vai trò của tri thức khoa học,công nghệ cao đối với phát triển kinh tế tri thức - Pdf 94

LỜI GIỚI THIỆU
Trong kinh tế vai trò của tri thức khoa học và công nghệ trong bất cứ giai
đoạn nào của xã hội loài người cũng đã được lịch sử thừa nhận. Tuy nhiên, vào
cuối thế kỷ XX vai trò của tri thức khoa học công nghệ ngày càng rõ rệt, trở
thành yếu tố có tính quyết định trong sự phát triển kinh tế.
Ngày nay các quốc gia đều thừa nhận khoa học, công nghệ là công cụ là
chiến lược để phát triển kinh tế xã hội một cách nhanh chóng và bền vững trong
môi trường quốc tế ngày càng cạnh tranh quyết liệt.
Ở Việt Nam vai trò của tri thức khoa học công nghệ đã được khẳng định .
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã xác định “khoa học
công nghệ đóng vai trò then chốt trong sự phát triển kinh tế xã hội của đất
nước”. Đại hội Đảng VIII Đảng cộng sản Việt Nam cũng nhấn mạnh “khoa học
và công nghệ phải trở thành nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước” tiếp theo Đại hội IX “Tăng cường tiềm lực và đổi mới khoa học
và công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển đất nước”
Vậy vai trò của tri thức khoa học và tri thức công nghệ đối với phát triển
kinh tế như thế nào và cần có những phương hướng để phát triển, vận dụng thúc
đẩy tri thức khoa hoc, công nghệ.
Em xin trân thành cám ơn T.S Phạm Văn Sinh đã hướng dẫn em làm bài
này.
1
1. Khái niệm tri thức khoa học và công nghệ
a. Tri thức khoa học.
- Khái niệm
Tri thức khoa học là những kiến thức thu đợc qua những quá trình học tập
một cách công phu.
Tri thức khoa hoc không chỉ là sự phản ánh thế giới hiện thực, mà còn đợc
kiểm nghiệm qua thực tiễn.
-Đặc điểm của tri thức khoa học
Tri thức khoa học là tri thức ở tầm quản lý đợc cái bản chất qui luật nguyên
nhân, xu hớng của thế giới khách quan.

c. Do ú tri thc cụng ngh l sc mnh ca cụng ngh.
c. Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ.
Trong giai đoạn hiện nay, khoa học và công nghệ luôn gắn bó chặt chẽ với
nhau. Khoa học là tiền đề trực tiếp của công nghệ và công nghệ lại là kết quả trực
tiếp của khoa học. Khi nói đến công nghệ ngời ta hiểu ngay trong đó có khoa học.
Trong công nghệ trí tuệ, tri thức khoa học đã trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp.
Ngợc lại những tri thức khoa học hiện đại không thể có đợc nếu thiếu trợ giúp của
công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin. Vì sự phát triển của khoa học chính là
thớc đo trình độ phát triển của t duy con ngời. Từ đây cho thấy rằng giữa thông tin
và khoa học có mối quan hệ hết sức chặt chẽ,hữu cơ với nhau. Thông tin vừa là nội
dung khoa học vừa là hình thức biểu hiện của nó vì nó lu giữ và chuyển tải thông
tin tri thức khoa học là bằng công nghệ thông tin. Qua các máy vi tính,siêu vi tính
và mạng Internet bằng công nghệ thông tin.
So sánh các giai đoạn phát triển cơ bản của khoa học và công nghệ hay cũng
có thể coi đó là những cuộc cách mạng khoa học và cách mạng công nghệ chúng
ta thấy mối quan hệ chặt chẽ và phù hợp với nhau một cách đáng kinh ngạc. Xét
về mặt thời gian các cuộc cách mạng khoa học và các cuộc cách mạng công nghệ
diễn ra về cơ bản nh đồng bộ với nhau. Xét về mặt nội dung và tính chất của các
cuộc cách mạng này biểu hiện những trình độ phát triển ngày càng cao,hoàn thiện
hơn.
3
d. Cấu trúc của tri thức khoa học và công nghệ.
- Cấu trúc của tri thức khoa học
Hầu hết các nhà khoa học đều thừa nhận tri thức khoa học bao gồm tri thức
kinh nghiệm và tri thức lý luận. Trong đó tri thức kinh nghiệm là trình độ thấp
còn tri thức lý luận là trình độ cao của tri thức khoa học, giữa hai trình độ này các
tri thức khoa học có mối quan hệ mật thiết với nhau làm tiền đề, cơ sở cho nhau
cung phát triển, phản ánh ngày càng đúng đắn hơn, đầy đủ hơn và sâu săc hơn về
thế giới vật chất đang vận động không ngừng.
Tri thức kinh nghiệm chủ yếu thu nhận đợc thông qua quan sát và thí nghiệm

Trong nền văn minh này động lực thúc đẩy nền sản xuất không phải là
vốn,tài nguyên thiên nhiên, sức lao động giản đơn mà là tri thức khoa học, công
nghệ Đặc biệt là trong công nghệ cơ cấu đó chuyển dịch khá nhanh về phía
những ngành có hàm lợng khoa học, công nghệ và trí tuệ cao, cơ cấu tiêu thụ
giảm theo hớng giảm các sản phẩm dùng nhiều lao động và nguyên liệu.
Chính tiến bộ khoa học - kỹ thuật đã làm cho vai trò của năng lợng và lợi thế
so sánh của nguyên liệu và sản phẩm sơ cấp trong công nghiệp giảm dần, do vậy
mà mới có tình trạng chỉ số giá cả các sản phẩm sơ cấp và nguyên liệu trên thị tr-
ờng thế giới giảm tới 40% so với đầu thập kỷ 80. Nhờ tiến bộ khoa học, công nghệ
mà càng ngày ngời càng tao ra đợc nhiều nguyên liệu có thể thay thế những thứ từ
trớc tới nay chỉ có thể da vào sự cung cấp của thiên nhiên. Vì vậy tiến bộ khoa học
công nghệ đang làm cho u thế dới dạng tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên trở
nên tơng đối.
- Tiến bộ khoa học kỹ thuật một mặt tạo thời cơ thuận lợi cho các nớc đang
phát triển thoát khỏi sự lạc hậu và trì trệ về kinh tế. Nếu nh biết định hớng đúng,
có một tiềm năng nhất định nào đó về nguồn vốn và nguồn nhân lực có trình độ
cần thiết để tiếp thu các công nghệ hiện đại. Khi đã có những kỹ thuật công nghệ
mới tiến bộ thì vấn đề đặt ra tiếp theo là giải quyết việc làm cho số lao động dôi
ra, tìm thị trờng tiêu thụ sản phẩm thì khả năng hội nhập của các nớc này với trào
lu chung của thế giới là hiện thực song tiến bộ khoa học công nghệ thời đại chúng
ta còn có một mặt khác nghiệt ngã hoàn toàn có khả năng nhấn chìm các nớc kém
phát triển chìm sâu hơn trong cảnh lạc hậu và phụ thuộc. Nếu nh họ không tìm ra
5
con đờng thích hợp hoặc cố tình duy trì cách làm ăn cũ, thói quen cũ không thích
nghi với những biến đổi của thời đại.
- Khoa học và cộng nghệ là động lực của công nghiệp hoá hiện đại hoá
Mục tiêu của công nghiệp hoá hiện đại hoá là sử dụng kỹ thuật công nghệ
ngày càng tiên tiến hiện đại nhằm đạt nănátuất lao động cao. Tất cả những điều đó
chỉ có thể đợc thực hiện trên cơ sở khoa học công nghệ phát triển đến một trình độ
nhất định. Khi mà nền khoa học của thế giới đang có sự phát triển nh vũ bão, khoa

kịp những biến đổi hết sức mới trong lĩnh vực này mà kh kh giữ lấy cách quản lý
cũ lạc hậu thì không tránh khỏi bỏ lỡ thời cơ có thể vơn lên để tiến kịp cùng thời
đại và thoát ra sự trì trệ.
c. Vai trò của tri thức công nghệ cao đối với phát triển kinh tế.
-Công nghệ là nhân tố quyết định chất lợng sản phẩm chi phí sản xuất,nh
hng ti nng lc cnh tranh tỏc ng ny th hin trc ht ch nh cụng
ngh v tin b cụng ngh m cht lng sn phm c duy trỡ v nõng cao,
chi phớ sn xut c tit kim mt cỏch tng i gia thnh sn phm c
gim bt, sn phm mi cú cụng dng tt hnHn na trong iu kin hin
nay cụng ngh ó dn dn tr thnh mt yu t sn xut trc tip chớnh vỡ vy
cỏc doanh nghip u c gng u t vi quy mụ ngy cng tng vo cụng ngh.
-Công nghệ trở thành loại hình quan trọng nhất tiên tin nhất và giải quýêt
việc làm.
Tin b cụng ngh cho phộp cỏc nh kinh donh cú th tip cn v x lý
thụng tin mt cỏch nhanh chúng, kim tra thụng tin mụt cỏch d dng. Nh tin
b cụng ngh nhng lnh vc kinh doanh mi c hỡnh thnh, cng nh k
thut cụng ngh thụng tin phỏt trin m cú cỏc hot ng thng mi u t.
Ngy nay trong lnh vc ti chớnh ngõn hng hỡnh thnh nhng mng li ton
cu lm th trng ti chớnh quc t hot ng liờn tc khụng giỏn on.
d. Thúc đẩy , vận dụng tri thức khoa học, công nghệ và phát triển kinh tế tri
thức.
-Thỳc y hỡnh thc o to nõng cao trỡnh i ng cỏn b tri thc khoa
hc.
7
Xõy dng tim lc nhm phỏt trin mt nn kinh t tiờn tin, bao gn y
mnh cỏc hỡnh thc o to v s dng cỏn b khoa hc, chỳ trng o to lp
chuyờn gia u n. Trong thi k cụng nghip húa hin i húa cũn to chuyn
bin c bn ton din v giỏo dc v o to. Phi to dng c nhng iu
kin cn thit cho s phỏt trin tri thc khoa hc va cụng ngh.Vic xỏc inh
nhng phng hng ỳng cho s phỏt trin khoa hc cụng ngh l cn thit.

Cơ cấu tính chất và phơng thức hoạt động kinh tế có những biến đổi sâu sắc
nhanh chóng, trong đó các ngành kinh tế dạ vào tri thức, dựa vào các thành tựu
mới nhất của khoa học.
Mọi hoạt động đều có liên quan đến vấn đề toàn cầu hoá kinh tế, có tác dụng
tích cựu sâu rộng tới nhiều mặt của đời sống xã hội trong mỗi quốc gia trên thế
giới.
-Phát triển kinh tế tri thức là một xu hớng tất yếu.
Kinh tế tri thức không phải là sân chơi riêng biệt của các nớc phát triển các
nớc đang phát triển cũng có những cơ hội thuận lợi đểco thể rut ngắn khoảng cách
hy hữu. Trong bối cảnh tự do hoá thơng mại và toàn cầu hóa các doanh nghiệp tại
các nớc đang phát triển cũng có khả năng dụng những thành tựu mới nhất của
khoa học công nghệ. Ngay tại khu vực Đông Nam á phát triển công nghệ thông
tin và thiết lập hệ thống thơng mại đang luôn là chủ đề trong các cuộc họp khoa
học ASEAN.
Bờn cnh s phỏt trin nh v bóo ca cỏc cuc cỏch mng khoa hc v
cụng ngh hin i cng ang tim n nhng nguy c ln nhng vn nan gii
cú tớnh ton cu húa vic khai thỏc cn kit ti nguyờn thiờn nhiờn, mụi trng
suy thoỏi nghiờm trng an ninh thc s bi e da. Vỡ vy vic phỏt trin kinh t
tri thc l mt xu th tt yu.
9
b. Tri th c khoa h c công ngh l chìa khóa i v o n n kinh t tri th c.ứ ọ ệ à đ à ề ế ứ
Đặc trưng của nền kinh tế tri thức là không ngừng gia tăng sử dụng các
loại tri thức và sự sáng tạo mới nhất của con người,có tốc độ đổi mới sản phẩm
và công nghệ nhanh, tiêu hao ít tài nguyên, năng lượng , môi trường được đảm
bảo bền vững. Động lực thúc đẩy sản xuất không phải vốn, tài nguyên thiên
nhiên mà là tri thức là khoa học, công nghệ.
Trong kinh tế tri thức những ngành dựa vào tri thức, dựa vào những thành
tựu mới của khoa học, công nghệ có tác dung to lớn tới sự phát triển xã hội.
Chẳng hạn như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học…nhưng cũng có thể là
những ngành kinh tế truyền thống (như nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ)

Dịch vụ là lĩnh vực rất lớn của kinh tế tri thức bởi vậy gắn kết phát triển
kinh tế tri thức sẽ có thuận lợi mạnh hiện đại hóa công nghệ hóa nhanh ở nước
ta. Các ngành dịch vụ quan trọng như thương mại, tài chính ngân hàng, du
lịch…bắt buộc phải nhanh chóng chuyển sang công nghệ thông tin, mạng
internet viễn thông toàn cầu hay công nghệ cao.Vì vậy số dự án công nghệ cao
đa tăng nhanh với vốn đầu tư lớn hứa hẹn triển vọng tốt.

11
KẾT LUẬN
Xu hướng xây dựng và phát triển kinh tế tri thức là xu hướng tất yếu của
lịch sử vì mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh Việt
Nam không thể đi ngược xu hướng đó. Nước ta đã thu được nhiều thành tựu to
lớn, nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục. Nhờ có chính
sách đẩy mạnh việc nghiên cứu và áp dụng những thành tựu khoa học- công
nghệ nên nước ta đã dần thoát khỏi tình trạng lạc hậu rút ngắn khoảng cách với
các nước trong khu vực và trên thế giới. Nhìn vào quá trình phát triển của nước
ta, chúng ta thấy việc chuyển đổi, sử dụng nhiều tri thức khoa học trong công
cuộc đổi mới là một hướng đi đúng đắn của Đảng và nhà nước, điều này được
khẳng định qua các kì đại hội Đảng lần thứ VIII, IX.
Do chiến tranh kéo dài, tiềm lực kinh tế thấp, do tác phong làm việc chưa
năng động, do các phong tục tập quán của người phương Đông,… nên nước ta
có trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn rất thấp. Để nhanh chóng đuổi kịp các
nước khác, Đảng và nhà nước phải có những biện pháp, chính sách để đẩy mạnh
tri thức khoa học của đất nước, đó là con đường ngắn nhất để thực hiện lời Bác
Hồ dạy “ làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực tri thức khoa học còn gây ra nhiều
mặt tiêu cực như ô nhiễm môi trường, bệnh tật, làm cho xã hội phân hóa giàu
nghèo,… nếu biết khắc phục các mặt tiêu cực, phát huy mặt tích cực thì nước ta
sẽ nhanh chóng phát triển theo kịp các nước trên thế giới.
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status