Giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ thức ăn chăn nuôi của Công ty TNHH VIC giai đoạn 2006 - 2010 - Pdf 11

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế nước ta hiện nay đã và đang phát triển theo hướng kinh tế thị
trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, một
nền kinh tế chịu sự điều chỉnh gắt gao của các quy luật kinh tế như quy luật
cạnh tranh, quy luật giá trị, quy luật cung cầu.
Với sự cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường ngày càng
mạnh mẽ, có những doanh nghiệp đã tự khẳng định mình bằng sự tồn tại và
phát triển mạnh mẽ nhưng cũng có không ít những doanh nghiệp không thể
đứng vững trong nền kinh tế thị trường và phá sản.
Đối với doanh nghiệp thì vấn đề sống còn bao giờ cũng thị trường
tiêu thụ hàng hoá. Kẻ mạnh sẻ chiếm lĩnh thị trường và phát triển, kẻ yếu sẽ
mất thị phần và phá sản đó là quy lụât tất yếu của cạnh tranh. Với những
kiến thức đã học và qua thời gian thực tập tại Công ty TNHH Thương mại
VIC, được sự giúp đỡ của giảng viên Th.S.Đặng Thị Lệ Xuân và Ban lãnh
đạo Công ty TNHH Thương mại VIC, các phòng ban nghiệp vụ, tôi quyết
định chọn đề tài: “Giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ thức ăn chăn
nuôi của Công ty TNHH VIC giai đoạn 2006 - 2010”.
Với việc nghiên cứu chuyên đề này, tôi mong rằng bản thân mình sẽ
tổng hợp được tất cả những kiến thức đã học trong thời gian qua và áp dụng
thực tế trong sản xuất kinh doanh tại Công ty TNHH Thương mại VIC để
góp một phần vào công cuộc phát triển của doanh nghiệp.
Nội dung của chuyên đề gồm 3 chương:
Chương I: Vai trò của tiêu thụ sản phẩm trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Chương II: Thực trang tiêu thụ của Công ty thức ăn chăn nuôi TNHH TM
VIC ở Việt Nam Giai Đoạn 2001 - 2005
Chương III: Một số giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm thức ăn
chăn nuôi của Công ty TNHH TM VIC trong giai đoạn 2006-2010.
1 1
Chuyên đề tốt nghiệp

tham gia thị trường (gồm cả thị trường thủ công mỹ nghệ) là họ đều tìm cách
tối đa hoá lợi ích của mình. Người bán ( người sản xuất ) muốn tối đa hoá lợi
nhuận, người mua( người tiêu dùng) muốn tối đa hoá sự thoả mãn ( lợi ích )
từ sản phẩm họ mua.
Về mặt nguyên lý, sự tác động qua lại giữa người bán và người mua
xác định giá của từng loại hàng hoá, dịch vụ cụ thể, đồng thời xác định cả số
lượng, chất lượng, chủng loại sản phẩm cần sản xuất và qua đó sẽ xác định
việc phân bổ và sử dụng tài nguyên khan hiếm của xã hội. Đây chính là
nguyên tắc hoạt động của cơ chế thị trường. Tuy nhiên hoạt động của thực tế
của thị trường rất phức tạp, phụ thuộc vào số lượng, quy mô, sức mạnh thị
trường của những người bán và những người mua.
1.2.Các tiêu chí khi xem xét và phân loại thị trường
Khi xem xét về hành vi của thị trường( tức là xem xét trên giác độ
cạnh tranh hay độc quyền) các nhà kinh tế phân loại thị trường gồm: thị
trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường độc quyền, thị trường cạnh tranh
không hoàn hảo( gồm cạnh tranh độc quyền và độc quyền tập đoàn)
Khi nghiên cứu về thị trường các nhà kinh tế sử dụng một số tiêu thức
sau để phân loại thị trường:
- Dựa vào số lượng người bán và người mua : Là tiêu thức rất quan
trọng để xác định cấu trúc thị trường. Trong thị trường cạnh tranh
hoàn hảo và cạnh tranh độc quyền có rất nhiều người bán và người
mua. Mỗi người trong số họ chỉ bán ( hoặc mua) một phần rất nhỏ
trong lượng cung thị trường. Trong thị trường độc quyền bán thì một
ngành chỉ có một người bán( người sản xuất ) duy nhất. Trong thị
3 3
Chuyên đề tốt nghiệp
trường độc quyền mua chỉ có một người mua duy nhất. Trong thị
trường độc quyền bán tập đoàn có một vài người bán, còn trong thị
trường độc quyền mua tập đoàn chỉ có một số người mua.
- Loại sản phẩm: Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, sản phẩm đồng

trường là tổng hợp các mức cung của từng cá nhân lại với nhau.
Cung thể hiện mục đích bán hàng của nhà sản xuất.
b. Các yếu tố xác định cung
Cũng tương tự như cầu, ngoài chịu ảnh hưởng của giá còn rất nhiều
yếu tố khác để xác định cung về hàng hoá và dịch vụ (công nghệ, giá của các
yếu tố đầu vào)
• Công nghệ
Công nghệ là một yếu tố quan trọng góp phần năng cao năng suất,
giảm chi phí lao động trong qua trình chế tạo sản phẩm. Sự cải tiến công
nghệ làm cho đường cung dịch chuyển về phía phải, nghĩa là làm tăng khả
năng cung lên. Với công nghệ hiện đại - tự động hoá, năng suất lao động
tăng nhiều hơn so với lao động thủ công và cung tăng nhiều lên.
• Giá của các yếu tố đầu vào
Nếu giá của các yếu tố đầu vào giảm sẽ dẫn đến giá thành sản xuất
giảm và cơ hội kiếm lợi nhuận sẽ cao lên do đó các nhà sản xuất có xu
hướng sản xuất nhiều lên.
• Chính sách thuế
Chính sách thuế của Chính phủ có ảnh hưởng quan trọng đến quyết
định sản xuất của các hãng do đó ảnh hưởng đến việc cung sản phẩm. Mức
thuế cao sẽ làm cho phần thu nhập còn lại cho người sản xuất ít đi và họ
5 5
Chuyên đề tốt nghiệp
không có ý muốn cung hàng hoá. Ngược lại, nếu mức thuế thấp sẽ khuyến
khích các hãng mở rộng sản xuất của mình.
• Số lượng người sản xuất
Số lượng người sản xuất càng nhiều thì cung càng lớn.
• Các kỳ vọng
Mọi người đều mong đợi về sự thay đổi giá của các hàng hoá, gía của
các yếu tố đầu vào, chính sách thuế… đều có ảnh hưởng đến cung hàng hoá
và dịch vụ. Nếu sự mong đợi dự đoán có thuận lợi cho sản xuât thì cung sẽ

- Hàng hoá thay thế
- Hàng hoá bổ sung
Hàng hoá thay thế là hàng hoá có thể sử dụng thay cho hàng hoá khác.
Khi giá của một loại hàng hoá thay đổi thì cầu đối với hàng hoá kia cũng
thay đổi.
Hàng hoá bổ sung là hàng hoá được sử dụng đồng thời với hàng hóa
khác. Đối với hàng hoá bổ sung khi giá của một hàng hoá tăng lên thì cầu
đối với hàng hoá bổ sung sẽ giảm đi
• Dân số
Dân cư của một thị trường đông thì nhu cầu về một mặt hàng nào đó
cũng sẽ lớn hơn. Thị trường tiêu thụ của vùng đó là lớn nếu chúng ta biết
cách khai thác, kích cầu thì sẽ làm cho cầu tăng lên.
2. TIÊU THỤ SẢN PHẨM VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN
PHẨM
2.1.Tiêu thụ sản phẩm.
Theo từ điển kinh tế học hiện đại thì tiêu thụ sản phẩm là hoạt động
kinh doanh nghiệp vụ của công ty thương mại đem hàng bán cho xí nghiệp
7 7
Chuyên đề tốt nghiệp
sản xuất, dân cư ở thành phố, nông thôn. Tiêu thụ hàng hóa là đưa hàng hóa
từ lĩnh vực lưu thông vào lĩnh vực tiêu thụ, là điểm cuối của quá trình tổ
chức lưu thông hàng hóa của ngành thương nghiệp. Thông qua tiêu thụ hàng
hóa sản phẩm của công nông nghiệp trở thành hàng hóa vật tư tiêu dùng cho
sản xuất và tiêu thụ trong sinh hoạt. Đồng thời thực hiện được giá trị hàng
hóa trong ngành sản xuất: từ đó tái sản xuất xã hội được tiến hành thuận lợi,
tạo điều kiện tất yếu để mở rộng tái sản xuất. Việc tiêu thụ hàng hóa phân
chia theo đối tượng có tiêu thụ hàng hóa bán buôn và tiêu thụ hàng hóa bán
lẻ. Tiêu thụ hàng hóa là khâu trung tâm của lưu thông hàng hóa. Nó có tác
dụng quan trọng đối với việc thỏa mãn nhu cầu xã hội, thực hiện thu nhập tài
chính quốc gia, xí nghiệp và cá nhân.

bán hàng cũng như các hoạt động yểm trợ nhằm bán được nhiều hàng hóa
với chi phí kinh doanh cho hoạt động bán hàng thấp nhất cũng như đáp ứng
tốt nhất các dịch vụ sau bán hàng.
Trong quá trình lưu thông hàng hóa tiêu thụ hàng hóa được coi là
khâu trung tâm. Công thức của lưu thông hàng hóa là H-T-H. ở đây thể hiện
hai giai đoạn bán và mua. Quá trình lưu thông hàng hóa chấm dứt khi các
giá trị sử dụng đổi chỗ và đổi chủ, còn tiền thì đọng lại trong lưu thông và
chúng từ tay người này qua tay người khác. Trong nền kinh tế thị trường lưu
thông hàng hóa là sự trao đổi hàng hóa thông qua quan hệ tiền tệ trong nội
bộ các thành phần kinh tế, giữa các thành phần kinh tế, giữa các vùng, giữa
các địa phương, giữa trong nước và nước ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho cá nhân và toàn xã hội. Như vậy lưu
thông hàng hóa có chức năng cung cấp hàng hóa là một khâu trung gian nối
sản xuất với sản xuất, nối sản xuất với tiêu dùng. Thông qua lưu thông, tiêu
9 9
Chuyên đề tốt nghiệp
thụ hàng hóa làm cho hàng hóa thực hiện được giá trị của nó, góp phần khôi
phục và đẩy mạnh quá trình tái sản xuất xã hội.
Tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp có thể thực hiện bằng nhiều cách
khác nhau. Căn cứ vào mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng
cuối cùng, người ta chia ra làm hai cách tiêu thụ trực tiếp và tiêu thụ gián
tiếp.
- Tiêu thụ trực tiếp: Là hình thức người sản xuất bán thẳng sản phẩm
của mình cho người tiêu dùng cuối cùng không qua các trung gian.
- Tiêu thụ gián tiếp: Là hình thức người sản xuất bán sản phẩm của
mình cho người tiêu dùng cuối cùng thông qua các trung gian, bao gồm:
người bán buôn, người bán lẻ, đại lý.
Mặc dù việc tiêu thụ sản phẩm được phân chia thành hai cách, song
trong thực tế hầu như không có doanh nghiệp nào lại sử dụng một cách duy
nhất. Thông thường các doanh nghiệp đều sử dụng kết hợp cả hai cách tùy

đó. Đồng thời việc phát triển theo chiều rộng còn bao gồm cả phát triển về
mặt không gian và phạm vi địa lý. Đó là việc đòi hỏi không ngừng nghiên
cứu xu thế biến động của thế giới, các thị trường nước ngoài và trong nước
để tiến hành thâm nhập vào các thị trường đó.
-Phát triển theo chiều sâu về thực chất là phát triển thị trường về chất
bao gồm việc như nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, đưa ra thị trường
những sản phẩm dịch vụ có hàm lượng chất xám cao. Phát triển thị trường
theo chiều sâu có thể thực hiện theo cách cắt lớp, phân đoạn thị trường để
thoả mãn nhu cầu muôn hình muôn vẻ của khách hàng.
11 11
Chuyên đề tốt nghiệp
Theo nội dung này, phát triển thị trường hàng hóa đó là việc tăng
cường được số lượng thị trường, tăng cường tiêu thụ về chất lượng cũng như
số lượng, thay đổi tích cực cơ cấu mặt hàng tiêu thụ
3. VAI TRÒ CỦA thị trường tiêu THỤ SẢN PHẨM TRONG HOẠT ĐỘNG
SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP.
3.1. Vai trò của hoạt động tiêu thụ sản phẩm trong doanh nghiệp
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiêu thụ sản
phẩm có vị trí cực kỳ quan trọng. Tiêu thụ sản phẩm là khâu quyết định sự
thành bại của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh. Mục đích
của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh là nhằm thu lợi nhuận thông qua
bán hàng, vì vậy hoạt động tiêu thụ sản phẩm là khâu quan trọng nhất, nó chi
phối các nghiệp vụ khác.
Tăng sản lượng tiêu thụ sản phẩm cũng như hoàn thiện công tác tiêu
thụ sản phẩm sẽ là biện pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Tổ
chức tốt hoạt động tiêu thụ sản phẩm sẽ giúp cho doanh nghiệp tăng vòng
quay của vốn, rút ngắn chu kỳ sản xuất, tăng hiệu quả sử dụng vốn cũng như
góp phần tạo lợi nhuận cao.
Trong nền kinh tế thị trường, hầu hết các sản phẩm doanh nghiệp sản
xuất ra để bán, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Tiêu thụ sản phẩm đem lại doanh

nghiệp muốn tồn tại được thì tất yếu phải liên tục đổi mới, không ngừng
nâng cao vị thế của mình ở trong thị trường, mở rộng thị trường tiêu thụ. Chỉ
khi làm được như vậy thì doanh nghiệp mới không ngừng lớn mạnh mới đủ
khả năng đứng vững trước sự phát triển của thời đại:
- Sự phát triển thị trường tiêu thụ giúp doanh nghiệp khẳng định tên
tuổi vị thế của mình trong cạnh tranh và nó còn tạo tiền đề về nguồn
lực cho quá trình đổi mới. Thị trường tiêu thụ cũng đồng nghĩa với
13 13
Chuyên đề tốt nghiệp
doanh thu và đi cùng với lợi nhuận - từ đó mà doanh nghiệp có nguồn
lực đầu tư cho tái sản xuất, đầu tư mở rộng – nâng cao cả số và chất
sản phẩm của doanh nghiệp mình - khi chất lượng và số lượng đều
đươc nâng lên thì tất yếu khách hàng sẽ gia tăng và thị trường tiêu thụ
sẽ mở rộng.
- Một yếu không thể thiếu của bất kỳ quy luật phát triển nào đó là yếu
tố con người. Con người là động lưc tất yếu để tạo lên phát triển.
Muốn phát triển trước tiên phải phát triển con người. Vì vậy mà khi
doanh nghiệp muốn phát triển được thì phát triển con người phải thực
hiện đầu tiên.Và câu hỏi được đặt ra là nguồn lực lấy ở đâu – câu trả
lời duy nhất của doanh nghiệp đó là từ lợi nhuận, điều đó cũng có
nghĩa là doanh nghiệp muốn phát triển được thì việc cần làm đầu tiên
là: ”làm thế nào để mở rộng thị trường”
4.CÁC MÔ HÌNH LÝ THUYẾT CƠ BẢN SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU THỊ
TRƯỜNG.
4.1.Mô hình năm áp lực cạnh tranh của M.Porter.
Michael E. Porter của trường quản trị kinh doanh Harvard đã đưa ra
những vấn đề cốt lõi nhất để giúp cho các nhà quản lý sử dụng phân tích môi
trường nghành. Porter đưa ra mô hình năm lực tác động vào nghành:
* Mức độ cạnh tranh giữa các Công ty đang hoạt động trong nghành.
* Khả năng cạnh tranh của các đối thu tiềm ẩn

rằng lợi thế của sản xuất, nghiên cứu, marketing và dịch vụ trên quy mô lớn
là hàng rào ngăn cản sự xâm nhập vào ngành công nghiệp sản xuất máy tính.
Một nghiên cứu có tính kinh điển về những trở ngại cho việc nhảy vào
một ngành kinh doanh cho được nhà kinh tế học Joe Bain đưa ra. Ông ta xác
định 3 yếu tố trở ngại chủ yếu đối với việc nhảy vào một ngành kinh doanh:
15 15
Chuyên đề tốt nghiệp
- Sự ưa chuộng sản phẩm: Đó là sự ưa thích của người mua đối sản
phẩm của Công ty hiện đang hoạt động, những Công ty này có thể thiết lập
lên sự ưa chuộng của khách hàng đối với sản phẩm mình bằng cách: Quảng
cáo thường xuyên tên Công ty và nhãn hiệu. Đối với sản phẩm thông qua
các chương nghiên cứu và phát triển, nhấn mạnh ưu thế về chất lượng hàng
hoá cao và dịch vụ sau bán hàng.
Như vậy sự ưa chuộng sản phẩm làm giảm bớt sự đe doạ thâm nhập
vào ngành của các đối thủ tiềm ẩn, làm cho họ thấy rằng việc phá vỡ sự ưa
thích của người tiêu dùng đối với sản phẩm của các Công ty trong ngành là
khó khăn và tốn kém.
- Các ưu thế về chi phí thấp: Đây chính là khó khăn đối với các đối thủ
tiềm ẩn khi mới nhảy vào ngành. Những lợi thế về chi phí thường bắt nguồn
từ: Phương pháp sản xuất tốt do kết quả của quá trình tích luỹ kinh nghiệm
lâu dài, sự quản lý có hiệu quả đầu vào của sản xuất như lao động, nguyên
vật liệu, máy móc thiết bị có nguồn vốn kinh doanh ổn định với lãi suất thấp
do hoạt động của Công ty chứa đựng ít rủi ro hơn các Công ty khác.
- Tính hiệu quả của sản xuất lớn: Đây là ưu thế về chi phí của các Công
ty có quy mô lớn. Ưu thế của sản xuất lớn bao gồm: Giảm chi phí thông qua
sản xuất hàng loạt đã đầu ra đã được tiêu chuẩn hoá, giảm giá cho việc mua
các nguyên liệu đầu vào và các bộ phận máy móc thiết bị với khối lượng
lớn, sự phân bổ đều những chi phí cố định cho một khối lượng sản xuất lớn
hơn và cả tính hiệu quả của sản xuất lớn trong quảng cáo.
Nếu Công ty có được những lợi thế này sẽ buộc các Công ty mới thâm

Khi người mua mua với số lượng lớn, họ có thể sử dụng sức mua của
mình như một đòn bẩy để yêu cầu được giảm giá.
17 17
Chuyên đề tốt nghiệp
Khi người mua có thể lựa chọn đơn đặt hàng giữa các Công ty cung
ứng cùng loại sản phẩm.
Ví dụ: Về một ngành người mua rất ít ưu thế là ngành cung cấp các linh
phụ kiện ôtô.
Các cơ sở cung cấp linh phụ kiện ôtôt rất nhiều và quy mô lại nhỏ.
Khách hàng của họ là các nhà sản xuất ô tô, quy mô rất lớn, số lượng lại ít.
Ví dụ hãng Chrysler quan hệ thường xuyên với 2000 các cơ sở cung cấp các
linh phụ kiện khác nhau và thường hợp đồng với nhiều Công ty khác nhau
để cung cấp một chi tiết. Họ có thể sử dụng sự đe doạ về các hợp đồng làm
ăn như là vũ khí để thoả thuận mua bán.
4.1.4. Sức ép về giá của người cung cấp
Người cung cấp được coi là sự đe doạ với Công ty khi họ có thể đẩy
mức giá hàng cung cấp cho Công ty lên, ảnh hưởng đến lợi nhuận của Công
ty. Các Công ty thường phải quan hệ với các tổ chức cung cấp các nguồn
hàng khác nhau như vật tư thiết bị, nguồn lao động và tài chính. Yếu tố làm
tăng thế mạnh của các tổ chức cung ứng cũng tương tự như các yếu tố làm
tăng thế mạnh của người mua sản phẩm.
- Số lượng tổ chức cung cấp ít, người mua khó lựa chọn cơ sở cung cấp
- Sản phẩm Công ty cần mua có rất ít loại sản phẩm có thể thay thế
được
Ví dụ, Công ty Xerox với tư cách là người phát minh ra máy phô tô
coppy, đã có sự độc quyền 25 năm trong việc sản xuất máy này. Người mua
phụ thuộc vào Xerox bởi vì họ là người cung cấp duy nhất. Lợi thế này
mang lại cho Xerox cơ hội nâng giá cao hơn mức giá sẽ được định ra trong
những điều kiện cạnh tranh, như mức giá phổ biến trong ngành hiện nay.
Một ví dụ khác, trong ngành hàng không, một thời gian dài các nghiệp

Chuyên đề tốt nghiệp
Đặc trưng của những ngành phân tán là: Các công ty nhỏ bé, không có
sức mạnh chi phối thị trường và thường phải chấp nhận mức giá của thị
trường. Khi đó mức lợi nhuận của Công ty phụ thuộc vào khả năng giảm chi
phí hoạt động, nhưng về mặt này các công ty có nhiều mặt hạn chế, do quy
mô nhỏ, sản phẩm của công ty thường phải chịu tỷ lệ lớn hơn chi phí về
marketing hoặc chi phí nghiên cứu và phát triển để tạo sự khác biệt hoá về
sản phẩm.
Đặc trưng của những ngành hợp nhất là các Công ty hoạt động phụ
thuộc vào nhau. Điều này có nghĩa là các hoạt động cạnh tranh của một
Công ty sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức lợi nhuận của công ty khác trong
ngành. Ví dụ, một hãng ô tô chào hàng với phương thức bán ưu đãi về tài
chính lập tức gây tác động tiêu cực đến doanh số bán và lợi nhuận của các
Công ty khác, buộc những công ty này phải có ưu đãi tương tự nhằm bảo vệ
thị trường của họ. Như vậy, trong ngành hợp nhất, hoạt động mang tính cạnh
tranh của một công ty tác động trực tiếp đến thị trường của đối thủ cạnh
tranh và buộc chúng phải đối phó lại. Hiệu quả là sự xoáy chôn ốc tăng lên
về mức độ của cạnh tranh, làm giảm dần mức lợ nhuận của ngành. Do đó
phải điều rõ ràng là trong ngành hợp nhất, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các
công ty và khả năng sảy ra chiến tranh về giá cả tạo ra sự đe doạ chủ yếu.
Các Công ty cố gắng làm giảm hậu quả của sự đe doạ này bằng cách theo
sau các mức giá được định bởi các Công ty đầu đàn trong ngành. Việc này
gọi là hình thức thoả thuận ngầm, bởi vì thoả thuận một cách rõ ràng là trái
pháp luật. Do đó, đứng trước nguy cơ đe dọa của cuộc chíên tranh giá cả,
các Công ty trong ngành hợp nhất có xu hướng cạnh tranh về chất lượng
hoặc mẫu mã của sản phẩm và việc né tránh các cuộc chiến tranh giá cả chín
là xu hướng đặc trưng của ngành hợp nhất.
20 20
Chuyên đề tốt nghiệp
- Mức độ yêu cầu: Tình trạng về cầu trong ngành cũng là một yếu tố tác

trong chuỗi giá
trị
Mức độ quan
trọng với
ngành
Mức độ tác
động
Tính chất tác
động
Điểm số
1 2 3 4 5
Liệt kê các
thành phần
trong chuỗi giá
trị
Phân loại mức
độ quan
trọng(từ 0 đến
3)
Phân loại
mức độ tác
động (từ 0
đến 3)
Xác định tính
chất tác động
tích cực(+)
tiêu cực(-)
Nhân trị số
(cột 2) với
(cột 3) và đặt

Trung bình
Thấp
Trung bình
Ưu tiên cao
ThấpMa trận nguy cơ tương tự như ma trận cơ hội, chỉ khác là nó có thêm
một cột về mức độ tác động. Cột này phản ánh các nguy cơ có thể làm công
ty sụp đổ hoàn toàn, như nguy cơ phá sản.
Tác động
của
Nguy

Xác suất sảy
ra nguy cơ
Hiểm
nghèo
Nghiêm trọng Trung bình Nhẹ
Cao
Trung bình
Thấp
23 23
Chuyên đề tốt nghiệp
Mức cao
Mức khẩn cấp
Mức nhẹ
Mức trung bình

Nguy cơ ở mức khẩn cấp thường do lãnh đạo tối cao xử lý. Các công

Để xây dựng ma trận SWOT , trước tiên cần kể ra các mặt mạnh, mặt
yếu, cơ hội và nguy cơ được xác lập bằng ma trận phân loại theo thứ tự ưu
tiên. Tiếp đó tiến hành so sánh một cách có hệ thống từng cấp tương ứng
giữa các yếu tố để tạo ra cấp phối hợp. Có bốn nhóm phối hợp cơ bản, tương
ứng với các nhóm này là các phương án chiến lược cần được xem xét.
Phối hợp S/O thu được từ sự kết hợp giữa các mặt mạnh chủ yếu với
các cơ hội của công ty, cần chú ý đến việc sử dụng các mặt mạnh để đối phó
các nguy cơ.
Phối hợp W/O là sự kết hợp giữa các mặt yếu của công ty với các cơ
hội. Sự kết hợp này mở ra cho công ty khả năng vượt qua mặt yếu bằng
tranh thủ các cơ hội.
Phối hợp W/T là sự kết hợp giữa các mặt yếu và nguy cơ của công ty.
Sự kết hợp này đặt ra yêu cầu công ty cần phảI tìm các biện pháp để giảm
bớt mặt yếu và tránh được nguy cơ bằng cách đề ra các chiến lược phòng
thủ.
Điều cần chú ý là các cách phối hợp trên không nên cứng nhắc, có thể
đưa ra những chiến lược phối hợp một cách tổng hợp cả các mặt mạnh, mặt
yếu, cơ hội và nguy cơ, làm cho công ty vừa có thể phát huy được mặt
25 25

Trích đoạn 5.SẢN XUẤT THỨC ĂN GIA SÚC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 6.CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI KHẢ NĂNG TIÊU THỤ THỨC ĂN GIA SÚC. Nhóm các yếu tố chính sách. Sự phát triển của quá trình công nghiệp hoá nông thôn Một số yếu tố cơ bản khác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status