MỞ ĐẦU
1.Lý do thực hiện đề tài
Từ cuối năm 2010 đặc biệt là quý 1 năm 2011, lạm phát cao trở thành vấn đề
đáng lo ngại của nền kinh tế, ngày 24/02/2011 Thủ Tướng Chính Phủ đã kí nghị
quyết về những giải pháp chủ yếu kềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo
an sinh xã hội, trong đó nêu rõ phải tập trung thúc đẩy sản xuất.
Theo đó Ngân hàng nhà nước cũng đã có chỉ thị 01/CT – NHNN yêu cầu các
tổ chức tín dụng phải xây dựng và thực hiện kế hoạch kinh doanh năm 2011 phù hợp
với mục tiêu tốc độ tăng tín dụng dưới 20%, đồng thời thực hiện giảm tốc độ và tỷ
trọng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất so với năm 2010, nhất là lĩnh vực bất động
sản, chứng khoán; đến 30 tháng 6 năm 2011, tỷ trọng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản
xuất so với tổng dư nợ tối đa là 22% và đến 31 tháng 12 năm 2011, tỷ trọng này tối
đa là 16%. Ngân hàng bán lẻ là loại hình ngân hàng chuyên phục vụ cho đối tượng
khách hàng là cá nhân. Các sản phẩm dịch vụ được cung cấp phổ biến bao gồm tiết
kiệm, kiểm tra tài khoản, cho vay cá nhân, thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng… và rất nhiều
dịch vụ khác. Một trong những sản phẩm chiếm tỉ trọng cao trong hoạt động của
ngân hàng bán lẻ, đó là cho vay sản xuất kinh doanh.
Nhận thấy tầm quan trọng của lĩnh vực cho vay sản xuất kinh doanh trong
hoạt động ngân hàng hiện nay, đồng thời được thực tập tại bộ phận tín dụng ở phòng
giao dịch Cộng Hoà của Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Việt Á người viết đã chọn
đề tài “Thực trạng hoạt động cho vay sản xuất kinh doanh của Ngân Hàng
Thương Mại Cổ Phần Việt Á tại Phòng Giao Dịch Cộng Hòa” là đề tài báo cáo
thực tập của mình. Do thời gian và số liệu hạn chế nên đề tài chỉ tập trung phân tích
hoạt động cho vay sản xuất kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Á -
Phòng Giao Dịch Cộng Hòa trong các năm 2009 và 2010 và 2011. Đề tài “Thực
trạng hoạt động cho vay sản xuất kinh doanh của Ngân Hàng Thương Mại Cổ
Phần Việt Á tại Phòng Giao Dịch Cộng Hòa ” được tôi lựa chọn nhằm mục tiêu
nghiên cứu, tìm hiểu hoạt động cho vay sản xuất kinh doanh của Ngân Hàng TMCP
Việt Á tại PGD Cộng Hòa, từ đó đưa ra các kiến nghị và đề xuất để phát triển hoạt
động này.
2.Mục tiêu thực hiện đề tài
Chương 2: Thực trạng về hoạt động cho vay sản xuất kinh doanh tại Ngân
hàng TMCP Việt Á- PGD Cộng Hòa và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt
động.
CHƯƠNG 1: TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ NHỮNG QUI ĐỊNH
VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY SẢN XUẤT KINH DOANH
1.1 Khái niệm và hoạt động cho vay của NHTM
1.1.1.Khái niệm
“Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho
khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa
thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi”.
1
Khi tìm hiểu bảng tổng kết tài sản của
các NHTM, chúng ta thấy rằng cho vay luôn là khoản mục chiếm tỷ lệ lớn nhất trong
tổng tài sản của ngân hàng và là khoản mục đem lại thu nhập cao nhất cho ngân hàng.
Tuy nhiên rủi ro trong hoạt động ngân hàng có xu hướng tập trung vào danh mục các
khoản cho vay.
Tiền cho vay là một món nợ đối với cá nhân hay doanh nghiệp đi vay nhưng lại
là một tài sản đối với ngân hàng. So sánh với các tài sản khác khoản mục cho vay có
tính lỏng kém
2
hơn vì thông thường chúng không thể chuyển thành tiền mặt trước khi
các khoản cho vay đó đến hạn thanh toán. Khi một khoản vay được NHTM cấp cho
người vay thì người vay mới là bên chủ động: có thể trả ngân hàng tiền vay trước
hạn, đúng hạn thậm chí có thể xin gia hạn thêm thời gian trả nợ. Còn các NHTM chỉ
được phép quản lý các khoản vay đó tuân theo hợp đồng đã ký, ngân hàng phải thực
hiện theo đúng hợp đồng đã ký trừ khi có những sai phạm của khách hàng khi thực
hiện hợp đồng.
Theo mục 2- Điều 3- Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN về qui chế cho vay của
Tổ chức tín dụng với khách hàng, ta có định nghĩa: “Cho vay là một hình thức cấp tín
dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào
1.1.2.Phân loại các khoản cho vay
1.1.2.1.Dựa vào mục đích
– Cho vay bất động sản: là cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất
động sản nhà ở, đất đai; bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch
vụ.
– Cho vay công nghiệp và thương mại: là cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu
động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ.
– Cho vay nông nghiệp: là cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như phân
bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động,
– Cho vay các định chế tài chính: gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng, công ty
tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các định chế
tài chính khác.
– Cho vay cá nhân: là cho vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm vật
dụng cùng với các khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thường của đời sống
thông qua phát hành thẻ tín dụng.
– Cho thuê: cho thuê của các định chế tài chính bao gồm hai loại là cho thuê vận
hành và cho thuê tài chính. Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và động sản, trong
đó chủ yếu là máy móc, thiết bị.
1.1.2.2. Dựa vào thời hạn cho vay
– Cho vay ngắn hạn: thời hạn đến 12 tháng, được sử dụng để bù đắp sự thiếu
hụt vốn lưu động của doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
– Cho vay trung hạn: thời hạn từ 12 tháng đến 5 năm, chủ yếu được sử dụng để
đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất
kinh doanh (SXKD), xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thu hồi vốn nhanh.
Ngoài ra, nó còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh
nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp mới thành lập.
– Cho vay dài hạn: có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa có thể lên đến 20 –
30 năm, có khi đến 40 năm. Tín dụng dài hạn được cung cấp để đáp ứng nhu cầu dài
hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng
các xí nghiệp mới.
trường, về tiến bộ khoa học công nghệ cho khách hàng.
Thứ hai là sự nỗ lực của khách hàng vay vốn:
– Bảo đảm sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, tức là hoạt động tín dụng
phải mang lại cho ngân hàng thu nhập đủ để trang trải các chi phí liên quan và có lãi,
hạn chế thấp nhất nguy cơ rủi ro.
– Khách hàng phải tuân thủ đúng các nguyên tắc vay vốn. Mục đích sử dụng
vốn vay đã kí kết trong hợp đồng tín dụng (HĐTD) đã được cả hai bên phân tích và
đánh giá kĩ lưỡng cả về hiệu quả, tính khả thi cũng như mức độ phù hợp với chính
sách phát triển kinh tế - xã hội chung của ngành, địa phương và của cả nước. Ngoài
ra, sự năng động, nhạy bén trong kinh doanh của khách hàng và sự giúp đỡ hiệu quả
của ngân hàng sẽ tạo điều kiện để khách hàng đạt lợi nhuận cao nhất và đó chính là
điều kiện để khách hàng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, bảo đảm sự tồn tại và phát
triển của ngân hàng.
Và tiêu chí cuối cùng là sự ổn định của nền tài chính quốc gia. Sự ổn định
của nền tài chính – tiền tệ quốc gia giúp nâng cao năng lực sản xuất, năng lực công
nghệ cho doanh nghiệp, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao mức
sống dân cư.
Tóm lại: Có thể nói hiệu quả Tín dụng ngân hàng là một chỉ tiêu rất tổng hợp
được nhìn nhận từ ba góc độ: ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế. Các chỉ tiêu trên
chỉ là những căn cứ để đánh giá hiệu quả Tín dụng ngân hàng một các khái quát. Để
có thể kết luận chính xác hơn cần phải dựa vào một hệ thống các chỉ tiêu định lượng
cụ thể.
1.2.2.Chỉ tiêu định lượng.
• Chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận:
– Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng/Tổng dư nợ tín dụng: phản ánh khả năng sinh
lời của các khoản tín dụng, cho biết một đồng dư nợ cho vay mang lại bao nhiêu
đồng lợi nhuận. Tỉ lệ này càng cao chứng tỏ lợi nhuận do hoạt động tín dụng mang
lại càng lớn.
– Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng/Tổng dư nợ ngân hàng: đánh giá tầm quan
trọng của hoạt động Tín dụng ngân hàng trong mối quan hệ với toàn bộ hoạt động
1.3.1.Những nguyên tắc cơ bản
3
http://www.scribd.com/doc/67016271/44/Phan-tich-mot-so-chi-tieu-phan-anh-hieu-qua-hoa-
dong-tin-dung
• Nguyên tắc cho vay: Khách hàng vay vốn của ngân hàng phải đảm bảo sử
dụng vốn vay đúng mục đích, hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng thời hạn đã thỏa thuận
trong HĐTD.
• Đối tượng cho vay:
– Các pháp nhân: Doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu
hạn, công ty cổ phần, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức khác có
đủ các điều kiện quy định tại Điều 94 Bộ Luật dân sự phải có năng lực pháp luật dân
sự,
– Cá nhân là người Việt Nam: hộ kinh doanh cá thể, hộ gia đình, tổ hợp tác,
– Doanh nghiệp tư nhân,
– Công ty hợp danh,
– Pháp nhân là người nước ngoài: KH vay vốn phải có địa chỉ trụ sở chính và
cá nhân phải có địa chỉ cư trú rõ ràng.
• Điều kiện cho vay:
– Khách hàng là tổ chức phải có năng lực pháp luật dân sự. Tổ chức nước ngoài
thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự được xác
định theo pháp luật Việt Nam,
– Khách hàng là cá nhân phải có năng lực pháp luật dân sự và có đầy đủ năng
lực hành vi dân sự. Cá nhân nước ngoài khi thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt
Nam thì năng lực hành vi dân sự được xác định theo pháp luật Việt Nam,
– Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp,
– Có khả năng tài chính bảo đảm hoàn trả nợ vay trong thời hạn cam kết; có dự
án đầu tư, phương án SXKD, dịch vụ khả thi và có hiệu quả, phù hợp với quy định
của pháp luật,
– Có trụ sở (đối với tổ chức) hoặc có hộ khẩu thường trú, tạm trú có thời hạn
KT3 (đối với cá nhân) tại địa bàn cho vay được phân công của Hội sở hay các đơn vị
– Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, bảng thuyết minh báo cáo
tài chính (BCTC), tài liệu dẫn chứng mục đích sử dụng vốn,
– Các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố,
– Các tài liệu khác theo yêu cầu của ngân hàng.
• Các phương thức cho vay
– Cho vay theo món: Khách hàng có nhu cầu vay vốn tiến hành các thủ tục vay
vốn theo quy định tại ngân hàng. Cứ mỗi lần vay, cán bộ tín dụng (CBTD) sẽ tiến
hành đi thẩm định khách hàng và lập tờ trình gửi lên Trưởng phòng tín dụng xét
duyệt cho vay; thời hạn cho vay không quá 12 tháng, mức trả nợ và kì hạn trả nợ đối
với hình thức cho vay này có thể được xác định dựa trên cơ sở chu kì SXKD hoặc
khả năng thu tiền từ phương án vay.
– Cho vay theo hạn mức tín dụng (HMTD): Ngân hàng và khách hàng thỏa
thuận xác định một HMTD duy trì trong một thời kì nhất định được ghi trong HĐTD.
Mỗi lần nhận tiền vay, khách hàng phải chứng minh mục đích sử dụng vốn và lập
giấy nhận nợ ( không cần phải thẩm định và lập tờ trình). Phương thức này chỉ áp
dụng đối với những khách hàng có uy tín với ngân hàng, SXKD ổ định, hiệu quả và
có nhu cầu tín dụng thường xuyên. Khi áp dụng phương thức này, khách hàng phải
chịu thêm một khoản phí trên HĐTD đã thỏa thuận do Tổng giám đốc ngân hàng
quyết định.
– Cho vay tín chấp: Đây là hình thức áp dụng phổ biến ở các ngân hàng của các
nước phát triển, tuy nhiên còn khá hạn chế ở nước ta do tính trung thực của BCTC
của doanh nghiệp còn thấp và công tác kiểm toán yếu kém.
– Cho vay trả góp: phương thức này áp dụng đối với khách hàng là cá nhân có
thu nhập ổn định để trả nợ, có giấy phép kinh doanh cụ thể, tiền lãi chia đều cho các
tháng.
– Cho vay hỗ trợ lãi suất: tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng được hỗ trợ lãi
suất là khách hàng vay để thực hiện các phương án SXKD trừ 13 ngành, lĩnh vực
không thuộc diện hỗ trợ lãi suất.
1.3.2. Các qui định khác
– Thời hạn cho vay: ngân hàng và khách hàng căn cứ vào chu kì SXKD, thời
SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN VIỆT Á – PHÒNG GIAO DỊCH CỘNG HÒA
Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Việt Á được thành lập ngày 09/05/2003 theo
Quyết định số 440/2003/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN VIệt Nam trên cơ sở hợp
nhất hai Tổ chức tín dụng đã có nhiều năm hoạt động hiệu quả là Công ty tài chính cổ
phần Sài Gòn và Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Nông thôn Đà Nẵng.
VAB là Ngân hàng TMCP đại chúng, hướng đến giá trị lợi nhuận của cổ
đông, giá trị cổ phần cao, hoạt động minh bạch, phát triển bền vững, an toàn và cùng
chia sẻ lợi ích với nhân viên và trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng.
VAB – PGD Cộng Hòa được thành lập theo văn bản số 1219/NHNN-HCM.02
ngày 08/06/2005 của Giám đốc NHNN Việt Nam chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh
và quyết định số 1078/2005/QĐ-HĐQT của Hội đồng quản trị Ngân Hàng TMCP
Việt Á ngày 10/06/2005. Như vậy, VAB – PGD Cộng Hòa ra đời chưa lâu và hoạt
động của VAB – PGD Cộng Hòa còn mới mẻ đối với khách hàng(KH). Tuy nhiên,
Ngân hàng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. VAB – PGD Cộng Hòa thực
hiện các chức năng hoạt động kinh doanh như: nhận tiền gửi của KH như: tiền gửi
tiết kiệm không kì hạn, tiền gửi tiết kiệm có kì hạn, tiền gửi thanh toán và các hình
thức khách hàng vay bằng VND, ngoại tệ và vàng để sản xuất kinh doanh, mua nhà,
mua xe…
Năm 2012, cùng phát triển theo định hướng chung của VAB, PGD Cộng Hòa
tập trung thực hiện theo định hướng là NH bán lẻ, chú trọng hoạt động vào lĩnh vực
tín dụng, dịch vụ ngân hàng ; ngân hàng tập trung thực hiện đổi mới các hoạt động,
khắc phục một cách có hiệu quả các tồn tại của các năm trước.
2.1.Qui trình cấp tín dụng kinh doanh tại VAB
Quy trình cấp tín dụng SXKD tại VAB
4
được thực hiện lần lượt qua các bước
sau:
Bước thứ nhất :Tiếp nhận và hướng dẫn khách hàng về hồ sơ vay vốn:
4
– Phương án SXKD, khả năng vay trả, nguồn trả (đối với khoản vốn vay),
– Hồ sơ khác liên quan đến khoản vay (hợp đồng bảo hiểm hàng hóa, dự toán chi
phí hoạt động được duyệt ).
•
Hồ sơ bảo đảm tiền vay:
– Giấy tờ có giá (trái phiếu, tín phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu, sổ tiết kiệm, ),
– Giấy tờ về xuất xứ, kiểm định giá trị, tỉ trọng, đối với kim khí quý, đá quý
– Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, sử dụng, quản lí đối với bất động sản (nhà
cửa, vật kiến trúc gắn liền với đất) và động sản (hàng hóa, phương tiện vận tải ),
– Các quyền (quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi nợ, quyền
được nhận bản hiểm, quyền khai thác tài nguyên, lợi tức, quyền phát sinh tài sản cầm
cố, thế chấp ),
– Hợp đồng, văn bản bảo lãnh của bên thứ ba.
Bước thứ hai: Thẩm định các điều kiện tín dụng tức là chấm điểm KH theo hệ
thống chấm điểm TD nội bộ của VAB. CBTD nghiên cứu, thẩm định hồ sơ vay vốn
theo những nội dung chủ yếu:
•
Đánh giá chung về KH:
– Năng lực pháp lí: KH vay vốn phải có đủ điều kiện vay vốn theo quy định của
pháp luật, giấy chứng nhận kinh doanh phải còn hiệu lực trong thời hạn vay,
– Mô hình tổ chức, bố trí lao động phải phù hợp,
– Uy tín của lãnh đạo trong và ngoài doanh nghiệp, trình độ chuyên môn đạo đức,
phẩm chất của người lãnh đạo cao nhất,
– Ngành nghề kinh doanh phải được phép hoạt động, đánh giá về các sản phẩm
chủ yếu của doanh nghiệp,
– Kiểm tra tình hình vay vốn của KH thông qua trung tâm thông tin TD (CIC).
•
Tình hình tài chính của KH:
– Đánh giá về sự chính xác, trung thực của báo cáo tài chính. Kiểm tra tính khớp
đúng về số liệu, tính thống nhất và phương pháp hạch toán của BCTC,
√ Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
Hệ số này đánh giá khả năng thanh toán ngắn hạn, đánh giá khả năng hoán đổi
thành tiền để đảm bảo khả năng thanh toán. Tỉ lệ này lớn hơn 0,5 là tốt.
Doanh thu thuần
√ Vòng quay của vốn lưu động =
Tài sản lưu động bình quân
Chỉ số này cho biết số lần tất cả vốn đầu tư được chuyển thành thanh toán
thương mại. Chỉ số này thấp thì vốn đầu tư không được sử dụng một cách hiệu quả,
và khả năng KH dự trữ hàng hóa quá nhiều hay tài sản không được sử dụng hoặc
đang vay mượn quá mức Doanh thu thuần
√ Hệ số vòng quay khoản phải thu =
Các khoản phải thu bình quân
Chỉ số này được tính để biết được tốc độ thu hồi các khoản nợ. Hệ số vòng quay
càng nhanh càng tốt. Giá vốn hàng bán
√ Hệ số vòng quay tồn kho =
Hàng tồn kho bình quân
Chỉ số này thể hiện chu kì luân chuyển vật tư hàng hóa bình quân. Tỉ lệ này
càng nhanh càng tốt.
+ Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời:
Lợi nhuận trước thuế
√ Khả năng sinh lời tổng tài sản =
Tổng tài sản
Chỉ số này cho biết khả năng sinh lời của tổng tài sản. Tỉ lệ này càng cao thì
càng tốt.
Lợi nhuận sau thuế
√ Khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu
Chỉ số này dùng để tính lợi nhuận thực tế đạt được trên vốn chủ sở hữu của KH,
đánh giá khả năng kinh doanh thực sự của DN. Chỉ số này càng cao càng tốt, ít nhất
tế của phương án vay vốn, xác định các nguồn thu từ phương án kinh doanh, từ DN
để hoàn trả nợ vay cho NH.
•
Bảo đảm tiền vay: Thực hiện theo quy định về đảm bảo tiền vay của VAB.
•
Xác định phương thức cho vay: CBTD xác định phương thức phù hợp với
tính chất cấp TD theo các phương thức sau: cho vay từng lần, cho vay hạn mức tín
dụng, cho vay trả góp.
•
Xem xét khả năng nguồn vốn để cho vay:
– Xem xét, cân đối khả năng nguồn vốn đối với những khoản vay lớn ,
– Mua bán, chuyển đổi ngoai tệ đối với những khoản vay cần chuyển đổi đối
với thị trường nước ngoài,
– Lãi suất áp dụng cho khoản vay.
•
Xem xét điều kiện thanh toán: CBTD cùng trưởng phòng phối hợp với
phòng/bộ phận thanh toán quốc tế về các nội dung, điều kiện thanh toán, hình thức
thanh toán đối với những khoản vay thanh toán với nước ngoài.
Bước thứ ba: Xét duyệt cho vay, kí hợp đồng tín dụng:
Sau khi nghiên cứu, thẩm định các điều kiện vay vốn, CBTD lập tờ trình cho
vay kèm hồ sơ vay vốn trình trưởng phòng. Trên cơ sở tờ trình của CBTD kèm hồ sơ
vay vốn, trưởng phòng xem xét kiểm tra, thẩm định lại và ghi ý kiến vào tờ trình,
trình lãnh đạo xem xét.
Lãnh đạo sẽ xem xét hồ sơ do trưởng phòng trình để quyết định: duyệt đồng ý
cho vay, duyệt cho vay có điều kiện, không đồng ý hoặc đưa ra Hội đồng TD trước
khi quyết định đối với các khoản vay lớn hoặc phức tạp theo quy định của VAB. Nội
dung duyệt cho vay của lãnh đạo phải xác định rõ: số tiền cho vay, LS cho vay, thời
hạn cho vay, các điều kiện khác (nếu có). Sau khi hoàn chỉnh các thủ tục theo quy
định, hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay sẽ được kí kết.
Trước khi thực hiện giải ngân, NH và KH sẽ làm thủ tục giao nhận giấy tờ và
gốc. Lãi, phí (nếu có) cho KH; xử lí các phát sinh trong quá trình cho vay như: trả nợ
trước hạn, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, chuyển nợ quá hạn, xủ lí thu hồi nợ quá hạn;
ngoài ra còn có xử lí tranh chấp HĐTD theo hướng dẫn về xử lí tranh chấp của phòng
Pháp chế hội sở.
Bước thứ sáu: Thanh lý hợp đồng tín dụng:
Khi KH trả hết nợ, CBTD tiến hành phối hợp với bộ phận kế toán tổng hợp
đối chiếu, kiểm tra về số tiền trả nợ gốc, lãi, phí để tất toán khoản vay. Để giải tỏa
các hợp đồng bảo đảm tài sản, CBTD làm thủ tục xuất kho giấy tờ, tài sản thế chấp,
cầm cố Các thủ tục này thực hiện theo quy định của VAB. Thanh lý hợp đồng dựa
vào thời hạn hiệu lực của HĐTD theo thỏa thuận trong HĐTD đã kí kết: khi bên vay
trả xong nợ gốc và lãi thì HĐTD hết hiệu lực và các bên không cần lập biên bản
thanh lí hợp đồng. Trường hợp bên vay yêu cầu, CBTD soạn thảo văn bản thanh lý
hợp động trình trưởng phòng kiểm soát và trưởng phòng trình lãnh đạo kí biên bản
thanh lý.
2.2. Phân tích kết quả hoạt động cho vay sản xuất kinh doanh
* Bảng 2.1: Số liệu cơ cấu cho vay
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm 2009 2010 2011
Số tiền % Số tiền % Số tiền %
Cho vay SXKD 380.822 57,49 595.266 78,65 631.338 68,10
Cho vay đời sống 281.584 42,51 161.589 21,35 295.855 31,90
Tổng dư nợ cho vay 662.406 100 756.855 100 927.193 100
(Nguồn: Báo cáo định kì của VAB- PGD Cộng Hòa)
Hình 2.1: Biểu đồ thể hiện tình hình cho vay
Năm 2010, tổng dư nợ cho vay tăng thêm 94.449 triệu đồng (tăng 114,26%)
so với năm 2009 và năm 2011, con số này tiếp tục tăng 170.338 triệu đồng tương ứng
với tỉ lệ tăng 22,5%. Như vậy, tổng dư nợ cho vay tại chi nhánh đang trên đà tăng
trưởng. Năm 2010, sau khi bước qua khoảng thời gian khó khăn do nền kinh tế bất ổn
cũng như chính sách thắt chặt tiền tệ của NHNN, dư nợ TD của NH tăng, nhưng
không nhiều. Năm 2010, mặc dù lãi suất tăng cao nhưng hoạt động cấp TD của NH
So sánh
2011/2010
+/- % +/- %
Doanh
nghiệp
239.012 435.378 449.851 196.366 82,16 14.473 3,32
Cá nhân 149.810 159.887 181.487 10.077 6.72 31.600 19.76
Tổng dư nợ
cho vay
380.822 595.266 631.338 214.444 56,31 36.072 6,06