Nghiên cứu khoa học
Lời mở đầu
Việt Nam đang buớc vào thời kỳ mới- thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất n-
ớc, từng bớc hội nhập kinh tế quốc tế. CNH-HĐH là nhằm phát triển và sử dụng
có hiệu quả các nguồn lực, tạo thêm công ăn việc làm, đẩy nhanh tốc độ tăng tr-
ởng kinh tế trên cơ sở phát triển khoa học công nghệ, bảo đảm an ninh chính trị
lãnh thổ, ổn định và phát triển đất nớc, cải thiện hơn nữa đời sống nhân dân.
Trong đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế đợc coi là một nội dung cơ bản, quan trọng
hàng đầu trong quá trình CNH-HĐH. Để chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành công
cần có sự đóng góp rất lớn của nguồn nhân lực(NNL), đặc biệt là NNL có chất l-
ợng cao.
Nhận thức đợc điều đó, chúng ta phát triển NNL toàn diện cả về thể lực và
trí lực, cả về khả năng lao động, năng lực sáng tạo và tính tích cực chính trị xã
hội, cả về đạo đức, tâm hồn và tình cảm.
Tuy nhiên, hiện trạng NNL Việt Nam hiện nay còn rát nhiều bất cập, cha
thực sự là động lực để phát triển kinh tế. Vì vậy, nghiên cứu về chất lợng NNL
để có giải pháp khắc phục những điểm yếu, phát huy tiềm năng của lao động
Việt Nam để trở thành nội lực thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần
thúc đẩy CNH-HĐH là nhu cầu bức xúc cả về lý luận và thực tiễn.
Lê Thanh Hằng - Ngô Thị Vân Trang - KH42B
1
Nghiên cứu khoa học
Ch ơng I:
Lý luận chung về nguồn nhân lực
1. Khái niệm:
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con ngời nhằm tạo ra của cải vật
chất và các giá trị tinh thần để thoả mãn nhu cầu của bản thân và xã hội, là hoạt
động gắn liền với sự hình thành và phát triển của loài ngời. Lao động có năng
suất, chất lợng, hiệu quả là yếu tố quyết định sự phát triển xã hội. Lao động đợc
coi là hoạt động chủ yếu, là quyền và nghĩa vụ cơ bản của con ngời. Lao động
ngày càng phát triển theo chiều hớng chuyên môn hoá và hiệp tác hoá.
nguồn lực khác dù nhiều đến dâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ phát huy đợc
tác dụng khi kinh tế-xã hội kết hợp đợc với nguồn lực con ngời một cách hiệu
quả. Con ngời với t cách là nguồn lực, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của
quá trình sản xuất, là trung tâm của nội lực, là nguồn lực chính quyết định quá
trình phát triển kinh tế xã hội.
3. Cách đánh giá chất lợng nguồn nhân lực:
Chất lợng nguồn nhân lực thể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân lực
với t cách vừa là khách thể vật chất đặc biệt vừa là chủ thể của mọi hoạt động
kinh tế và các quan hệ xã hội. Chất lợng nguồn nhân lực là tổng thể những nét
đặc trng, phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt động sản
xuất và phát triển con ngời. Do đó chất lợng nguồn nhân lực là khả năng tổng
hợp, bao gồm những nét đặc trng về trạng thái thể lực, trí lực, năng lực, phong
cách đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực, trạng thái sức khoẻ, trình
độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu nghề nghiệp, thành phần xã
hội.
Chất lợng nguồn nhân lực đợc thể hiện theo nhiều tiêu chí:
-Trạng thái thể lực, ý thức hệ, đạo đức và lối sống của nguồn nhân lực.
-Trình độ chuyên môn, kỹ thuật và nghiệp vụ của nguồn nhân lực.
-Trình độ văn hoá của nguồn nhân lực.
3.1 Về trạng thái thể lực:
Lê Thanh Hằng - Ngô Thị Vân Trang - KH42B
3
Nghiên cứu khoa học
Đánh giá về trạng thái thể lực có thể dựa vào chiều cao, cân nặng, loại sức
khoẻ...
3.2 Về trình độ văn hoá:
Trình độ văn hoá đợc đánh giá qua hệ thống chỉ tiêu:
a Tỷ lệ biết chữ của dân số 10 tuổi trở lên:
Tỷ lệ dân số biết chữ là số % những ngời 10 tuổi trở lên có thể đọc viết và
hiểu đợc những câu đơn giản của tiếng Việt, tiếng dân tộc hoặc tiếng nớc ngoài
trong cùng năm
=
x 100
Nghiên cứu khoa học
Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi cấp tiểu học biểu thị số % trẻ em trong độ tuổi cấp
tiểu học (cấp I) tức là những em từ 6-10 tuổi, học cấp tiểu học trong tổng số trẻ
em trong độ tuổi cấp tiểu học của dân số. Tơng tự nh vậy đối với nhóm tuổi
THCS (cấp II) và THPT (cấp III).
Phơng pháp tính:
Các tỷ lệ cấpTHCS và THPT tính tơng tự.
3.3. Về trình độ chuyên môn kỹ thuật:
Trình độ chuyên môn kỹ thuật(CMKT) là kiến thức và kỹ năng cần thiết để
dảm bảo đảm đơng các chức vụ trong quản lý, kinh doanh và các hoạt động nghề
nghiệp.
Lao động CMKT bao gồm những công nhân kỹ thuật (CNKT) từ bậc 3 trở
lên (có hoặc không có bằng) cho tới những ngời có trình độ trên đại học. Họ đợc
đào tạo trong các trờng, lớp dới các hình thức khác nhau và có bằng hoặc không
có bằng ( Đối với CNKT không bằng), song nhờ kinh nghiệm thực tế trong sản
xuất mà có trình độ tơng đơng từ bậc 3 trở lên.
Các chỉ tiêu đánh giá trình độ chuyên môn kỹ thuật:
a. Tỉ lệ lao động đã qua đào tạo so với LLLĐ đang làm việc
Là % số lao động đã qua đào tạo so với tổng số lao động đang làm việc.
T
LV
ĐT
: Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo so với tổng lao động đang làm việc.
L
LV
ĐT
: Số lao động đã qua đào tạo đang làm việc.
LV
ĐT
: Số lao động đã qua đào tạo đang làm việc.
L
LV
ĐT
ij: Số lao động đang làm việc đã đào tạo bậc i ở vùng j.
L
LV
: Số lao động đang làm việc.
i : Chỉ số các cấp đợc đào tạo.
j : Chỉ số vùng.
Ngoài ra còn một số chỉ tiêu khác nữa nh chỉ số phát triển nhân lực HDI...
4. Các yếu tố chính ảnh hởng đến chất lợng NNL:
Chất lợng NNL phụ thuộc vào nhiều yếu tố nh trình độ phát triển kinh tế,
trình độ phát triển khoa học-công nghệ, mức sống, y tế, giáo dục, đào tạo, đạo
đức và truyền thống văn hoá dân tộc.Trong đó, trình độ phát triển kỹ thuật và sự
thay đổi cơ cấu kinh tế là yếu tố quan trọng nhất, quyết định trực tiếp đến chất l-
ợng con ngời cả về sức khoẻ, trí tuệ và tinh thần.
Chất lợng đào tạo không chỉ là nhân tố ảnh hởng trực tiếp, nâng cao chất l-
ợng về mặt trí lực của NNL, mà còn có tác động tích cực đến sức khoẻ, khả năng
tiếp thu công nghệ, thu hút vốn đầu t, tạo việc làm. Nghiên cứu, làm rõ cả về lí
luận và thực tiễn về tác động của giáo dục-đào tạo(GD-ĐT) đối với phát triển
NNL là rất cần thiết để luận cứ cho quan điểm nâng cao chất lợng NNL đáp ứng
nhu cầu CNH, HĐH thông qua đầu t phát triển GD-ĐT.
- Giáo dục góp phần cải thiện sức khoẻ, nâng cao tuổi thọ con ngời
- Trong bối cảnh thay đổi công nghệ nhanh chóng, giáo dục giữ vai trò chủ
yếu trong tiếp thu và phát triển công nghệ.
Lê Thanh Hằng - Ngô Thị Vân Trang - KH42B
6
HĐH đất nớc còn đòi hỏi 1 đội ngũ đông đảo công nhân kỹ thuật đợc đào tạo kỹ
lỡng, có chất lợng tay nghề cao. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, do sự phát
triển của các khu chế xuất, khu công nghệ cao, đòi hỏi đó càng trở nên gay gắt.
Việc đào tạo công nhân kỹ thuật ngày nay không chỉ dừng lại ở đào tạo phục vụ
cho các ngành nghề trớc mắt mà còn phải đào tạo đón dầu nữa.
Đòi hỏi về nâng cao sức khoẻ, ý thức công dân, lòng yêu nớc và tác
phong làm việc công nghiệp của ngời lao động:
Những phẩm chất đó của nguồn nhân lực sẽ giúp con ngời không bị cám dỗ
bởi những mặt trái của nền kinh tế thị trờng, nơi đồng tiền và lợi ích có thể trà
đạp lên lơng tâm, phẩm hạnh của con ngời. Đồng thời CNH-HĐH còn đòi hỏi ý
thức kỷ luật lao động cao, tác phong làm việc khoa học, điều mà lực lợng lao
động nớc ta còn yếu kém.
Ngoài ra, thể lực của nguồn nhân lực nớc ta nhìn chung còn cha phát triển.
Sự đi lên của đất nớc, ngoài những đòi hỏi về trí tuệ, còn có đòi hỏi nguồn nhân
Lê Thanh Hằng - Ngô Thị Vân Trang - KH42B
7
Nghiên cứu khoa học
lực phải ngày càng có sức khoẻ tốt, thể lực tốt, không kém hơn các nớc trong khu
vực và thế giới. Bằng cách đó, năng suất lao động xã hội sẽ đợc nâng cao, góp
phần nâng cao mức sống dân c.
6. Mối quan hệ biện chứng giữa phát triển nguồn nhân lực với quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hớng CNH-HĐH:
Lao động gắn liền với dân số và các quá trình KT-XH. Mỗi ngời lao động
vừa là ngời sản xuất vừa là ngời tiêu dùng.
ở góc độ thứ nhất, lao động của con ngời là yếu tố bản thân của quà trình
sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động mang tính nội sinh tạo ra
GDP và làm nảy sinh những quan hệ cấu trúc nội tại của quá trình sản xuất và
phát triển kinh tế-xã hội.
ở góc độ thứ hai, với t cách là ngời tiêu dùng, sức mua của ngời lao động
cũng nh nhu cầu về nâng cao phúc lợi xã hội và các giá trị vật chất, tinh thần cho
nông thôn đóng vai trò hết sức quan trọng. Bởi vì không có lao động chuyên môn
kỹ thuật, lao dộng đã qua đào tạo công nghệ và kỹ thuật mới không thể thay đổi
đợc tập quán và kỹ thuật sản xuất lạc hậu, không thể nâng cao năng suất lao động
xã hội, do đó không thể giảm một cách đáng kể lực lợng lao động ra khỏi khu
vực nông nghiệp. Mặt khác nếu chất lợng lao động thấp, đặc biệt là lực lợng lao
động trẻ thì mặc dù khu vực nông nghiệp không có khả năng tạo thêm chỗ làm
việc mới để thu hút số lao động trẻ trong khu vực, cũng không dễ dàng gì mà
chuyển đội ngũ này sang làm việc trong các ngành nghề phi nông nghiệp tại địa
phơng cũng nh nơi khác. Tình trạng vừa thừa, vừa thiếu lao động lại tiếp tục diễn
ra và ngày càng gay gắt.Sự mất cân đối giữa cung và cầu về chất lợng lao đọng ở
nông thôn là trở ngại trực tiếp cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu
sản xuất nông nghiệp và cơ cấu lao động trong khu vực.
Tóm lại, dù xem xét ở mặt này hay mặt khác của quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hớng CNH-HĐH thì chất lợng lao động, cơ cấu lao động và khả
năng thu hút lao động luôn là những nhân tố có ảnh hởng trực tiếp đến quy mô
và tốc độ tăng trởng kinh tế, trong đó chất lợng lao động đóng vai trò quyết định.
Xu hớng chung của quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hớng CNH-HĐH
là tăng nhanh cả về số lợng và chất lợng, tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực
công nghiệp và dịch vụ, giảm cả về số lợng và tỷ lệ lao động làm việc trong nông
nghiệp trên cơ sở đảm bảo an ninh luơng thực và ổn định xã hội.
Lê Thanh Hằng - Ngô Thị Vân Trang - KH42B
9
Nghiên cứu khoa học
7. Kinh nghiệm của nớc ngoài trong việc nâng cao chất lợng
nguồn nhân lực:
7.1 Kinh nghiệm của một số nớc ASEAN:
Tốc độ phát triển nhanh và công nghiệp hoá ngày càng mạnh đã làm nảy
sinh một vấn đề phải giải quyết là nhân công phải thích nghi với thị trờng việc
làm. Do đó vấn đề cấp thiết là đào tạo nguồn nhân lực. Trớc nhu cầu nêu trên
ngày càng tăng, mặc dù đã có những cố gắng trong lĩnh vực đào tạo nhng tình
sự hợp tác quốc tế rộng rãi trong khuôn khổ viện trợ đa phơng, song phơng cũng
nh đối với các công ty lớn.
7.2 Kinh nghiệm ở Nhật Bản- nớc có nền công nghiệp tiên tiến:
Duy trì và phát triển nhân lực không đơn giản chỉ là việc rèn luyện sức
khoẻ, cơ bắp mà quan trọng hơn là đào tạo rèn luyện năng lực trí tuệ cho ngời lao
động để tạo ra năng suất lao động ngày một cao. Trí lực con ngời không phải là
cái bẩm sinh, nhất thành bất biến mà phải đợc đào tạo thờng xuyên, liên tục
ngay từ khi còn ở tuổi mẫu giáo. Nhật Bản là nớc đứng đầu thế giới trong lĩnh
vực đào tạo nguồn nhân lực từ xa thông qua quá trình giáo dục từ tiền phổ
thông cho đến khi thạo nghề lảma sản phẩm. ở Nhật Bản, giáo dục tiểu học và
trung học cơ sở tuy đợc miễn phí nhng là bắt buộc, ngay từ khi bớc chân vào tr-
ờng tiểu học, học sinh đã đợc rèn luyện thói quen kinh tế, tinh thần hợp tác trong
sinh hoạt và trong lao động. Năm 1972, Nhật Bản thực hiện chế độ giáo dục bắt
buộc với khẩu hiệu Văn minh và khai hoá; làm giàu và bảo vệ đất nớc; học tập
văn minh và kinh tế Âu-Mỹ; bảo vệ truyền thống văn hoá và đạo đức Nhật Bản.
Sự phát triển vững chắc trong hệ thống giáo dục ở Nhật Bản đã có ảnh hởng quan
trọng tạo dựng một nguồn nhân lực có chất lợng cao. Sự cần cù, lòng kiên nhẫn,
bền bỉ, kỷ luật lao động nghiêm, trung thành, tận tụy với công việc và gắn bó
sống còn với tổ chức mà họ đang làm việc. Kết hợp với trình độ học vấn, trình độ
chuyên môn kỹ thuật ngày càng đợc nâng cao không ngừng là truyền thống quý
báu đối với nhiều thế hệ ngời Nhật Bản. Đặc biệt từ những năm 80 của thế kỷ
XX, Nhật Bản đã bắt đầu triển khai một số chơng trình cơ cấu lại nền kinh tế với
mục tiêu hình thành và phát triển một hệ thống mạng lới các tâm điểm kinh tế
với trọng tâm là các khu công nghiêp phần mền đợc coi nh là một trong những
mũi nhọn trong nền kinh tế công nghiệp phần mền của Nhật Bản hiện nay đứng
Lê Thanh Hằng - Ngô Thị Vân Trang - KH42B
11
Nghiên cứu khoa học
vị trí thứ hai trên thế giới với tổng doanh thu năm 1995( không kể dịch vụ phần
mền) lên đến 35 tỷ USD, chiếm 20% ngành công nghiệp thế giới.
Nghiên cứu khoa học
- Học tập và vận dụng kỹ thuật của các nớc phù hợp với Việt Nam trong
việc đào tạo nghề và đào tạo lại đội ngũ nhân lực có trình độ công nghệ thông tin
nhằm làm biến đổi mọi mặt của đời sống con ngời và phát triển XH nớc ta theo
hớng XHCN dựa trên kinh tế tri thức trong thế kỷ XXI.
CHƯƠNG II:
Lê Thanh Hằng - Ngô Thị Vân Trang - KH42B
13
Nghiên cứu khoa học
Thực trạng chất lợng nguồn nhân lực Việt Nam
Trong những năm gần đây, nhất là từ khi chúng ta tiến hành công cuộc đổi
mới đất nớc, nguồn nhân lực ở nớc ta đã có nhiều biến đổi cả về số lợng, chất l-
ợng.
Về số lợng, có thể nói, nguồn nhân lực ở nớc ta hiện nay đã tăng một cách
đáng kể. Dân số trong độ tuổi lao động tăng từ 33,9 triệu ngời năm 1989 lên gần
44 triệu ngời hay tăng 2,65%/năm, tạo mức cung lớn về lực lợng lao động.
Về chất lợng: chất lợng nguồn nhân lực ở nớc ta đã đợc cải thiện nhng nhìn
chung còn thấp, cha đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và sự khác biệt
giữa các vùng là rất đáng kể. Cụ thể:
I. Chất lợng thuộc về bản thân ngời lao động:
1. Thực trạng sức khoẻ của nguồn nhân lực Việt Nam:
Từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay, tầm vóc và thể lực của ngời
Việt Nam đang đợc cải thiện về chiều cao, cân nặng, tỉ lệ suy dinh dỡng và tuổi
thọ; song vẫn kém hơn nhiều so với một số nớc trong khu vực và so với yêu cầu
về nguồn nhân lực cho giai đoạn đẩy mạnh CNH-HĐH ở nớc ta hiện nay.
Hiện nay nớc ta nằm trong số các nớc có mức sống thấp trên thế giới (GDP
tính theo đầu ngời khoảng470USD/ngời). Những công trình nghiên cứu gần đây
cho thấy: hiện tại 40% trẻ em dới 5 tuổi nớ ta bị suy dinh dỡng, 28% ngời lớn
suy dinh dỡng. Theo chỉ số cơ thể (BMI), tỷ lệ ngời lớn gầy ở nớc ta chiếm tới
45,27%. Tỷ lệ thiếu máu của phụ nữ không mang thai lên đến 42%, của phụ nữ