Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Phương hướng và giải pháp mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm công ty
cổ phần giấy Lam Sơn.
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thị Hương Thùy
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Lớp: KTPT 47A-QN
Khóa: 47
Hệ: chính quy
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Đặng Thị Lệ Xuân
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam đang trên đà phát triển kinh tế, nhu cầu của con người ngày càng
được nâng cao dẫn tới sức tiêu thụ hàng hóa ngày càng lớn. Năm 2001 là
năm đầu tiên của thế kỷ 21, tất cả các nước trên thế giới đã đạt được những
thành quả nhất định , Việt Nam cũng vậy, trong những năm đầu của thế kỷ
mới cũng đã đạt được những thành tựu bước đầu.
Một trong những mặt hàng không thể thiếu được của nền kinh tế quốc dân
nói chung và đời sống xã hội nói riêng đó là giấy- một trong 7 mặt hàng
chiến lược của nền kinh tế do chính phủ trực tiếp quản lý. Nhằm góp phần
thực hiện các chiến lược phát triển lâu dài của ngành giấy đến năm 2010,
công ty cổ phần giấy Lam Sơn cũng đã thực hiện những giải pháp của riêng
mình trong tiến trình phát triển của công ty.
Việc tìm hiểu hoạt động sản xuất kinh doanh và phương hướng phát triển
của từng doanh nghiệp cụ thể là điều hết sức quan trọng, vì lý do đó tác giả
đã chọn đề tài”phương hướng và giải pháp mở rộng thị trường xuất khẩu sản
phẩm của công ty cổ phần giấy Lam Sơn ”
Mục đích nghiên cứu
- Khái quát hóa một số lý luận xuất khẩu giấy, các phương hướng và giải
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế và thị
trường của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự
do hóa và mở cửa trên các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương.
Hội nhập thương mại là một trong những mũi nhọn của hội nhập kinh tế
quốc tế. Do vậy nói đến hội nhập kinh tế là phải đề cập tới sự gắn kết nền
kinh tế, thị trường của từng nước với nhau, hoặc giữa các khối kinh tế.
Ngoài ra hội nhập bao giờ cũng gắn liền với quá trình cam kết mở cửa
thị trường và tự do hóa thương mại. Những nỗ lực hội nhập quốc tế của các
quốc gia thể hiện trên nhiều phương diện, nhiều cấp độ khác nhau như đơn
phương mở cửa thị trường tự do hoá thương mại, hợp tác song phương hoặc
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
đa phương thể hiện trong việc ký kết các hiệp định thương mại song phương,
tham gia vào các diễn đàn, các định chế khu vực và toàn cầu.
1.1.2. Lợi thế của hoạt động ngoại thương
a. Lợi thế tuyệt đối
A.Smith là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của hoạt động
ngoại thương. Theo A.Smith, thông qua mua –bán trao đổi sản phẩm sẽ giải
quyết được mặt hạn chế của thị trường.
Khái niệm
Lợi thế tuyệt đối là lợi thế có được dựa trên cơ sở so sánh chi phí sản xuất
để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm.
Ý nghĩa
Lợi thế này được xem xét từ hai phía:
- Đối với nước có chi phí sản xuất thấp hơn: Xuất khẩu hàng hoá ra thị
trường quốc tế sẽ có thu nhập cao hơn và do đó lợi nhuận thu được
cao hơn do giá quốc tế lớn hơn giá trong nước.
- Đối với nước có chi phí sản xuất cao hơn: Nhập khẩu hàng hoá từ bên
ngoài, về trước mắt sẽ đáp ứng nhu cầu về sản phẩm trong nước,
người ta gọi là bù đắp sự yếu kém về khả năng sản xuất trong nước.
sánh thấp hơn so với các nước khác.
Đặc điểm của lợi thế tuyệt đối
Lợi thế tương đối cho biết bất kỳ quốc gia nào với sản xuất với chi phí cao
hay thấp đều phải tìm ra được một lợi thế để tham gia vào hoạt động thương
mại quốc tế, nghĩa là tăng thu nhập của mình thông qua hoạt động ngoại
thương hay xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá hoặc sản phẩm nào đó.
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
1.1.3. Tác động của ngoại thương tới thị trường và phát triển kinh tế.
a. Hoạt động ngoại thương trong hoạt động kinh tế đối ngoại.
Khái niệm
Hoạt động kinh tế đối ngoại là toàn bộ hoạt động kinh tế của nước này đối
với nước khác.
Nội dung của hoạt động kinh tế đối ngoại
- Là hoạt động mua bán, xuất nhập khẩu hàng hoá, đây chính là điểm
xuất phát của hoạt động kinh tế đối ngoại.
- Hoạt động hợp tác, bao gồm hợp tác đầu tư và hợp tác khoa học –công
nghệ.
- Hoạt động dịch vụ: là các hoạt động vận tải, bảo hiểm, ngân hàng…
b. Vai trò của ngoại thương trong tăng trưởng kinh tế.
Trong kinh tế đối ngoại, ngoại thương giữ vai trò quan trọng, nó tạo điều
kiện phát huy lợi thế của từng nước trên thị trường quốc tế. Kết quả của
hoạt động ngoại thương được đánh giá qua cân đối thu chi ngoại tệ dưới
hình thức “cán cân thanh toán xuất nhập khẩu”. Kết quả này làm tăng
hoặc giảm thu nhập của đất nước. Do đó, nó tác động đến tổng cầu của
nền kinh tế. Hay nói một cách khác, ngoại thương tác động đến tăng
trưởng kinh tế thông qua tác động đến tăng trưởng tổng cầu.
1.1.4. Các loại hình chiến lược xuất khấu sản phẩm
a. Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô.
a
4
. Biện pháp khắc phục trở ngại.
Giải pháp khống chế lượng cung sản phẩm thô
- Nội dung: thành lập các tổ chức có khả năng khống chế đại bộ phận
lượng cung của một sản phẩm nào đó trên thị trường.
- Thực chất của giải pháp này là ổn định cung –cầu và tăng giá sản
phẩm thô.
- Kết quả là hình thành nên các nhóm và các hiệp hội.
Giải pháp” kho đệm dự trữ quốc tế”
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
- Nội dung: thành lập các quỹ chung, xây dựng nên hệ thống kho hàng.
- Mục đích sử dụng: nhằm ổn định cung –cầu và giá cả sản phẩm thô.
- Thực chất của kho đệm là tạo ra một cung hoặc cầu giả trên thị
trường.
Xét trên lý thuyết thì hàng hoá của kho đệm là tương đối hiệu quả.
b. Chiến lược thay thế hàng hoá nhập khẩu.
b
1
. Nội dung của chiến lược.
Nội dung của chiến lược
Nội dung của chiến lược là đẩy mạnh sự phát triển các ngành công
nghiệp trong nước, trước hết là công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng sau
là các ngành công nghiệp khác.
Điều kiện thực hiện chiến lược
- Thị trường tiêu thụ các sản phẩm trong nước tương đối rộng rãi.
- Có sự can thiệp của chính phủ thông qua bảo hộ.
- Phải tạo được yếu tố đảm bảo khả năng sản xuất, trước hết là thu hút
vốn và công nghệ từ nước ngoài.
b
- Làm tăng những món nợ ngoại tệ.
- Xu hướng nảy sinh các tiêu cực trong xã hội như trốn thuế, hối lộ,
tham nhũng…
c. Chiến lược hướng ra thị trường quốc tế.
c
1
. Nội dung của chiến lược.
Các nước NIC
s
- Sự cần thiết của việc chuyển hướng thương mại quốc tế. Xuất phát từ
những hạn chế trong việc thực hiện chiến lược thay thế hàng nhập
khẩu, đặc biệt là sự gia tăng các món nợ ngoại tệ. Bên cạnh đó, hầu
hết các nước NIC
s
có sự tương đồng về điều kiện tự nhiên xã hội như
hạn chế về nguồn lực tài nguyên, thị trường trong nước nhỏ hẹp. Họ
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nhận thấy rằng để khắc phục những hạn chế đó chỉ có cách dựa vào
thị trường quốc tế.
- Nội dung của chiến lược: sản xuất những mặt hàng xuất khẩu sử dụng
nhiều nhất những yếu tố sẵn có trong nước, thực hiện nhất quán chính
sách giá cả, giá cả trong nước phản ánh sát với hàng trên thị trường
quốc tế và phản ánh sự khan hiếm của các yếu tố trong nước.
Các nướcASEAN và các nước LDC
s
khác.
- Sự cần thiết lựa chọn chiến lược.
Trong suốt những năm 50 và 60 của thế kỷ trước, phần lớn các nước
ASEAN, chủ yếu là ASEAN
. Những chính sách đòn bẩy thúc đẩy chiến lược hướng ngoại.
Chính sách tỉ giá hối đoái.
Tỉ giá hối đoái là tỉ lệ chuyển đổi đơn vị tiền tệ của nước này sang đơn vị
tiền tệ của nước khác, nó có tác động lớn trong quan hệ ngoại thương. Do
đó, điều cần thiết là duy trì một tỉ giá có lợi cho các nhà xuất khẩu trong
nước khi họ bán các sản phẩm trên thị trường quốc tế.
Chính sách trợ cấp.
- Trợ cấp trực tiếp: là hình thức chính phủ trợ giúp cho nhà xuất khẩu
về lãi suất và thuế.
- Trợ cấp gián tiếp: là hình thức chính phủ hỗ trợ doanh nghiệp trong
đào tạo chuyên gia, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước có
cơ hội tiếp cận với bạn hàng trên thế giới.
- Chính phủ tạo sức hấp dẫn cho việc sản xuất hàng xuất khẩu. Muốn
vậy, đòi hỏi phải giảm các hình thức bảo hộ đối với các ngành công
nghiệp được ưu đãi và giảm hạn ngạch trong nhập khủ. Muốn vậy,
việc bảo hộ bằng thuế không được cao hơn mức trợ cấp xuất khẩu.
1.2. Vai trò của xuất khẩu trong tăng trưởng và phát triển kinh tế.
1.2.1. Xuất khẩu tạo nguồn vốn quan trọng để nhập khẩu máy móc, thiết
bị, nguyên liệu, vật tư, xăng dầu và hàng tiêu dùng phục vụ yêu cầu sản
xuất và đời sống nhân dân, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
1.2.2. Xuất khẩu góp phần thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển và
chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá.
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
1.2.3. Xuất khẩu tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động,
nhất là trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp chế biến nông –lâm –
hải sản, dệt may, da giày.
1.3. Các hình thức xuất khẩu
1.3.1. Xuất khẩu trực tiếp
1.3.2. Xuất khẩu đối lưu
Theo quan niệm của các nhà quản trị doanh nghiệp, thị trường của doanh
nghiệp là tập hợp những khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp đó.
Tóm lại, dù đứng dưới góc độ nào để định nghĩa thì thị trường luôn bao
gồm ba yếu tố: ngươi mua, người bán và sản phẩm.
2.1.2. Xuất khẩu
Ở các thời kỳ, các góc độ khác, ta lại có cách hiểu khác về xuất khẩu.
Theo quan niệm của kinh tế học, “ xuất khẩu là hoạt động hàng hoá và
dịch vụ được xuất khẩu trong nước và bán sang nước khác”. Theo đó, đối
tượng xuất khẩu đã được chỉ ra là hàng hoá và dịch vụ sản xuất trong
nước.
Theo quan niệm của các nhà kinh doanh quốc tế, “ xuất khẩu là hoạt động
đưa hàng hoá và dịch vụ ra khỏi một nước sang quốc gia khác để bán”.
Đây là quan niệm về xuất khẩu được sử dụng phổ biến trong hoạt động
kinh doanh quốc tế.
2.1.3. Thị trường xuất khẩu.
Dựa trên các quan niệm khác về thị trường, xuất khẩu, thị trường xuất
khẩu cũng được hiểu theo các giác độ khác.
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Theo quan niệm của kinh tế học: thị trường xuất khẩu là tổng thể cung và
cầu của người tiêu dùng quốc tế đối với các sản phẩm sản xuất trong
nước. Theo đó, chú trọng đến vai trò của cung và cầu hàng hoá và dịch
vụ.
Theo quan niệm của Marketing quốc tế, “thị trường xuất khẩu của doanh
nghiệp là tập hợp những khách hàng nước ngoài tiềm năng của doanh
nghiệp đó”. Ở đây, số lượng và cơ cấu nhu cầu của khách hàng nước
ngoài đối với sản phẩm của doanh nghiệp cũng như sự biến động của các
yếu tố đó theo không gian và thời gian là đặc trưng cơ bản của thị trường
xuất khẩu.
Theo quan niệm của các nhà kinh doanh quốc tế, “thị trường xuất khẩu là
2.2.2. Căn cứ vào quan hệ ngoại thương.
Quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp luôn có sự song
hành của các mối quan hệ làm ăn kinh doanh. Theo đó ta có thể phân
loại:
- Thị trường xuất khẩu truyền thống.
- Thị trường xuất khẩu hiện có.
16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
- Thị trường xuất khẩu mới.
- Thị trường xuất khẩu tiềm năng.
2.2.3. Căn cứ vào mức độ quan tâm và tính ưu việt.
Các chính sách phát triển thị trường của các nước xuất khẩu đới với các
thị trường xuất khẩu khác cũng khác. Do đó, các thị trường cũng có thẻ
được phân thành:
- Thị trường trọng điểm hay thị trường chính: đây là những thị trường
mà một nước sẽ nhằm vào khai thác chính và trong một tương lai lâu
dài. Do vậy nước xuất khẩu có thể phải chấp nhận một số thiệt thòi về
lợi ích trước mắt để thu được lợi ích lâu dài.
- Thị trường xuất khẩu tương hỗ: thị trường này là thị trường ở những
nước có quan hệ ngoại thương với những ưu đãi,nhân nhượng đối với
nước xuất khẩu. Do vậy, nước xuất khẩu duy trì quan hệ ngoại thương
theo nguyên tắc tương hỗ.
2.2.4. Căn cứ vào loại hình cạnh tranh trên thị trường.
Cạnh tranh là một nhân tố rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh.
Do vậy, thị trường xuất khẩu cũng được phân nhóm dựa trên sức cạnh
tranh của hàng hoá xuất khẩu, bao gồm:
- Thị trường xuất khẩu có ưu thế cạnh tranh.
- Thị trường xuất khẩu không có ưu thế cạnh tranh.
2.2.5. Căn cứ vào khả năng thâm nhập thị trường.
17
Đối với thị trường xuất khẩu, văn hoá mang những khác biệt lớn về ngôn
ngữ, lối sống… Đây chính là điểm đầu tiên doanh nghiệp cần chú ý khi
tiến hành nghiên cứu để mở rộng thị trường.
2.3.2. Đặc điểm kinh tế.
Các thị trường xuất khẩu khác cũng mang những đặc điểm khác về:
- Phân phối của cải và thu nhập.
- Mối quan hệ lao động, tác động của đình công.
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát.
- Mức thu nhập.
- Tình hình cán cân thanh toán.
- Tỉ lệ nợ nước ngoài so với thu nhập bình quân.
Bản thân mỗi quốc gia đã mang những đặc điểm kinh tế như mức độ
cạnh tranh, tốc độ tăng trưởng, mức sống… khác. Sự khác biệt ở bản thân
thị trường, ở mỗi quốc gia, ở mỗi sản phẩm của các nhà cung cấp đã làm
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
cho yếu tố về đặc điểm kinh tế là yếu tố cần được nghiên cứu cẩn thận
nhất trước khi tiến hành kinh doanh xuất khẩu.
2.3.3. Đặc điểm pháp luật – chính trị
Trong hoạt động xuất khẩu, doanh nghiệp cần phải thực hiện nhiều quy
định, tập quán quốc tế cũng như pháp luật của các thị trường xuất khẩu,
nhiều hơn so với thị trường trong nước. Một hệ thống luật pháp mà doanh
nghiệp chịu sự điều chỉnh sẽ rất phức tạp và rắc rối. Do vậy, doanh
nghiệp cần phải thông hiểu một cách sâu sắc về pháp luật trong kinh
doanh quốc tế để tránh những rủi ro không đáng có do sự thiếu thông tin.
Chính trị và hoạt động kinh doanh luôn có tác động lẫn nhau. Từ sự ảnh
hưởng của chính trị có thể đưa đến cho doanh nghiệp nhiều yếu tố sau:
- Mối quan hệ của chính phủ với các nước khác.
- Sự phân chia quyền lực dân tộc trong nước đó và cá dân tộc thiểu số
có đại diện một cách đáng kể trong chính phủ không.
lý thuyết
Thị trường tiềm
năng thực tế
Thị trường
không tiêu dùng
tương đối
Thị trường hiện
tại của doanh
nghiệp
Thị trường hiện
tại của đối thủ
cạnh tranh
Thị trường thị trường hiện tại của sản phẩm
không tiêu
dùng tuyệt đối
của sản phẩm
thị trường lý thuyết của sản
phẩm
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
a. Thị trường không tiêu dùng tuyệt đối sản phẩm, là tập hợp các khách
hàng mà trong mọi trường hợp, họ không có nhu cầu, mong muốn tiêu
dùng sản phẩm của doanh nghiệp, vì nhiều lý do khác như giới tính, lứa
tuổi, nơi cư trú… hoặc các đặc trưng cá biệt khác.
Việc xác định nhóm thị trường này sẽ đem lại con số chính xác về quy
mô thị trường, lượng cầu về sản phẩm và là cơ sở giúp doanh nghiệp tính
toán dung lượng thị trường, từ đó có những quyết định hợp lý trong sản
xuất kinh doanh.
b. Thị trường lý thuyết về sản phẩm, là trường hợp số lượng khách hàng
bộ của doanh nghiệp về số lượng khách hàng, số lượng hàng hoá bán và
tình hình biến động của nó.
II. Khái quát về ngành giấy
1. Đặc trưng cơ bản của ngành công nghiệp giấy
Ngành giấy có những đặc trưng cơ bản đòi hỏi sự quan tâm của các nhà lãnh
đạo hoạch định chính sách, các chủ doanh nghiệp nghiên cứu các chiến lược
kinh doanh. Những đặc trưng đó đang, đã và sẽ tạo ra những tác động quan
24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
trọng, có ảnh hưởng lớn đến xu thế và tiến trình phát triển của toàn ngành
giấy nói chung cũng như công ty cổ phần giấy Lam Sơn nói riêng. Do đó
cần được sự cân nhắc, phân tích, xem xét và đánh giá nhằm tạo lập tư duy
đúng đắn trong quá trình tiếp cận, nhận thức và định hướng phát triển của
công ty cổ phần giấy Lam Sơn.
1.1. Công nghiệp giấy là ngành sản xuất công nghiệp tổng hợp đa
ngành.
Công nghệ sản xuất giấy ứng dụng một loạt các quá trình tác động cơ học,
hóa học, năng lượng, thông tin và điều khiển từ công đoạn xử lý nguyên liệu
ban đầu, nấu rửa, tẩy trắng, sang, lọc, nghiền xeo cho đến gia công chế biến,
đóng gói thành phẩm.
Hiện nay một nhà máy sản xuất giấy từ nguyên liệu thô là một khu liên hiệp
sản xuất, gồm các bộ phận sản xuất chính là nhà máy bột, nhà máy giấy và
các bộ phận sản xuất phục vụ. công ty cổ phần giấy Lam Sơn là một khu vực
sản xuất rộng bao gồm các phân xưởng(…diện tích, công suất)
1.2. Công nghiệp giấy phát triển trên cơ sỏ phát triển các nguồn lực cơ
bản của nền kinh tế xã hội
Công nghiệp giấy chỉ có thể phát triển trên cơ sở phát triển các nguồn lực cơ
bản của nền kinh tế xã hội, trong đó điều kiện mấu chốt là phát triển nguồn
tiềm năng lâm nghiệp, vật tư hóa chất cơ bản và cơ cở hạ tầng.
Để tạo ra được sản phẩm công nghiệp giấy thì trong quá trình sản xuất chế