GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng HV: Phạm Thanh Tâm
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp bách của đề tài
Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới
(WTO) là sự kiện nổi bật hàng đầu cùng với việc Mỹ thông qua Quy chế thương
mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) với Việt Nam và tổ chức thành công Hội nghị
cấp cao APEC đã tạo nên vị thế mới cho nước ta trong khu vực và trên thế giới.
Bên cạnh là những chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài gần 18 năm qua, giờ
đây làn sóng vốn FDI vào Việt Nam ngày càng cao. Điều này là tin vui cho nước ta mở
đường phát triển kinh tế, tăng nguồn thu ngân sách đồng thời hội nhập vào nền kinh tế
thế giới.
Song đi đôi với vấn đề này, có một điều mà chính phủ đau đầu đó là
chuyển giá. Hầu hết các doanh nghiệp FDI đều khai báo kinh doanh thua lỗ nhưng thực
tế vẫn có khoản lợi nhuận chuyển về công ty mẹ. Tình hình chuyển giá “không kiểm
soát được”, thì việc nghiên cứu để tìm giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá là cấp
thiết, khi mà luồng vốn FDI đổ vào Việt Nam ngày càng nhiều. Vì vậy, tối đã tiến hành
tìm hiểu và phân tích cơ sở lí thuyết, thực trạng và những giải pháp để góp phần hạn chế
tình hình chuyển giá ở Việt Nam trong giai đoạn mở cửa hội nhập hiện nay
2. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Vấn đề cơ bản mà đề tài mong muốn giải quyết là nghiên cứu, phân tích
hiện tượng chuyển giá trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Việt Nam trong thời gian qua, qua đó đề ra các giải pháp chống chuyển giá
phù hợp với thông lệ quốc tế và tình hình Việt Nam. Xem xét văn bản thông tư gần đây
của chính phủ về việc chống chuyển giá đã phát huy hết tác dụng và ngăn chặn được
chuyển giá chưa?
3. Nội dung của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài được thể hiện 03
chương:
- Chương 1 : Tổng quan về chuyển giá.
- Chương 2 : Thực trạng chuyển giá ở Việt Nam
- Chương 3 : Giải pháp chống chuyển giá ở Việt Nam
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng HV: Phạm Thanh Tâm
Bahrain 0% Việt Nam 25%
Bermuda 0% Anh 28%
Macau 12% Ấn Độ 33.99%
Hồng Kông 16.5% Mỹ 40%
(Nguồn: KPMG’s Corporate and Indirect Tax Rate Survey 2009)
Các MNC đã chuyển một phần lợi nhuận từ quốc gia có thuế suất thuế TNDN cao
sang quốc gia có thuế suất thuế TNDN thấp, như thế các MNC đã thực hiện được mục
tiêu tối đa hóa lợi nhuận của mình. Nói tóm lại, sự khác biệt về thuế suất thuế TNDN là
động cơ lớn thúc đẩy chuyển giá.
1.2.2.2 Tỷ giá
Với mục tiêu bảo toàn vốn ban đầu theo nguyên tệ, MNC rút vốn đầu tư ở quốc gia
mà họ kỳ vọng vào việc đồng tiền nước đó sẽ yếu đi trong tương lai. Như vậy lúc này
ngoài lợi nhuận thu được, MNC còn thu được một khoản lợi nhuận chênh lệch do sự
biến động có lợi về tỷ giá.
1.2.2.3 Hoạt động liên doanh liên kết
Nhằm tăng cường tỷ lệ vốn góp trong hoạt động liên doanh liên kết, MNC định giá
thật cao các yếu tố đầu vào từ công ty mẹ đẻ nắm quyền quản lý.
1.2.2.4 Lạm phát
MNC sẽ tiến hành chuyển giá ở các nước có tỷ lệ lạm phát cao để bảo toàn số vốn
đầu tư và lợi nhuận trong điều kiện đồng tiền nước đang đầu tư bị mất giá.
1.2.2.5 Tình hình kinh tế - chính trị
MNC sẽ thực hiện chuyển giá để chống lại các tác động bất lợi của các chính sách
kinh tế ở nước đang đầu tư, mặt khác hoạt động chuyển giá làm giảm các khoản lãi dẫn
đến giảm áp lực đòi tăng lương của lực lượng lao động.
3
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng HV: Phạm Thanh Tâm
1.2.2.6 Ưu đãi của các quốc gia
Lợi dụng sự ưu đãi mà các quốc gia đưa ra trong chính sách kêu gọi đầu tư của
nước mình, MNC xem công ty con đặt tại các quốc gia này như một nơi tập trung toàn
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN GIÁ Ở VIỆT NAM
2.1 Tình hình chung về chuyển giá hiện nay ở Việt Nam
Tinh hình chuyển giá đã và đang là một thực trạng đáng báo động ở Việt Nam
hiện nay, trong khi các quốc gia phát triển đã có nhiều kinh nghiệm trong việc chống
chuyển giá ở các công ty đa quốc gia thì Việt Nam vẫn còn thiếu kinh nghiệm trong vấn
đề này.
Theo Tổng cục Thuế, chỉ một năm cơ quan này tích cực hơn trong việc kiểm tra các
doanh nghiệp vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nghi ngờ chuyển giá, họ đã phát
hiện số tiền khai lỗ tăng gấp ba lần rưỡi trong năm 2011 so với năm 2010.
Cụ thể, trong năm 2011, ngành thuế đã tổ chức thanh tra, kiểm tra 921 doanh nghiệp
FDI kê khai lỗ, và có dấu hiệu chuyển giá, cơ quan này đã xử lý giảm lỗ 6.617 tỉ đồng,
tăng 3,5 lần so với năm 2010; tiến hành truy thu và phạt vi phạm hành chính thuế 1.669
tỉ đồng, tăng 4 lần so với năm 2010.
Trong năm 2010, thanh tra ở 575 doanh nghiệp, ngành thuế phát hiện 43 doanh nghiệp
có dấu hiệu chuyển giá và đã xử lý 37 doanh nghiệp, truy thu thuế và phạt 27 tỉ đồng.
Ông Tuấn nói: “Chúng ta mới chỉ thực hiện thanh tra, kiểm tra một số ít doanh nghiệp
FDI mà đã có thể truy thu hàng ngàn tỉ đồng tiền thuế. Nếu chúng ta thực hiện thanh tra,
kiểm tra toàn bộ số doanh nghiệp FDI thì số tiền gian lận thuế bằng biện pháp chuyển
giá sẽ lên đến cả chục ngàn tỉ đồng”.
Theo khảo sát các doanh nghiệp FDI ở TPHCM do Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện
gần đây, thì số doanh nghiệp FDI khai lỗ chiếm trên 70%; một số ít doanh nghiệp FDI
kê khai có lãi nhưng tỷ suất lợi nhuận/doanh thu không đáng kể.
Theo Cục Thuế TPHCM, số lượng doanh nghiệp FDI chỉ chiếm khoảng 3% tổng số
doanh nghiệp trên địa bàn nhưng số tiền mà khối doanh nghiệp này khai báo lỗ chiếm
đến hơn 20% tổng số tiền mà các doanh nghiệp trên địa bàn khai báo lỗ; số doanh
nghiệp FDI khai báo lỗ trên 4 năm chiếm trên 50%.
Bà Lê Thị Thu Hương, Cục phó Cục Thuế TPHCM nói với TBKTSG Online: “Chúng
tôi biết có những doanh nghiệp thành lập được 10 năm, mà năm nào cũng khai báo lỗ”.
Bà Hương cho biết, các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực siêu thị, bán lẻ, nước giải khát
đứng đầu danh sách các doanh nghiệp FDI luôn báo lỗ.
nước ngoài.
2.2.2 Chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ
6
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng HV: Phạm Thanh Tâm
Ngoài việc nâng giá trị tài sản vốn góp khi tiến hành liên doanh thì các MNC còn
thực hiện việc chuyển giá thông qua việc chuyển giao công nghệ và thu phí tiền bản
quyền, đây là một loại chi phí chiếm tỷ trọng lớn do khấu hao giá trị tài sản cố định vô
hình. Một ví dụ điển hình cho việc chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ đó là
tại Công ty Liên doanh Nhà máy Bia Việt Nam. Khi đi vào hoạt động sản xuất kinh
doanh thì tình trạng kinh doanh của công ty bị thua lỗ kéo dài qua các năm, nguyên nhân
chủ yếu là do phải trả cho chi phí bản quyền quá cao và tăng dần qua các năm. Trong
tình hình công ty liên doanh thường xuyên thua lỗ, phía liên doanh Việt Nam chịu ảnh
hưởng nặng nề nhưng ngược lại phía liên doanh nước ngoài vẫn không hề hấn gì vì họ
vẫn nhận đủ tiền bản quyền từ nhãn hiệu và tiền bản quyền lại có xu hướng ngày càng
tăng.
Trong các dự án đầu tư nước ngoài trực tiếp vào Việt Nam, một số công nghệ đã
rất lỗi thời và bán tự động do không thông qua việc đăng ký với Bộ Khoa Học và Môi
Trường vẫn được xem là chuyển giao công nghệ trong các liên doanh. Điều này đã dẫn
đến tình trạng là chúng ta vẫn đang sử dụng công nghệ cũ, lỗi thời trên thế giới. Hậu quả
là một mặt gây ảnh hưởng môi trường, đồng thời chúng ta phải trả phí bản quyền
chuyển giao công nghệ. Một nguyên nhân khác dẫn đến tình trạng này là do chúng ta
không chuẩn bị tốt trong khâu soạn thảo hợp đồng và đàm phán chi phí bản quyền khi
tham gia liên doanh vì vậy mà chi phí cao hơn mức chi phí chuyển giao công nghệ cho
phép.
2.2.3 Chuyển giá thông qua kê cao giá nguyên vật liệu và khai tăng chi phí đầu
vào
Thủ thuật chuyển giá phổ biến của MNC là việc kê giá nguyên liệu đầu vào rất
cao, đồng thời tìm mọi cách khai tăng chi phí quảng cáo, khuyến mãi nhằm triệt tiêu lợi
nhuận. So với các doanh nghiệp trong nước cùng ngành nghề có thể thấy chi phí sản
xuất của các MNC thường cao bất thường.
Nam.
Ngoài ra, do thuế suất thuế thu nhập cá nhân ở Singapore thấp hơn nhiều so với
Việt Nam nên những người lao động nước ngoài muốn đăng ký và nhập lương tại
Singapore hơn. Nếu một người Việt và một người nước ngoài yêu cầu một mức
thu nhập ròng như nhau thì doanh nghiệp sẽ tuyển dụng lao động nước ngoài.
Kết quả, Việt Nam không chỉ mất thuế và việc làm có kỹ năng cao mà tình trạng
nhập siêu còn trầm trọng hơn.
Một số quốc gia có mức thuế suất thuế thu nhập DN thấp
Tên quốc gia Thuế suất thuế TNDN
8
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng HV: Phạm Thanh Tâm
Andorra 0%
British Virgin Islands 0%
United Arab Emirates 0%
Montenegro 9%
Albania, Bosnia and Herzegovina, Bulgaria,
Burkina Faso, Cyprus
10%
2.2.6 Chuyển giá ở doanh nghiệp nội địa
Có không ít tập đoàn kinh tế trong nước đã lợi dụng chính sách ưu đãi thuế, thành
lập một số công ty con hoạt động tại nhiều địa bàn khác nhau để chuyển lợi nhuận trước
thuế từ nơi không được ưu đãi thuế sang nơi được ưu đãi thuế hoặc chuyển lợi nhuận
trước thuế từ DN có lãi sang DN bị lỗ thông qua chuyển giao sản phẩm và cung cấp
dịch vụ giữa các bên không theo giá thị trường để giảm thiểu nghĩa vụ thuế của cả tập
đoàn.
Hiện tại, tình trạng chuyển giá xảy ra khá phổ biến ở lĩnh vực khai thác mỏ. Nhiều
đơn vị khai thác mỏ thành lập 2 công ty độc lập, một công ty chuyên khai thác và một
công ty chuyên lưu thông. Công ty khai thác bán sản phẩm cho công ty lưu thông với
giá chỉ bằng một nửa giá thị trường khiến Nhà nước mất một nửa thuế tài nguyên, thuế
thu nhập doanh nghiệp và nhiều loại thuế, phí khác.
giá.
Các chế tài xử lý đối với các trường hợp gian lận thuế theo đánh giá vẫn còn chưa
đủ mạnh, làm giảm hiệu quả của hoạt động thanh tra, kiểm tra.
Trên thực tế kiểm toán Việt Nam khác với thế giới nên chỉ để tham khảo. Kiểm
toán Việt Nam là độc lập nên họ chỉ chịu trách nhiệm có tính cách nghiệp vụ trên phần
việc họ làm. Bản chất thực số liệu được kiểm toán là thật hay giả thì họ không chịu
trách nhiệm.
2.4 Hậu quả của tình trạng chuyển giá
Ở góc độ vĩ mô, vấn đề “chuyển giá” của các doanh nghiệp FDI gây thất thoát cho
nguồn thu ngân sách quốc gia và ảnh hưởng đến nền sản xuất hàng hóa nội địa.
10
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng HV: Phạm Thanh Tâm
Doanh nghiệp FDI kê khống giá nhập khẩu nguyên liệu, máy móc thiết bị công
nghệ, bí quyết từ công ty mẹ ở nước ngoài đã làm cho mức nhập siêu tăng lên. Do các
doanh nghiệp FDI hoạt động ở Việt Nam chủ yếu trong những ngành thâm dụng nhiều
lao động. Hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam chủ yếu vẫn là
nhập khẩu nguyên vật liệu từ nước ngoài về thực hiện công đoạn gia công. Một số
doanh nghiệp FDI không sử dụng nguồn nguyên liệu và vật tư có sẵn trong nước, họ chủ
yếu tận dụng đất đai và lao động giá rẻ ở Việt Nam trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Còn xét ở cấp độ vi mô, thủ đoạn này tạo ra bất công trong cạnh tranh giữa doanh
nghiệp FDI với doanh nghiệp nội địa. Chẳng hạn, một doanh nghiệp FDI sử dụng công
cụ “chuyển giá” để tối ưu hóa lợi nhuận về công ty mẹ ở nước ngoài trong khi đó báo
cáo thua lỗ tại quốc gia đang kinh doanh để khỏi đóng thuế và nhiều trường hợp được
hoàn thuế, như vậy công ty FDI đó sẽ có nhiều nguồn lực về tài chính hơn để đầu tư vào
các hoạt động tiếp thị, quảng bá. Trong khi đó, doanh nghiệp nội địa phải thực hiện
nghĩa vụ thuế nghiêm túc hơn nên ít nhiều sẽ thua thiệt với các công ty FDI. Hiện tượng
này đang có xu hướng gia tăng đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, thực
phẩm, chẳng hạn như sữa, cà phê
Ngoài ra, với hiện tượng chuyển giá, trong ngắn hạn, người tiêu dùng được hưởng
lợi khi mua hàng giá rẻ vì các doanh nghiệp FDI trong giai đoạn đầu có thể hạ giá để
hưởng hay không. Cơ quan thuế ở Malaysia sẽ dùng các tờ khai này để thanh tra thuế và
thanh tra chuyển giá đối với các công ty.
Ở Thái Lan, cục thuế thường xem xét những công ty được ưu đãi về thuế và so
sánh lợi nhuận của các công ty này với những công ty không được ưu đãi về thuế xem
lợi nhuận của 2 nhóm công ty này có giống nhau hay không và thực hiện bước thanh tra
tiếp theo.
Vì đã thực hiện Luật Chống chuyển giá 10 năm nay nên cơ quan thuế Thái Lan có
cơ sở dữ liệu riêng và từ đó có thể dễ dàng đối chiếu được DN nào giao dịch theo hoặc
12
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng HV: Phạm Thanh Tâm
không theo giá thị trường. Đặc biệt, cơ quan thuế ở Thái Lan thanh tra rất kỹ, kiểm tra
kỹ các chi phí trong nội bộ tập đoàn chẳng hạn như chi phí quản lý, chi phí bản quyền.
Họ không chỉ xem công ty có hợp đồng nghiêm túc hoặc hóa đơn hợp lệ, mà còn
nhìn vào bản chất giao dịch xem có giao dịch đó diễn ra hay không hoặc đối với chi phí
quản lý chung thì đó là chi phí thật sự hay chi phí chia ra cho những người nắm giữ hợp
đồng đó.
3.1.2 Cơ chế APA
Hiện nay, nhiều quốc gia cũng đã thực hiện cơ chế thỏa thuận trước về phương
pháp xác định giá theo nguyên tắc giá thị trường (APA) để chống chuyển giá, một biện
pháp hiệu quả cho quản lý chống chuyển giá bên cạnh việc thanh tra, kiểm tra vì đây là
một cách thỏa thuận giữa cơ quan thuế và người nộp thuế về phương pháp xác định giá
giao dịch, chỉ cần DN giao dịch dưới giá thỏa thuận, cục thuế sẽ phát hiện ngay.
APA thường được xác định trước khi diễn ra giao dịch giữa các bên liên kết và là
một dạng cam kết từ 3 đến 5 năm của nhà đầu tư về giá để làm cơ sở xác định nghĩa vụ
thuế và cơ quan thuế thực hiện vai trò người giám sát quá trình thực hiện cam kết này.
APA có nhiều lợi ích cho DN vì DN sẽ được bảo đảm hơn về phương pháp xác
định giá theo giá thị trường. Hiện có 2 loại APA thường được áp dụng, là APA đơn
phương và APA song phương. APA đơn phương là thỏa thuận giữa cơ quan thuế và
DN, cung cấp sự bảo đảm cơ quan thuế sẽ không thanh tra các giao dịch áp dụng
phương pháp được quy định trong APA.
nếu cả 2 công ty cùng sở hữu quá 20% vốn của 1 công khác thì trở thành 2 bên liên kết;
hoặc nếu các bên giao dịch với nhau và lượng giao dịch chiếm quá 50% tổng số lượng
hàng bán ra của công ty hoặc tổng chi phí mua vào của công ty thì 2 bên có thể bị xem
là bên liên kết mặc dù không có chung về quan hệ sở hữu.
Chống chuyển giá của Việt Nam không chỉ áp dụng với các DN trong nước mà còn
áp dụng với các DN nước ngoài. Ở Anh, Luật Chống chuyển giá chỉ áp dụng với các
giao dịch giữa công ty trong nước và công ty nước ngoài.
Ngành thuế ở Anh không thanh tra các giao dịch giữa các công ty trong nước vì
nếu công ty này tăng chi phí lên để tăng lỗ thì ngược lại công ty kia phải giảm chi phí để
tăng lợi nhuận của mình, chung quy lại, mức thu nhập về thuế và mức ngân sách nhà
nước vẫn không có gì thay đổi.
3.2 Các biện pháp hành chính và biện pháp phạt
Thực hiện cải cách hành chính trong khâu nhận thủ tục và cấp giấy phép đầu tư.
Khi nhận các dự án đầu từ và cấp phép phải xem xét thật kỹ hiệu quả kinh tế mà dự án
đó mang lại trong ngắn hạn và dài hạn. Chúng ta đang rất cần vốn đầu tư nước ngoài để
phát triển kinh tế nhưng cũng phải lựa chọn công nghệ và dự án kèm theo tiêu chí môi
trường và phát triển bền vững. Không nên lựa chọn các dự án tuy có mức đầu tư lớn
14
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng HV: Phạm Thanh Tâm
nhưng lại là công nghệ cũ và tác hại đến môi trường, dự án phải hài hòa với mục tiêu
quy hoạch phát triển của từng vùng và của cả nước.
Thủ tục đăng ký kinh doanh và cấp phép sau khi đã được chấp thuận thì cần phải
rút ngắn thời gian thực hiện để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, tránh trường
hợp chồng chéo thủ tục giữa các bên làm kéo dài thời gian đang ký và gây phiền hà tốn
kém cho các nhà đầu tư.
Hiện nay, Thông tư 66/2010 hướng dẫn việc xác định giá cho các giao dịch đã ra
đời nhưng văn bản hướng dẫn cụ thể các mức phạt hay các hình thức xử phạt cụ thể vẫn
chưa cụ thể rõ ràng. Thiết nghĩ, chính phủ cần ban hành qui chế xử phạt cụ thể cho các
trường hợp phát hiện hành vi chuyển giá, phổ biến rộng rãi cho mọi thành phần kinh tế
và nhà đầu tư đều biết và chấp hành. Việc cụ thể hóa hình thức phạt và mức phạt sẽ tạo
chúng ta nên học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia trên giới thực hiện cơ chế thỏa thuận
trước về phương pháp xác định giá theo nguyên tắc giá thị trường (APA) để chống
chuyển giá. APA có nghĩa là:
- Là thoả thuận giữa cơ quan thuế và người nộp thuế về phương thức xác định giá
chuyển giao và cách áp dụng phương pháp này cho các giao dịch giữa người nộp thuế
và các bên liên kết của mình.
- Xác định trước một tiêu chuẩn thích hợp để xác định giá chuyển giao nội bộ với các
bên liên kết trong một khoảng thời gian xác định
- Là phương pháp hiệu quả trong việc quản lý những rủi ro về chuyển giá
Bên cạnh đó kết hợp với các biện pháp hành chính và biện pháp phạt đề nhằm tạo ra
một môi trường kinh doanh lành mạnh cho nước ta tránh được những vấn đề chuyển giá
đem lại cho đất nước.
Đây là một số điểm chính trong bài làm, vì thời gian nghiên cứu có giới hạn, nên thiếu
phần khảo xác chạy mô hình thực tế trước và sau khi cơ quan thuế ban hành chính sách
nhằm hạn chế sự chuyển giá ở nước ta. Bài làm không tránh khỏi những thiếu sót kính
mong nhận được sự góp ý của thấy.
16
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hùng HV: Phạm Thanh Tâm
TÀI LIỆU THAM
KHẢO
1. PGS. TS. Sử Đình Thành (2010), Tài chính công và Phân tích chính sách
thuế, Trường Đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh
2. http://phapluatvn.vn
3. http://www.saigondautu.com.vn
4. http://www.vcci.com.vn . Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam
17