vực sẽ xâm nhập nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh tốt nhất phù hợp với
mục tiêu của doanh nghiệp, dựa trên những điều kiện có hạn của chính công
giới, cùng với Trung Quốc.
Như vậy cơ hội cho ngành dệt may Việt Nam nói chung cũng như với
công ty May 10 nói riêng trong thời gian tới là rất nhiều .Yêu cầu đặt ra đối
với các doanh nghiệp xuất khẩu hàng may mặc là phải tìm ra cách thức xâm
nhập thị trường hàng may mặc thế giới phù hợp với điều kiện thực tế của
doanh nghiệp nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh tốt nhất.
1.3. NỘI DUNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHO SẢN
PHẨM MAY MẶC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
Sau Trung Quốc, hàng may mặc Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ tăng rất
mạnh trong hai năm qua, bất chấp những khả năng bị Mỹ đánh thuế chống
bán phá giá.
Lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam ở Cat 338/339 (sơ mi dệt kim
bông) tăng 54% và tăng 32% ở Cat 347/348 (quần vải bông).
Thêm vào đó, Việt Nam không bị sức ép cạnh tranh của Trung Quốc vì
Mỹ đã xóa bỏ các hạn ngạch đối với hàng dệt may Việt Nam, như ở Cat
Nguyễn Thị Bích Thủy Lớp: Thương mại 46A
7
Chuyên đề tốt nghiệp
341/641 (sơ mi dệt thoi dành cho phụ nữ và thiếu nữ), lượng hàng xuất khẩu
của Việt Nam tăng 57%.
Nhưng ở hai Cat hàng này, thị phần hàng Việt Nam vẫn ở mức khiêm
tốn 3.45% so với mức vượt trội 46% của Trung Quốc.
Tuy nhiên, so với các đối thủ cạnh tranh Nam Á, thị phần của các nhà
xuất khẩu Việt Nam vẫn tăng cao ở các mặt hàng xơ nhân tạo
Mặt khác, khó khăn lớn nhất đối với ngành dệt may hiện nay là để mất
thị trường Mỹ. Để Quốc hội Mỹ chấp thuận thông qua việc áp dụng Quy chế
thương mại bình thường vĩnh viễn đối với Việt Nam (PNTR), Chính phủ Mỹ
đã cam kết sẽ áp dụng chế độ theo dõi đặc biệt đối với ngành dệt may Việt
Nam và áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Tất cả các nhà nhập khẩu Mỹ
cho rằng việc áp dụng biện pháp này sẽ gây khó khăn cho hoạt động kinh
Ngày nay nghiên cứu thị trường trở thành một công cụ không thể thiếu
trong việc nắm bắt thị trường, được sử dụng một cách rất phổ biến. Hoạt động
nghiên cứu thị trường được dùng để thu thập các thông tin trên thị trường như
thông tin về các sản phẩm mới, chính sách của nhà nước (dự kiến phân bổ
ngân sách nhà nước, thuế xuất nhập khẩu, các thoả thuận của nhà nước có liên
quan đến thị trường ), thông tin về các đối tác, khách hàng tiềm năng, nhu
cầu khách hàng, xu hướng tiêu dùng Dựa trên những thông tin trên doanh
nghiệp có thể dự đoán thị trường và đưa ra những quyết định đúng đắn để có
thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường, củng cố vị trí của mình trên thị
trường.
Thông qua nghiên cứu thị trường doanh nghiệp sẽ có nhiều thông tin
hơn để đề ra những kế hoạch kinh doanh phù hợp, xác lập các kênh phân phối
hiệu quả, định ra mức giá cạnh tranh cho sản phẩm của doanh nghiệp. Thu
thập thông tin về giá của đối thủ cạnh tranh, giá nguyên vật liệu đầu vào, thu
thập thông tin về sự phân phối lợi nhuận trong các thành phần tham gia phân
Nguyễn Thị Bích Thủy Lớp: Thương mại 46A
9
Chuyên đề tốt nghiệp
phối sản phẩm để kịp thời điều chỉnh nhằm tăng tính cạnh tranh của sản
phẩm, tăng lợi nhuận cho mình. Qua đó có thể định vị giá một cách hợp lý.
Ngoài ra nghiên cứu thị trường còn là cơ sở cho phép doanh nghiệp
đánh giá thái độ của khách hàng đối với sản phẩm của doanh nghiệp để từ đó
cải tiến dịch vụ khách hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh và tìm ra một định
vị mới thích hợp cho sản phẩm của mình.
Đối với thương mại quốc tế, do tính chất phức tạp của nó, việc nghiên
cứu luật pháp liên quan đến mua bán hàng hoá trên thị trường như
Luật Thương mại, Luật Hải quan, Luật chóng bán phá giá, chống độc quyền ,
các tập quán và thông lệ quốc tế, các đặc điểm văn hoá - xã hội là các yếu tố
cần phải xem xét, cân nhắc và rất cần thiết để doanh nghiệp xâm nhập vào thị
trường nước ngoài.
gắng xuất khẩu trực tiếp và thành lập các chi nhánh ở nước ngoài để tiến hành
hoạt động trao đổi với các doanh nghiệp nước ngoài thuận tiện hơn.
1.3.3. Xây dựng chiến lược thị trường và phát triển thị trường xuất
khẩu
Thị trường là mảnh đất tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, để đứng
vững ở thị trường nước ngoài cần xây dựng chiến lược thị truờng ngay từ khi
bắt đầu kinh doanh.
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, các doanh nghiệp xuất khẩu thường
có chiến lược đa dạng hoá thị trường để tránh mất thị trường ảnh hưởng đến
khối lượng hàng hoá xuất khẩu. Không nên "độc canh" trên một thị trường vì
sẽ gặp rủi ro khi thị trường thay đối. Cần lựa chọn một số thị trường nhất định
để khỏi phụ thuộc vào một khách hàng nào đó nhằm phát triển thị trường.
Phát triển thị trường là phát triển sản phẩm, phát triển khách hàng, phát triển
địa bàn kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường.
Nguyễn Thị Bích Thủy Lớp: Thương mại 46A
11
Chuyên đề tốt nghiệp
1.3.4 Nâng cao năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu
Trên thị trường quốc tế chỉ có các sản phẩm, các doanh nghiệp có năng
lực cạnh tranh mới có thể xâm nhập và mở rộng thị trường xuất khẩu, ngược
lại những sản phẩm kém năng lực cạnh tranh sẽ không tiêu thụ được, các
doanh nghiệp phải nâng cấp năng lực cạnh tranh nếu không muốn bị phá sản.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu là khả năng đáp ứng nhu
cầu khách hàng nước ngoài về chất lượng, giá cả, kiểu dáng, thương hiệu, bao
bì, tính độc đáo hay sự khác biệt so với sản phẩm cùng loại trên thị truờng
quốc tế. Doanh nghiệp muốn phát triển thị trường xuất khẩu phải có được ưu
thế cạnh tranh về chất lượng, giá cả, kiểu dáng, so với đối thủ cạnh tranh.
1.3.5 Khắc phục rào cản trong thương mại quốc tế của doanh
nghiệp
Rào cản thương mại quốc tế là tất cả những chính sách, quy định, biện
Sự ổn định hay bất ổn định về kinh tế, chính sách kinh tế của các quốc
gia, khu vực tác động trực tiếp đến hoạt động và hiệu quả của hoạt động kinh
doanh chính của các công ty nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu của công
ty nói riêng. Vì vậy, đối với công ty cần nghiên cứu một số vấn đề như:
* Cấu trúc công nghiệp của nước sở tại: Định hình các nhu cầu về sản
phẩm, dịch vụ, mức lợi tức và mức độ sử dụng nhân lực. Có 4 loại cấu trúc
công nghiệp:
- Nền kinh tế tự cung tự cấp
- Nền kinh tế xuất khẩu nguyên liệu thô
- Nền kinh tế đang công nghiệp hoá
- Nền kinh tế công nghiệp hoá
* Sự phân bổ thu nhập: Phản ánh khả năng thanh toán và sử dụng của
người tiêu dùng
Nguyễn Thị Bích Thủy Lớp: Thương mại 46A
13
Chuyên đề tốt nghiệp
* Tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước nhập khẩu: Ảnh huởng đến
tổng cầu thị trường và tổng mức nhập khẩu hàng hoá của quốc gia đó. Nó
được biểu hiện qua GNP, GDP bình quân trên đầu người,, tốc độ tăng trưởng,
sự ổn định kinh tế
* Xu thế phát triển và hội nhập kinh tế vùng và trên biên giới: Giảm bớt
các rào chắn thương mại giữa các quốc gia thành viên, thúc đẩy các di chuyển
trên thị trường quốc tế về đầu tư, nhân tố đầu vào…và các chính sách kinh tế,
tài chính, tỷ giá hối đoái…Hội nhập có ảnh hưởng đến lợi ích các quốc gia
tham gia khối kinh tế, dẫn đến các thay đổi quan trọng trong các quốc gia
thành viên. Quan trọng nhất là tăng áp lực về cạnh tranh đối với sản phẩm
xuất khẩu.
Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến kết quả và hiệu quả
kinh doanh của một doanh nghiệp. Các yếu tố kinh tế có thể và phải được tính
đến là: Tốc độ tăng trưởng của GDP, lãi suất tiền vay, mức độ thất nghiệp,
thế giới. Để đảm bảo sự vận hành của nền kinh tế nhiều thành phần, hoạt
động cạnh tranh, quốc gia nào cũng có hệ thống pháp luật và các chế độ chính
sách của Chính phủ để điều tiết thị trường. Để thành công trong hoạt động
kinh doanh xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp thương mại phải nghiên cứu,
phân tích, dự báo về chính trị, luật pháp cùng xu hướng vận động của nó. Cụ
thể các doanh nghiệp cần quan tâm đến:
- Các quy định của Chính phủ về cạnh tranh, chống độc quyền, về việc
cho vay, khuyến mại,…
- Các quy định về bảo vệ quyền lợi của các công ty, bảo vệ quyền lợi
của người tiêu dùng, bảo vệ công chúng…
- Các luật về thuế, về bảo vệ môi trường sinh thái, ô nhiễm.
- Các chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển thương mại của Nhà
nước, của các địa phương.
Nguyễn Thị Bích Thủy Lớp: Thương mại 46A
15
Chuyên đề tốt nghiệp
- Sự ổn định về chính trị, đường lối ngoại giao, chính sách ngoại
thương.
- Hệ thống pháp luật, chính sách, sự hoàn thiện, minh bạch và hiệu lực
thi hành chúng.
Trên thực tế, các yếu tố pháp lý ổn định, rõ ràng, minh bạch có thể tạo
ra thuận lợi cho kinh doanh. Sự thay đổi và sự biến động đều có thể tạo ra
những cơ hội hoặc nguy cơ cho doanh nghiệp, đặc biệt là những thay đổi liên
tục, nhanh chóng, không thể dự báo trước.
Nguyễn Thị Bích Thủy Lớp: Thương mại 46A
16
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY MAY 10
2.1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY MAY 10
xưởng May10 còn sản xuất hàng nội địa phục vụ dân sinh.
- Năm 1961 : Xưởng May10 đổi tên thành Xí nghiệp May10 do Bộ
công nghiệp nhẹ quản lý. Xí nghiệp May10 tiếp tục sản xuất hàng quân trang
và may dân dụng.
- Năm 1975-1990 : May10 chuyển hướng may gia công làm xuất khẩu
cho Liên Xô và các nước Xã hội Chủ nghĩa Đông Âu.
- Sau năm 1990 : Liên Xô và Đông Âu tan rã, May10 mở rộng địa bàn
hoat động sang thị trường : CH Liên bang Đức, Nhật Bản, Hồng Kông
- Năm 1992 : Xí nghiệp May10 được đổi tên thành công ty May10 để
phù hợp với chức năng, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh trong thời kỳ đổi mới.
- Tháng 1/2005 : công ty May10 được chuyển thành công ty Cổ phần
May10 với 50% vốn của VINATEX (Tổng công ty Dệt may Việt Nam).
Nhìn lại lịch sử của mình Công ty cổ phần May 10 (GARCO 10 JSC)
đó trải qua hơn nửa thế kỷ hình thành và phát triển. Trong suốt hơn 60 năm
qua, lớp lớp các thế hệ công nhân May 10 đó lao động không biết mệt mỏi để
xây dựng May 10 từ những nhà xưởng bằng tre, nứa thành một doanh nghiệp
mạnh của nghành dệt may Việt Nam. Với 8000 lao động, mỗi năm sản xuất
trên 20 triệu sản phẩm chất lượng cao các loại, 80% sản phẩm được xuất khẩu
sang các thị trường Mỹ, Đức, Nhật Bản, Hồng Kông,… Nhiều tên tuổi lớn
của ngành may mặc thời trang có uy tín trên thị trường thế giới đó hợp tác sản
xuất với Công ty cổ phần May 10 như Pierre Cardin, GuyLaroche, Maxim,
Jacques Britt, Seidensticker, Dornbusch, C&A, Camel, Arrow, Quá trình
Nguyễn Thị Bích Thủy Lớp: Thương mại 46A
18
Chuyên đề tốt nghiệp
phát triển của công ty là sự cố gắng vươn lên liên tục và luôn đạt được tốc độ
tăng trưởng cao.
2.1.2 Sơ đồ bộ máy tổ chức của công ty
Công ty Cổ phần May 10 là một doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực may
mặc tại Việt nam với 51% vốn nhà nước (Vinatex). Công ty có 11 xí nghiệp
điều hành
P.Kỹ thuật
P.cơ điện
XN dịch vụ
ĐDLĐ
về ATSK
ĐDLĐ về
MT
Phó tổng
giám đốc
Phòng QA
Các XNTV và LD
ĐDLĐ về
CL
P.kế hoạch
Trường mn
Ban tổ chức
Hành chính
Phòng tài chính
kế toán
Ban đầu tư
Ban bảo vệ QS
Trường đào tạo
P.Kinh doanh
Ban y tế MTLĐ
P.kho vận
Phó tổng giám
đốc điều hành
Phó tổng
giám đốc
quản lý, chế biến, cấp phát nguyên phụ liệu cho sản xuất, công tác vận tải
hàng hoá, nguyên phụ liệu phục vụ kịp thời theo yêu cầu sản xuất kinh doanh
của Công ty.
* Phòng kinh doanh
Phòng kinh doanh là phòng chức năng tham mưu cho Cơ quan Tổng
giám đốc trong công tác tổ chức kinh doanh thương mại tại thị trường trong
nước
Nguyễn Thị Bích Thủy Lớp: Thương mại 46A
21
Chuyên đề tốt nghiệp
- Nghiên cứu chế thử sản phẩm chào hàng, tổ chức thông tin quảng cáo
giới thiệu sản phẩm trong nước.
- Tham gia đàm phán ký hợp đồng kinh tế với khách hàng trong nước,
soạn thảo và thanh toán các hợp đồng kinh tế đã ký kết.
- Tổ chức mạng lưới tiêu thụ sản phẩm may mặc và các hàng hoá khác
theo quy định của Công ty tại thị trường trong nước, nhằm đáp ứng yêu cầu
sản xuất kinh doanh của Công ty đạt hiệu quả kinh tế cao.
- Cung ứng vật tư thiết bị theo yêu cầu sản xuất kinh doanh
* Phòng kỹ thuật
Là phòng chức năng tham mưu giúp việc Tổng giám đốc quản lý công
tác kỹ thuật công nghệ, công tác tổ chức sản xuất, nghiên cứu ứng dụng các
thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến và tiến bộ kỹ thuật mới nhằm đáp ứng sự
phát triển sản xuất kinh doanh của Công ty.
* Ban đầu tư phát triển
Ban đầu tư xây dựng và quản lý công trình là đơn vị nghiệp vụ về xây
dựng cơ bản trực thuộc Tổng giám đốc, có chức năng :
- Tham mưu cho Tổng giám đốc về quy hoạch, đầu tư phát triển Công
ty.
- Lập dự án đầu tư, tổ chức thiết kế, thi công và giám sát thi công các
công trình xây dựng cơ bản.
+ Kinh doanh văn phòng, bất động sản, nhà ở cho công nhân.
+ Đào tạo nghề.
+ Xuất nhập khẩu trực tiếp.
Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu là sản xuất các sản phẩm may mặc để
xuất khẩu và tiêu thụ nội địa.
Nguyễn Thị Bích Thủy Lớp: Thương mại 46A
23
Chuyên đề tốt nghiệp
* Phương thức kinh doanh của công ty
Công ty sản xuất và tiêu thụ sản phẩm may và các hàng hóa khác liên
quan đến ngành dệt may. Sản phẩm chính của công ty áo sơ mi nam, nữ,
jacket các loại, bộ veston nam cùng một số sản phẩm như quần âu, quần áo trẻ
em, bộ áo bảo hộ lao động phục vụ cho xuất khẩu và tiêu dùng trong nước
theo 3 phương thức:
- Nhận gia công toàn bộ: Công ty nhận nguyên vật liệu của khách
hàng theo hợp đồng để gia công thành sản phẩm hoàn chỉnh và giao trả cho
khách hàng.
- Sản xuất hàng xuất khẩu dưới hình thức FOB: công ty sản xuất mẫu
chào bán theo yêu cầu của khách hàng, khi thoả thuận ký được hợp đồng thì
công ty sẽ tự mua nguyên vật liệu theo mẫu chào hàng để sản xuất bán cho
khách. Hàng FOB được sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng Quốc tế và khu
vực tiêu thụ hàng do khách hàng chỉ định
- Sản xuất hàng nội địa: Thực hiện toàn bộ quá trình sản xuất kinh
doanh từ mua nguyên vật liệu đầu vào, thiết kế mẫu mã sản phẩm để sản xuất,
tổ chức tiêu thụ sản phẩm phục vụ cho nhu cầu trong nước
2.1.5. Kết quả kinh doanh của công ty May 10
Ngành may mặc đang đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn phát triển
của nền kinh tế nước ta hiện nay, có khả năng trở thành ngành đứng đầu về
kim ngạch xuất khẩu trong thời gian tới, vượt qua cả xuất khẩu dầu thô.
Công ty May 10 là một doanh nghiệp có uy tín trong ngành may mặc Việt