CÁC mô HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH tế lý THUYẾT - Pdf 95

I.CÁC MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ LÝ THUYẾT
Để nghiên cứu kinh tế, các nhà kinh tế học thường sử dụng mô hình hay học thuyết.
Các mô hình là khuôn mẫu để tổ chức phương pháp tư duy về một vấn đề. Các mô
hình được đơn giản hoá bằng cách bỏ qua một vài chi tiết mang tính ngẫu nhiên, qua
đó tập trung vào các điểm chính yếu, từ đó giúp chúng ta triển khai phân tích xem nền
kinh tế hoạt động thế nào.
Giữa mô hình kinh tế và số liệu thực tế có mối quan hệ chặt chẽ, các số liệu tương tác
với mô hình theo hai hướng: số liệu giúp lượng hoá các quan hệ mà mô hình lý thuyết
quan tâm; số liệu giúp ta kiểm nghiệm mô hình.
Vậy, mô hình kinh tế chính là cách thức diễn đạt những con đưòng, hình thái, nội dung
phát triển kinh tế của các quốc gia thông qua các biến số, các nhân tố kinh tế trong
quan hệ chặt chẽ với các điều kiện chính trị, xã hội. Các mô hình có thể được diễn đạt
dưới dạng lời văn, biểu đồ, đồ thị hoặc phương trình toán học
1.Mô hình cổ điển
Được hình thành cách đây 200 năm bởi Adam Smith và Ricardo, mô hình này có
những nội dung căn bản sau:
Yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động và vốn. Trong ba yếu tố trên
thì đất đai là yếu tố quan trọng nhất, là giới hạn của sự tăng trưởng.
Xã hội phân chia thành 3 nhóm người: địa chủ, tư bản và công nhân. Sự phân phối
thu nhập của ba nhóm này phụ thuộc vào quyền sở hữu của họ đối với các yếu tố sản
xuất. Địa chủ có đất thì nhận địa tô, tư bản có vốn thì nhận lợi nhuận, công nhân có
sức lao động thì nhận tiền công. Cách phân phối này được họ cho là hợp lý. Vậy, thu
nhập xã hội=địa tô+lợi nhuận+tiền công
Trong 3 nhóm người này, thì nhà tư bản giữ vai trò quan trọng trong cả sản xuất, tích
luỹ và phân phối. Họ đứng ra tổ chức sản xuất, giành lại một phần lợi nhuận để tích
luỹ và chủ động trong quá trình phân phối.
1
Các nhà kinh tế học cổ điển còn cho rằng, hoạt động của các chủ thể kinh tế bị chi
phối bởi bàn tay vô hình-cơ chế thị trường, phủ nhận vai trò của nhà nước, cho rằng
đây là cản trở cho phát triển kinh tế.
2.Mô hình của Các-Mác

C: tư bản bất biến
V: tư bản khả biến
M: giá trị thặng dư
Về mặt hiện vật, Mác chia làm hai khu vực:
Khu vực 1: sản xuất ra tư liệu sản xuất
Khu vực 2: sản xuất ra tư liệu tiêu dùng
Về quan hệ cung cầu và vai trò của nhà nước: trong khi phân tích chu kì kinh doanh và
khủng hoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản, Mác cho rằng, khủng hoảng thừa do thiếu
số cầu tiêu thụ, đây là biểu hiện của mức tiền công giảm và mức tiêu dùng của cá nhân
nhà tư bản cũng giảm vì khát vọng tăng tích luỹ. Muốn giải thoát khỏi khủng hoảng,
nhà nước phải có những biện pháp kích cầu nền kinh tế.
Như vậy, Mác đã đặt nền tảng đầu tiên cho xác định vai trò của nhà nước trong điều
tiết cung cầu kinh tế
3.Mô hình tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế
Vào cuối thế kỉ 19, cùng với sự tiến bộ của kho học và công nghệ , trường phái kinh tế
tân cổ điển ra đời. Bên cạnh một số quan điểm về tăng trưởng kinh tế tương đồng cùng
3
trường phái cổ điển nhưu sự tự điều tiết của bàn tay vô hình, mô hình này có các quan
điểm mới sau:
Đối với các nguồn lực về tăng trưởng kinh tế, mô hình nhấn mạnh vai trò đặc biệt
quan trọng của vốn. Từ đó họ đưa ra hai khái niệm:
Phát triển kinh tế theo chiều sâu: tăng trưởng dựa vào sự gia tăng số lượng vốn cho
một đơn vị lao động
Phát triển kinh tế theo chiều rộng: tăng trưởng dựa vào sự gia tăng vốn tương ứng
với sự gia tăng lao động
Để chỉ quan hệ giữa gia tăng sản phẩm và tăng đầu vào, họ sử dụng hàm sản xuất
Cobb Douglass Y=F(k,l,r,t)
Sau khi biến đổi, Cobb-Douglass thiết lập mối quan hệ theo tốc độ tăng trưởng các
biến số: g=t+ak+bl+cr
Trong đó:

vai trò bàn tay hữu hình của nhà nước thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô, hạn
chế bàn tay vô hình, tạo trở ngại cho quá trình tăng trưởng. Các nhà kinh tế học của
trường phái hỗn hợp ủng hộ việc xây dựng một nền kinh tế hỗn hợp. Trên thực tế, hầu
hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng mô hình kinh tế hỗn hợp ở những mức độ
khác nhau, vì thế , đây được coi là mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại, nội dung cơ
bản của nó là:
5
Giống mô hình của Keynes, quan niệm sự cân bằng của kinh tế xác định tại giao AS
và AD
Thống nhất với mô hình kinh tế tân cổ đển, mô hình kinh tế học hiện đại cho rằng,
tổng mức cung của nên kinh tế được xác định bởi các yếu tố đầu vào của quá trình
sản xuất, đó là tài nguyên, lao động, vốn, khoa học công nghệ. Thống nhất với kiểu
phân tích của hàm sản xuât Cobb-Douglass về sự tác động của các yếu tố trên với tăng
trưởng.
Các nhà kinh tế học hiện đại cũng thống nhất với mô hình Harrod-Domar về vai trò
tiết kiệm và vốn đầu tư trong tăng trưỏng kinh tế.
Chính vì thế , nhiều người cho rằng mô hình kinh tế hỗn hợp là sự xích lại gần nhau
của học thuyết kinh tế tân cổ điển và học thuyết kinh tế của Keynes.
6
II.BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Vừa qua, nhóm giáo sư thuộc Trường Fulbright và Chương trình Việt Nam của ĐH
Harvard đã đưa ra bản báo cáo khuyến nghị chiến lược phát triển kinh tế -xã hội
mang tên "LỰA CHỌN THÀNH CÔNG: BÀI HỌC TỪ ĐÔNG Á VÀ ĐÔNG NAM Á
CHO TƯƠNG LAI VIỆT NAM ". Bản báo cáo gồm các phần: Câu chuyện về hai mô
hình phát triển, Duy trì tăng trưởng bền vững và công bằng, Khuyến nghị chính
sách Phần đầu bản báo cáo so sánh giữa "mô hình Đông Á" (Hàn Quốc, Đài
Loan ) với "mô hình Đông Nam Á" (Phi-lip-pin, In-đô-nê-xia ) và nhấn mạnh:
"Các nước Đông Á thành công là nhờ có chính sách đúng đắn trong 6 lĩnh vực then
chốt, bao gồm giáo dục, cơ sở hạ tầng và đô thị hóa, doanh nghiệp cạnh tranh quốc tế,
hệ thống tài chính, hiệu năng của Nhà nước, và công bằng. Sự tiếp nối thành công của

sự khác biệt to lớn: thành phố ở các nước Đông Á là động lực cho tăng trưởng và đổi
mới kinh tế, trong khi thành phố ở các nước Đông Nam Á ô nhiễm, ùn tắc, đắt đỏ, và
ngập lụt. Nghèo đói, tội phạm và sự bất lực trong việc cung cấp các dịch vụ đô thị cơ
bản như giao thông, điện, nước sạch là những tai họa của các thành phố Đông Nam
Á Bên cạnh sự thất bại trong quản lý đô thị, các nước Đông Nam Á còn có xu hướng
đầu tư quá mức vào các dự án khổng lồ mà trong hầu hết trường hợp đều chứng tỏ là
chưa cần thiết và lãng phí. Nói chung, các nước Đông Á thường thận trọng hơn và chỉ
đầu tư để nâng cao công suất khi cần thiết. Tại sao các nước Đông Á lại thành công
hơn các nước Đông Nam Á nhiều đến thế? Một nhân tố quan trọng là các quyết định
về CSHT ở các nước này do các nhà kỹ trị ít chịu áp lực chính trị thực hiện. Ngược lại,
ở các nước Đông Nam Á, các quyết định đầu tư của Nhà nước thường bị chi phối và
thao túng bởi các nhóm lợi ích đặc biệt.
3. Doanh nghiệp cạnh tranh quốc tế
Ở các nước Đông Á, khi nhà nước hỗ trợ cho một ngành công nghiệp nào đó, hay
thậm chí một doanh nghiệp cá biệt nào đó, thì nói chung, ngành công nghiệp hay
doanh nghiệp này đều biết ngay từ đầu rằng sự hỗ trợ này chỉ có tính tạm thời và rằng
họ sẽ phải xuất khẩu sau một vài năm để có thể tự tồn tại. Quy tắc này được gọi là
“xuất khẩu hay là chết”. Các nước Đông Á thực hiện một chính sách kiên trì nhiều khi
đến cực đoan trong việc theo đuổi kỹ năng, công nghệ, và tri thức tiên tiến để có thể
giúp các doanh nghiệp của mình xâm nhập thị trường sản phẩm mới và hiện đại hóa

Tăng trưởng GDP trên đầu người, 1960 - 2004
Nguồn: Những Chỉ báo Phát triển Thế giới
(World Development Indicators)
8
quá trình sản xuất. Trái lại, In-đô-nê-xia và Thái-lan đang cố gắng thu hút một lượng
lớn FDI nhưng nhìn chung lại không tạo ra được môi trường hỗ trợ các doanh nghiệp
trong và ngoài nước bước lên những bậc thang công nghệ cao hơn.
Một bài học quan trọng thứ hai từ
Đông Á là thương mại quốc tế không

lượng vốn để tạo thêm được một đơn vị tăng trưởng. Các nước Đông Nam Á đã thành
công trong việc huy động một tỷ lệ đầu tư rất cao nhưng lại thất bại trong việc lặp lại
kỳ tích tăng trưởng của các nước Đông Á, trong đó nguyên nhân chủ yếu là suất sinh
lợi của các khoản đầu tư ở các nước Đông Nam Á thấp hơn nhiều. Tham nhũng chắc
chắn là một trong những thủ phạm khi các quỹ đầu tư công bị bòn rút và thay đổi mục
đích sử dụng, với hệ quả là chi phí kinh doanh bị đội lên cao. Bên cạnh tham nhũng thì
một nguyên nhân quan trọng khác hoạt động tự do hóa tài chính được thực hiện quá
sớm, trong khi hệ thống tài chính được thiết kế không thích hợp và chưa sẵn sàng. Kết
quả là sự xuất hiện của các khoản đầu cơ rủi ro và sự hình thành của bong bóng tài
sản.
Thị trường tài chính (bao gồm thị trường vốn và
thị trường tiền tệ), phụ thuộc rất nhiều vào niềm
tin của các tác nhân tham gia thị trường, vào sự
minh bạch và đầy đủ về thông tin, và vào khả
năng thực thi các quy định pháp luật về điều tiết
và quản lý thị trường của nhà nước. Hơn thế,
đầu tư là một hoạt động rủi ro và phụ thuộc rất
nhiều vào các điều kiện thực tế cũng như kỳ vọng trên thị trường. Chính vì những lý
do này mà nhà nước đóng một vai trò then chốt trong việc điều tiết thị trường để giảm
thiểu những rủi ro có tính hệ thống. Chẳng hạn như Đài Loan đã ban hành những quy
định nghiêm ngặt về hoạt động tích luỹ của cải thông qua việc sở hữu đất đai và đầu
cơ tài chính. Chính quyền Đài Loan và Hàn Quốc còn ngăn cấm các tập đoàn công
nghiệp mở ngân hàng, chống lại việc sáp nhập các thế lực tài chính và công nghiệp,
mặc dù những chính sách này ở Hàn Quốc sau đó bị các chaebol phá dỡ. Việc tăng lợi
nhuận của các tập đoàn công nghiệp chủ yếu thông qua nỗ lực tăng năng suất và sức
cạnh tranh chứ không phải thông qua các hoạt động tài chính hay đầu cơ.
5.Hiệu năng của Nhà nước
Các nước Đông Á, trừ Trung Quốc, đã thành công trong việc xây dựng các nhà nước
hiệu quả với một số đặc điểm chung như sau:
+. Thứ nhất, nhờ vào một số lý do có tính lịch sử, các nước này tạo ra được một sự

công bằng và thịnh vượng. Một trong những đặc điểm quan trọng của mô hình Đông Á
là sự tăng trưởng nhanh về kinh tế được kết hợp với sự phân phối thu nhập tương đối
đồng đều. Ngay cả khi đã đạt được mức thu nhập trên đầu người cao như hiện nay thì
11
phân phối thu nhập ở Hàn Quốc và Đài Loan cũng đồng đều hơn so với Ma-lay-xia,
Phi-lip-pin, Thái-lan, Sing-ga-po và Việt Nam. Tuy nhiên, những nước Đông Nam Á
này vẫn có mức phân phố thu nhập đồng đều hơn so với các nước ở Châu Phi và Châu
Mỹ La-tinh. Mặc dù vậy, bất bình đẳng về thu nhập vẫn tồn tại ở các nước Đông Nam
Á trên cả ba phương diện quan trọng của chính sách phát triển con người, đó là giáo
dục, y tế, và lưới an sinh xã hội.
Một trong những khía cạnh đáng thất vọng nhất trong sự phát triển của các nước Đông
Nam Á là việc người giàu tránh không phải trả những khoản thuế được coi là hợp lý và
ở mức độ rất phải chăng. Nhiều người trở nên giàu kếch xù nhờ đầu cơ đất đai nhưng
lại chỉ phải đóng một khoản thuế bất động sản có tính tượng trưng, hoặc thậm chí hoàn
toàn không phải đóng thuế.
Khía cạnh cuối cùng của phân phối thu nhập công bằng liên quan đến đất đai. Ở Phi-
lip-pin, trong khi nhiều người lao động không có lấy một tấc đất cắm dùi, thì một số ít
người khác lại sở hữu rất nhiều đất. Hiện tượng này cũng xuất hiện ở một số vùng của
In-đô-nê-xia do mật độ dân cư quá cao và sự thâu tóm đất đai của một số “đại gia” có
mối quan hệ gần gũi với giới quan chức. Ở Việt Nam và Trung Quốc, mặc dù phân
phối đất ban đầu khá công bằng nhưng sự công bằng này đang bị phá vỡ một cách
nhanh chóng do quá trình chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất công nghiệp và đô
thị. Về thực chất, đây là quá trình chuyển đổi và phân phối lại ruộng đất, trong đó địa
tô được chuyển sang tay một số cá nhân có thế lực kinh tế và quyền lực chính trị, trong
số đó không ít người là quan chức của chính phủ. Điều tương tự đã không xảy ra ở Đài
Loan và Hàn Quốc.
12
III.LỰA CHỌN MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
1.Lí do lựa chọn :
Thực tế là không có một mô hình tăng trưởng lý thuyết nào mà Việt Nam có thể áp

mà mức thu nhập bình quân đầu người thấp nhiều so với các quốc gia khác thì chính
phủ Việt Nam cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa từ việc lựa chọn chiến lược và chính
sách. Một điều cơ bản là CP chỉ nên xuất hiện ở những chỗ mà thị trường thất bại và
căn thiệp hiệu quả những vấn đề đó để phối hợp với thị trường đưa nền kinh tế tăng
trưởng với tốc độ cao.
Tất cả những thực trạng trên đặt ra cho chúng ta ,đặc biệt là CP 1 trách
nhiệm lớn lao là tìm ra 1 kiểu hình tăng trưởng hợp lý cho VN trong bối cảnh toàn cầu
hóa.Việc lựa chọn 1 MH tăng trưởng hợp lý có vai trò vô cùng lớn ,không chỉ giúp cho
chúng ta khai thác được các nguồn lực về lao đọng,vốn,tài nguyên,công nghệ…trong
nước có hiệu quả,phát huy được lợi thế so sánh tốt.Mà còn giúp cho VN khắc phục
được nhược điếm sẵn có:Trình độ lao động,hiêu quả vốn,trình độ công nghệ…Đặc biệt
việc gia nhập WTO còn tạo cơ hội rất lớn cho VN trong việc thu hút các nguồn
vốn,công nghệ,dịch chuyển lao động…Nếu đủ sức thu hút và sử dụng hiệu quả các
dòng chảy từ cơ hội toàn cầu hóa thì việc đặt được mục tiêu phát triển kinh tế nhanh
,bền vững ,đuổi kịp các nước trong khu vực là hoàn toàn có cơ sở.
2.Mô hình áp dụng
Hiện nayVN cần nhanh chóng chuyển sang “mô hình sáng tạo” (tăng trưởng hiệu quả)
với những nội dung cụ thể như tăng cường công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực để cải
thiện năng lực cạnh tranh. Đây là mô hình tăng trưởng không có giới hạn, khác với
mô hình tăng trưởng hiện nay của VN đang chịu tác động của các yếu tố đầu vào.
Thực tế cho thấy với mô hình dựa trên đầu vào, để có được 1 đơn vị GDP trong giai
đoạn 1996 – 2000, VN phải bỏ ra 3,7% đơn vị yếu tố đầu vào, giai đoạn 2000 – 2005
tăng lên 4,6% và 2006 – 2010 là 5,1%,khi kinh tế tăng trưởng 8,5%, nhu cầu năng
lượng ở VN cũng tăng gấp đôi, lên 17%.
Theo ông Shrestha, việc tăng tỷ lệ yếu tố đầu vào qua từng giai đoạn phát triển cho
thấy tính hiệu quả của nền kinh tế có xu hướng ngày càng giảm. Phó giám đốc quốc
14
gia ADB nói để vượt qua thách thức này, VN có thể song hành cả hai mô hình phát
triển kinh tế, nhưng phải chú trọng tính hiệu quả.
Thứ nhất, để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao hơn, VN phải tăng yếu tố đầu

khoảng cách như mong đợi. Cụ thể là :
-Đổi mới công nghệ trong mọi lĩnh vực, nhằm thu hẹp khoảng cách tụt hậu về trình độ
công nghệ so với các nước tiên tiến trong khu vực.
-Phát triển và ứng dụng một số hướng công nghệ cao (công nghệ thông tin, sinh học,
vật liệu mới và tự động hóa) nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và
tạo ra bước nhảy vọt về năng suất, chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế
-Chú trọng nhập khẩu công nghệ mới, hiện đại, thích nghi công nghệ nhập khẩu ,tiến
tới cải tiến và sáng tạo công nghệ Việt Nam
Để có được công nghệ mới thường được thực hiện bằng cách tiếp thu công nghệ từ
nước ngoài hoặc tạo ra công nghệ mới ở trong nước.Ở Việt Nam, việc chuyển giao
công nghệ từ nước ngoài là nguồn quan trọng giúp nâng cao năng lực công nghệ quốc
gia.
Thực trạng:
Thế nhưng thực tiễn sản xuất ở nước ta trong giai đoạn vừa qua là những thiết bị
hiện đại nhập về nhưng do không làm chủ được bí quyết công nghệ và công nhân
không đủ trình độ vận hành thiết bị, nên sản phẩm làm ra không đảm bảo yêu cầu chất
lượng mong muốn, công suất máy móc thiết bị đựơc sử dụng ở mức thấp chưa đến
50%. Cùng một thiết bị nhập về, nhưng ở 2 cơ sở khác nhau lại cho ra sản phẩm với
chất lượng khác nhau. Hoắc để sản phẩm đạt được chất lượng như nhau lại có thể dùng
các loại thiết bị và công nghệ khác nhau. Như vậy, để có một sản phẩm được thị
trường chấp nhận có thiết bị tốt chưa đủ, mà còn phải có những người công nhân có
tay nghề phù hợp ,nắm bắt được bí quyết công nghệ, có bộ máy quản lý năng động, đủ
16
sức tìm hiểu nhu cầu biến động của thị trường, có khả năng tổ chức lại một cách khách
quan nhanh chóng dây chuyền sản xuất phù hợp với yêu cầu mới.
Thông tin từ Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết: Phần lớn các doanh nghiệp (DN)
nước ta đang sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thế giới 2 - 3 thế
hệ. 80 - 90% công nghệ nước ta sử dụng là công nghệ ngoại nhập. Có 76% máy móc,
dây chuyền công nghệ nhập thuộc thế hệ 1960 - 1970, 75% số thiết bị đã hết khấu hao,
50% là đồ tân trang.

Phước Long chỉ đạt 10.390m vải/một lao động/năm, trong khi một DN với dây chuyền
sản xuất mới và hiệu quả nhất Việt Nam hiện đạt 36.230m/lao động/năm thì vẫn còn
thua xa mức bình quân ở Australia là 48.000 m vải/lao động/năm.

Hiện nay trong đầu tư các DN chỉ chú ý đến thiết bị mà quên rằng công nghệ hàm
chứa cả 4 yếu tố là: thiết bị, con người, thông tin và thiết chế. 4 yếu tố này có đồng bộ
thì mới phát huy được tác dụng của công nghệ. Còn nếu chỉ chú trọng đến thiết bị thôi
thì chưa thể coi là đổi mới công nghệ được. Thiết bị chỉ đem cho DN từ 40-50% năng
lực sản xuất. ở ta thường thấy các giám đốc rất hãnh diện với dây chuyền hiện đại của
mình. Nhưng thông tin thì rất sơ sài, con người thì không đào tạo đến nơi đến chốn
còn thiết chế quản lý, mua bán, chuyển giao công nghệ thì quá lỏng lẻo, trong khi các
yếu tố này nhiều lúc còn quan trọng hơn thiết bị. Vì không thấy được các yếu tố phần
mềm của công nghệ (thông tin, con người, thiết chế) cho nên các DN rất coi nhẹ
chuyển giao công nghệ. Hiện tại có tới 95% chuyển giao là do các công ty mẹ ở nước
ngoài chuyển cho các công ty con đầu tư ở Việt Nam. Số tiền chi phí chuyển giao công
nghệ từ các công ty Việt Nam trả cho công ty nước ngoài là rất ít. Các DN rất ít thuê
chuyên gia kỹ thuật nước ngoài. Đây chính là một cản trở rất lớn cho sự phát triển.

Hiện nay đa số các DN Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ, năng lực tài chính có hạn.
Việc tiếp cận các nguồn vốn trung và dài hạn rất khó khăn vì phải thế chấp nhà và đất
mà nói chung là họ không có, cho nên họ không dám mơ tưởng đến “đổi mới công
nghệ”. Ngoài ra, thị trường công nghệ Việt Nam còn nhiều bất cập. 70% ý kiến các
DN cho rằng luật lệ mua bán công nghệ không rõ ràng, nghiêm minh; 57,7% ý kiến
khác cho biết: các DN không muốn mua tri thức công nghệ trong nước do chất lượng
không đảm bảo, chi phí chuyển giao cao, công nghệ không ổn định.
18

Để giải bài toán công nghệ DN hiện nay cần có nhiều điều phải làm. Chẳng hạn: Phải
nhanh chóng hoàn thiện hệ thống thông tin công nghệ cho những ngành chính, để mỗi
DN khi mua công nghệ biết được mình chọn và mua công nghệ nào và mình bán sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status