Lý thuyết tài chính công Nhóm 7
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của một quốc gia là một trong những vấn đề hàng đầu
mà nhà đầu tư quan tâm khi quyết định thực hiện đầu tư.
Trong những năm qua, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt Nam đã có những bước
phát triển, đáp ứng phần nào yêu cầu phát triển kinh tế xã hội nói chung và khẳng
định được vai trò của lĩnh vực này đối với quá trình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài nói riêng.
Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển đó, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của chúng ta đã và
đang bộc lộ hạn chế về nhiều mặt, chẳng hạn sự xuống cấp của hệ thống giao thông
đường bộ, đường sắt, phí bưu điện khá cao Dẫn đến vai trò của lĩnh vực cơ sở hạ
tầng kỹ thuật bị suy giảm, xuất hiện nguy cơ về sự giảm sút của vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài.
Xuất phát từ thực tiễn trên, với sự tìm hiểu và nghiên cứu của mình, em đã
nhận thức được rõ vai trò và tầm quan trọng của lĩnh vực cơ sở hạ tầng kỹ thuật với
quá trình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài . Đây là lý do em chọn đề tài:
Trang 1
Lý thuyết tài chính công Nhóm 7
"Thực trạng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật xã hội( đường xá, cầu cống, trường
học…) tại Việt Nam "
Nhưng vì cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một khái niệm riêng bao gồm một hệ thống
các công trình như cấp điện, cấp nước, giao thông, nhà ở, thông tin liên lạc mà thời
gian nghiên cứu hạn chế, nên chúng em chỉ giới hạn ở việc tìm hiểu một số bộ phận
như cấp điện, giao thông, thông tin liên lạc.
Kết cấu bài viết ngoài phần mở đầu và phần kết luận còn bao gồm:
Phần I: Khái quát chung.
Phần II: Thực trạng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật xã hội tại Việt Nam.
Phần III: Giải pháp về vấn đề hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam.
Do trình độ lý luận và thực tiễn còn hạn chế, bài viết này của em không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Bởi vậy, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của cô
- Cơ sở hạ tầng môi trờng
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là các công trình phục vụ cho sản xuất và đời sống bao
gồm: các công trình thiết bị chuyển tải và cung cấp năng lượng, mạng lưới giao thông,
cấp thoát nước, thông tin liên lạc.
Cơ sở hạ tầng xã hội bao gồm các công trình phục vụ cho các địa điểm dân cư
như nhà văn hoá, bệnh viện, trường học, nhà ở và các hoạt động dịch vụ công cộng
khác. Các công trình này thường gắn với các địa điểm dân cư làm cơ sở góp phần ổn
định, nâng cao đời sống dân cư trên vùng lãnh thổ.
Cơ sở hạ tầng môi trờng là toàn bộ hệ thống vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc
bảo vệ, giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước và môi trường sống của
con người.
Hệ thống này bao gồm các công trình phòng chống thiên tai, các công trình bảo
vệ đất đai, vùng biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
1.2.Đặc điểm:
Hệ thống cơ sở hạ tầng có nhiều đặc điểm riêng biệt khác với hệ thống kinh tế
xã hội khác. Đứng dưới góc độ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cần xem xét các đặc
điểm sau:
Bản thân hệ thống cơ sở hạ tầng là một tập hợp các công trình xây dựng có vốn
đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài thường là thông qua các hoạt động kinh tế khác
để thu hồi vốn.
Trong cơ chế thị trường hiện nay, đồng vốn luôn vận động một cách năng động
và chịu sự chi phối của lợi nhuận, nơi nào có lợi nhuận cao, thời gian thu hồi vốn
nhanh thì sẽ được đầu tư nhiều và ngược lại. Vì thế, lĩnh vực kinh doanh cơ sở hạ tầng
Trang 4
Lý thuyết tài chính công Nhóm 7
kỹ thuật thường được các nhà đầu tư ít quan tâm hơn là dịch vụ kinh doanh buôn bán
khác.
Các công trình cơ sở hạ tầng mang tính xã hội hoá cao, có nhiều đặc tính của
hàng hoá công cộng. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng thì không chỉ có sự tham gia của chính
phủ mà còn có sự đóng góp của khu vực tư nhân, còn hàng hoá công cộng về cơ bản
Mạng lưới đường bộ Việt Nam dài khoảng 210 000 km trong đó quốc lộ và tỉnh
lộ là 56 000 km, mật độ đường bộ trên 100 km2 là 16,16km. Tỷ số này không phải là
thấp so với các nước trong khu vực.
Về hệ thống : có 3 trục Bắc–Nam trong quốc lộ 1 từ Lạng Sơn đến Cà Mau dài
2300km. Bên cạnh đó chúng ta đã xây dựng được một số công trình giao thông quan
trọng, công trình có kỹ thuật cao như: cầu Thăng Long, cầu Chương Dương, tuyến
đường Thăng Long-Nội Bài, đường 5 … củng cố nâng cấp một số tuyến giao thông
nội thị ở các thành phần phố lớn.
Đang khởi công xây dựng công trình trọng điểm, cải thiện các đầu mối và các
trục chính ở các vùng kinh tế trọng điểm: Bắc Bộ, Nam Bộ và Miền Trung. Tuy
nhiên, đường bộ của ta còn hẹp mặt đường xấu và mới có 60% quốc lộ và tính lộ
được nhựa hoá. Theo kết quả điều tra cho đến năm 95 trên địa bàn cả nước.
Trang 6
Lý thuyết tài chính công Nhóm 7
- Đường rải nhựa chiếm 22%
- Đường nhựa bán thành nhập 38%
- Đường đá 15%
- Đường đất 25%
2.1.2. Đường sắt:
Mật độ đường sắt nước ta là 0,8 km/100km2 trong đó đường sắt Bắc Nam dài
1726 km, tuyến Hà Nội - Lào Cai 230 km, tuyến Hà Nội-Hải Phòng 100km. Hai
tuyến trên vận tải quốc tế Hà Nội - Trung Quốc là Hà Nội-Đồng Đăng -Bắc Kinh và
Hà Nội-Lào Cai-Côn Minh. Đường sắt Bắc Nam đang được củng cố, nâng cấp nhưng
hệ thống này đang ở vào thế độc tuyến. Chỉ cần một ách tắc nhỏ tại một địa điểm sẽ
làm cho cả hệ thống phải tạm dừng hoạt động.
2.1.3. Đường biển:
Hệ thống cảng phân bố đều ở cả ba miền với bờ biển dài 3.200 km, quy mô và
tổng công suất trên chục triệu tấn. Mặc dù đã có những hải cảng quốc tế như Sài Gòn,
Đà Nẵng, Hải Phòng đón nhận tàu các nước ra vào. Song đó chỉ là số ít, phần lớn các
cảng biển nước ta không đảm nhận được những tàu trọng tải lớn vì vậy chi phí cho
định của hệ thống. Tổn thất điện năng còn lớn, hiệu suất của các nhà máy nhiệt điện
còn rất thấp, tiêu hao nhiên liệu cao, máy móc thiết bị cũ kỹ lạc hậu.
Trang 8
Lý thuyết tài chính công Nhóm 7
2.4. Hệ thống cấp nước.
Hệ thống cấp nước đô thị cũng trì trệ không kém. Trong tổng số 689 đô thị trên
toàn quốc hiện vẫn còn gần 400 đô thị nhỏ chưa có hệ thống cấp nước tập trung. Tổng
công suất thiết kế của các nhà máy nước sinh hoạt đạt 3.2 đến 3.6 triệu m3/ngày đêm,
công suất khai thác chỉ đạt 2.2 m3/ngày đêm. Rõ ràng, hệ thống cấp nước đô thị mới
chỉ đáp ứng yêu cầu của 60% dân số đô thị với mức tiêu thụ bình quân 80
lít/người/ngày đêm. Trong khi đó tỷ lệ thất thoát, thất thu vẫn cao trên 30%, có nơi tỷ
lệ này lên tới 45%. Đặc biệt tại các khu đô thị cũ mạng lưới đường ống cũ và đường
kính nhỏ, khó đảm bảo cấp nước liên tục đặc biệt trong mùa khô hạn. Trong khi đó,
hệ thống còn lạc hậu và thiếu sự đồng bộ cần thiết. Có thể khẳng định, tại các đô thị
của Việt Nam hệ thống thoát nước chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế, xã
hội. Phần lớn hệ thống là chung cho thoát nước mưa và cả nước thải, được xây dựng
trên địa hình tự nhiên, nước tự chảy và độ dốc thủy lực thấp. Cho đến nay, chưa đô thị
nào có được trạm xử lý nước thải sinh hoạt. Cũng như hệ thống cấp nước, hệ thống
thoát nước của các thành phố lớn chỉ mới đáp ứng 60% nhu cầu trong khi các đô thị
khác phạm vi phục vụ chỉ đạt 20-25%. Theo đánh giá của các công ty thoát nước, môi
trường đô thị tại các địa phương hiện nay, 50% tuyến cống đã bị hư hỏng, 30% tuyến
cống đã bị xuống cấp, chỉ còn khoảng 20% tuyến cống mới xây dựng là còn tốt. Hệ
quả tất yếu là ngập úng xảy ra thường xuyên đặc biệt là trong những năm gần đây khi
tốc độ xây dựng tăng mạnh. Số điểm ngập úng ngày càng nhiều và thời gian ngập úng
kéo dài 2-3 tiếng đồng hồ.
Trang 9
Lý thuyết tài chính công Nhóm 7
Phần III: Giải pháp về hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật xã hội tại Việt
Nam.
Trong công tác quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng Việt Nam hiện còn nhiều
các phương tiện.
Xây dựng quy hoạch phát triển, giải phóng mặt bằng.
Đầu tư xây dựng những công trình sau đó, nhượng lại cho tư nhân quản lý khai
thác, nhà nước rút vốn ra làm các công trình khác. Đây là phương thức rất hiệu quả
mà nhiều nước đã làm.
Trong một số lĩnh vực cơ sở hạ tầng, Nhà nước có vai trò độc quyền, nhưng
nhà nước phải vận hành theo các nguyên tắc thị trường, chẳng hạn định giá điện, giá
nước… phải theo thị trường – có thể lấy giá thị trường khu vực làm chuẩn để điều
chỉnh phù hợp.
Việc huy động nguồn vốn khi vực tư nhân vào xây dựng cơ sở hạ tầng theo các
hình thức BOT, BT… là hoàn toàn cần thiết, đã và đang được áp dụng ở Việt Nam.
Trong một số lĩnh vực có thể huy động cả vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là
năng lượng, tuy nhiên cần có hình thức phù hợp, đảm bảo lợi ích hợp lý cho các nhà
đầu tư.
3.4. Định hướng phát triển giao thông vận tải.
Trang 11
Lý thuyết tài chính công Nhóm 7
Trước hết các đường giao thông nên trước hết theo hướng Đông – Tây, hướng
ra các cảng biển.
Vận tải hàng hóa phải lấy vận tải đường biển là chính, Việt Nam có 3260 km
bờ biển với hàng chục cảng biển nối với nhiều con sông vào sâu nội địa. Vận tải thủy,
pha sông biển, đa phương thức kết hợp phải là định hướng chính, vừa đảm bảo chi phí
thấp, vừa giảm tải cho các tuyến đường bộ, đường sắt.
Hệ thống đường sắt phải được hiện đại hóa theo hướng nâng tốc độ tàu chạy
trên 100 km.giờ, với hai chiều, xây them các tuyến đường sắt mới theo hướng Đông –
Tây, trước hết là Hồ Chí Minh đi Vũng Tàu.
Hệ thống vận tải hàng không phải được điều chỉnh theo hướng liên kết với các
hãng hàng không quốc tế mở thẳng đường bay từ Hà Nội, Hồ Chí Minh đến tất cả các
thành phố lớn trên thế giới, cần có phương án mở cửa bầu trời cho vận tải hàng hóa
quốc tế, xây dựng một số sân bay quốc tế hiện đại có thể kêu gọi vốn FDI ngang tầm
tiến độ của dự án. Hằng năm trên cơ sở tổng hợp, phân tích đánh giá nhu cầu, lập kế
hoạch đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật sau đó cân đối với nguồn vốn rồi mới
có kế hoạch phân bổ và sử dụng từng loại nguồn vốn khác nhau sao cho hợp lý, ưu
tiên cho những dự án cấp bách hơn.
3.7. Thực hiện xã hội hóa đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
Trước thực trạng khả năng huy động nguồn vốn ngân sách phát triển cơ sở hạ
tầng còn hạn chế, về thực hiện xã hội hóa đầu tư kết cấu hạ tầng nhằm huy động các
nguồn vốn khác từ các thành phần kinh tế để thực hiện các dự án thuộc lĩnh vực cơ sở
hạ tầng kỹ thuật là rất cần thiết và hết sức quan trọng, góp phần bổ sung phần thiếu
Trang 13
Lý thuyết tài chính công Nhóm 7
hụt từ ngân sách nhà nước, tập trung cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật là
một bước đi đúng và cần thiết.
Do đó nhà nước cần tiếp tục nghiên cứu, ban hành các cơ chế chính sách,
khung pháp lý tạo điều kiện cho việc thực hiện xã hội hóa đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng từ trung ương đến địa phương theo hướng cụ thể cho từng ngành từng lĩnh vực.
Có chính sách đảm bảo lợi ích chính đáng, hợp pháp của các cá nhân, tập thể tham gia
xã hội hóa, chính sách ưu đãi tín dụng từ quỹ hỗ trợ phát triển của nhà nước. Tăng
cường phân cấp cho địa phương, khu vực tư nhân, các thành phần kinh tế, doanh
nghiệp trong đầu tư, sản xuất kinh doanh. Nhà nước thực hiện chức năng quản lý quy
hoạch, kế hoạch, ban hành cơ chế chính sách, tổ chức thực hiện và kiểm tra quản lý,
thanh tra giám sát. Đa dạng và mở rộng các phương thức đầu tư, tạo điều kiện thuận
lợi trong thu hút và nâng cao chất lượng các nguồn vốn đầu tư. Vốn ngân sách nhà
nước tập trung đầu tư cho công tác quy hoạch, hỗ trợ đầu tư các công trình hạ tầng
trọng yếu, tạo điều kiện cơ chế để nhà nước và nhân dân cùng làm. Đối với các công
trình kinh doanh sinh lời, nhà nước không đầu tư chỉ tạo chính sách khuyến khích vốn
đầu tư từ các thành phần kinh tế khác. Đồng thời phải xã hội hóa cả thông tin để mọi
tổ chức cá nhân dễ dàng và bình đẳng trong việc tiếp cận với nguồn thông tin về xã
hội hóa đầu tư cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh xúc tiến đầu tư tạo cho các nhà đầu tư như
đầu tư tư nhân có cơ hội trao đổi tình hình, các thông tin có liên quan đến dự án để họ
Trang 15
Lý thuyết tài chính công Nhóm 7
Trang 16