QUẢN LÝ VẬN HÀNH TRẠM XỬ LÝ - Pdf 94

Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS NGUYỄN ĐỨC TOÀN
Đề tài: Thiết kế hệ thống thoát nước khu đô thị Bắc Cổ Nhuế -Chèm
CHƯƠNG 6
QUẢN LÝ VẬN HÀNH TRẠM XỬ LÝ
6.1.Nguyên tắc quản lý vận hành trạm xử lý nước thải .
Các công trình xử lý nước thải được vận hành theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN5576-91
Hệ thống cấp thoát nước – Quy phạm quản lý kỹ thuật / 3 / và Quy chuẩn hệ thống cấp
thoát nước trong công trình / 4 /.Nguyên tắc vận hành các công trình phải phù hợp với các
quá trình xử lý nước thải diễn ra trong đó .Yêu cầu và trình độ vận hành các công trình xử
lý nước thải là xử lý nước thải tập trung .
Các công trình của trạm xử lý nước thải tập trung thường được xây dựng hợp khối chia
thành 2 nhóm :Nhóm các công trình lắng kết hợp với lên men bùn cặn và nhóm các công
trình xử lý nước thải.
Đối với bể sinh học ,điều kiện để bể làm việc ổn định là phải đủ bùn hoạt tính .Nồng
độ bùn hoạt tính được xác định bằng phương pháp đo trong ống Imhoff,phải trên 200ml/l
thì bể mới hoạt động được .Khi nồng độ thể tích bùn hoạt tính từ 300 đến
600ml/l thì bể hoạt động tốt .Hàm lượng Oxy hoà tan trong bể phải thường xuyên được
đảm bảo từ 2 – 4mg/l. Để các quá trình sinh hoá trong bể Aeroten diễn ra ổn định các máy
bơm bùn và máy sục khí phải làm việc đạt công suất yêu cầu và liên tục.Nước thải và bùn
hoạt tính được chộn đều tại tất cả các vị trí trong bể. Hiệu quả xử lý nước thải trong bể
được xác định thông qua các chỉ tiêu chất lượng nước,nồng độ ôxy hoà tan ,liều lượng bùn
hoạt tính. Khi tải lượng hữu cơ BOD trong bể tăng ,bùn hoạt tính có thể bị trương ,dễ tạo
thành các hạt nhỏ rời rạc và khó lắng. Trong bùn xuất hiện nhiều vi sinh vật hình sợi. Khi
lượng ôxy không đủ hoặc khi trong nước thải có chứa các chất độc hại thì hiện tượng này
cũng xảy ra.Một số biện pháp khắc phục hiện tượng bùn trương như sau :
- Tăng cường sục khí .
- Xả bùn dư
- Tạm thời giảm tải trọng thuỷ lực của bể
- Pha loãng nước thải bằng nước sông hồ
- Tháo kiệt ,cọ sạch và xả đợt nước mới vào bể .
Trong bể lắng đợt II lại diễn ra quá trình khử Nitrat ,kèm theo việc nổi bọt khí Nitơ.Mật

- Lượng nước thải chảy vào toàn trạm và từng công trình
- Lượng cát, cặn, bùn hoạt tính và khí thu được
- Lưu lượng không khí, hơi nóng và nước nóng
- Năng lượng điện tiêu thụ cho các nhu cầu sản xuất
- Lượng hoá chất tiêu thụ (để khử trùng hoặc khi xử lý bằng phương pháp hoá học)
2
SVTH:TRẦN TRUNG THÀNH –MSSV 5720.46-46ĐT
2
Đồ án tốt nghiệp GVHD:TS NGUYỄN ĐỨC TOÀN
Đề tài: Thiết kế hệ thống thoát nước khu đô thị Bắc Cổ Nhuế -Chèm
- Hiệu suất làm việc của các công trình theo số liệu phân tích hoá học và vi sinh
vật của nước thaỉ trước và sau khi xử lý
- Liều lượng bùn hoạt tính trong bể aêrôten
Điều quan trọng là phải xem lưu lượng thực tế của nước thải chảy vào trạm có
đúng với lưu lượng thiết kế không. Nên tiến hành đo lưu lượng nước bằng các dụng cụ
thiết bị tự ghi. Qua bảng tự ghi có thể biết được lưu lượng tổng cộng ngày đêm và sự
dao động của lưu lượng theo các giờ trong ngày đêm.
Nếu toàn bộ nước thải được đưa vào công trình làm sạch bằng 1 trạm bơm chung
có trang bị đồng hồ đo lưu lượng thì không phải đo lưu lượng tổng cộng ở trạm xử lý
nữa. Khi đó các số liệu về lưu lượng nước thải phải thường xuyên chuyển từ trạm bơm
về trạm xử lý.
Lượng cặn tươi và bùn hoạt tính có thể xác định theo dung tích các bể chứa trong
trạm bơm và theo lưu lượng máy bơm.
Lượng không khí thổi vào bể aêrôten hoặc bể aêrôphin và lượng khí ở bể mêtan
có thể đo bằng đồng hồ đo khí hoặc áp kế vi sai tự ghi.
Người ta còn phải đo lượng ô xy tự do hoà tan trong nước bằng phương pháp tự
động hoá. Thường lượng ô xy từ do hòa tan trong nước sau khi xử lý bằng 2 mg/l và lớn
hơn
Lưu lượng hơi và nước nóng dùng để hâm nóng bể mêtan có thể đo bằng đồng
hồ đo hơi, đồng hồ đo nước. Nhiệt độ trong bể mêtan đo bằng nhiệt kế điện trở.

Để đánh giá đặc tính của cặn người ta xác định độ ẩm, độ tro (%) và thành phần
hoá học của cặn (lượng mỡ, đạm, đường mg/l)
Khi nước thải sản xuất chảy vào trạm với một lượng lớn thì khối lượng phân tích
phải nhiều hơn vì phải xác định các tạp chất đặc trưng cho loại nước thải đó
Mỗi quí một lần phải tiến hành phân tích một cách hoàn chỉnh toàn bộ nước thải
trước và sau khi làm sạch. Phải lấy mẫu nước qua từng khoảng thời gian nhất định trong
ngày đêm để phân tích. Đối với từng công trình phải lấy mẫu nước theo thời gian nước
lưu lại trong đó. Vì thành phần nước thải thay đổi theo thời gian trong ngày đêm, cho
nên mỗi tháng 1 lần phải lấy mẫu nước theo từng giờ để phân tích. Các mẫu nước đó
được trộn lẫn theo tỷ lệ có tính đến sự dao động về lưu lượng để lấy mẫu nước trung
bình. Những mẫu nước để phân tích phải lấy ở những điểm và chiều sâu nhất định do
người công nghệ qui định.
Đồng thời với lúc lấy mẫu nước để phân tích phải đo nhiệt độ của nước tối thiểu
1 lần một ngày. Mỗi ngày 3 lần phải ghi nhiệt độ của không khí vào 7, 12 và 19 giờ. Để
theo dõi nhiệt độ không khí nên dùng nhiệt kế tự ghi.
Những kết quả của mỗi lần phân tích , kết quả trung bình sau thời gian 1 năm
phải chỉnh lý và ghi vào sổ.
Từ những kết quả nhận được đồng thời phân tích và đo lưu lưọng nước thải chảy
vào trạm có thể tính được tổng số lượng chất bẩn (NOS
5
, thể tích cặn hoặc chất lơ lửng
sấy khô ở 105
o
C...) và cả lượng chất bẩn không bị giữ lại ở các công
trình mà trôi đi theo nước. Các chỉ tiêu công tác của từng công trình là:
- Đối với song chắn rác : lượng rác bị giữ lại.
- Bể lắng cát : lượng cát bị giữ lại và trôi đi.
- Bể lắng : lượng chất lơ lửng bị giữ lại trong bể và trôi đi theo nước, sự tăng độ
tung.
- Bể aêrôten: lượng chất bẩn hữu cơ đã được xử lý, các dạng nitơ, lượng ôxy hoà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status