TIỂU LUẬN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu KHOA học đề tài the “advantage of latecomer” in abating air pollution the east asian experience - Pdf 95

The “advantage of latecomer” in abating air-pollution: The East Asian experience
LỜI MỞ ĐẦU
Ô nhiễm môi trường luôn gắn liền với phát triển kinh tế. Thực vậy, trong
thời gian tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao, Nhật Bản đã phải gánh chịu mặt trái
của sự tăng trưởng kinh tế với sự xuất hiện nhiều loại ô nhiễm công nghiệp khác
nhau. Từ đầu thập niên 1970 đến giữa thập niên 1980, dưới sự phản ứng của dân
chúng, chính quyền trung ương và địa phương đã ban hành các chính sách, quy
định về môi trường và cùng với sự đổi mới công nghệ, tình trạng ô nghiễm đã
được cải thiện đáng kể.
Gần đây các nước ở Đông Á, mặc dù tăng trưởng kinh tế nhanh chóng
nhưng ô nhiễm ít nghiêm trọng hơn so với Nhật Bản những năm 1970. Đó là do
những nước này đã thấy được “lợi thế của nước đi sau”, họ nỗ lực học hỏi kinh
nghiệm, và tiếp nhận công nghệ mới từ các nước phát triển.
Việt Nam cũng đang trong quá trình phát triển kinh tế, thu nhập của người
dân ngày càng tăng lên nhưng đồng thời môi trường Việt Nam cũng đang ngày
càng xấu đi. Liệu Việt Nam có tận dụng được “lợi thế nước đi sau” hay không?
Vì vậy, đề tài “The “advantage of latecomer” in abating air- pollution:
the East Asian experience” của tác giả Toru Iwami rất đáng cho chúng ta
nghiên cứu, học hỏi. Để tìm hiểu, phân tích đề tài trên phương diện nghiên cứu
khoa học, nhóm 4 sẽ tập trung giải quyết 6 nội dung sau:
1 Mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu của đề tài là gì ?
2 Hãy nhận dạng mô hình lý thuyết của đề tài ?
3 Việc đo lường các biến tiềm ẩn bằng các yếu tố thành phần có đủ độ tin cậy
thống kê hay không ?
4 Nêu lên những cơ sở lý thuyết để thiết lập mô hình lý thuyết của đề tài ?
5 Giải thích những kết quả xử lý thống kê trong việc kiểm định các giả thuyết
nghiên cứu hoặc trong việc giải thích các câu hỏi nghiên cứu ?
6 Hãy nêu ra những phát hiện mới của đề tài cũng như những hạn chế của đề
tài này, từ đó đề xuất những đề tài nghiên cứu mới để giải quyết những hạn
chế này ?
Nhóm 4 –K20 Đêm 6 Trang 1

công nghệ mới từ các nước phát triển.
Nhóm 4 –K20 Đêm 6 Trang 2
The “advantage of latecomer” in abating air-pollution: The East Asian experience

Gerschenkron (1962, chương 1) chỉ ra tầm quan trọng của "sự vay
mượn công nghệ" như là một "lợi thế của nước đi sau”.
1.1.3 Nêu vấn đề cần nghiên cứu:
- Biến nghiên cứu: ô nhiễm không khí thông qua đo lường lượng khí thải
SO
2
.
- Biến tác động: Thu nhập, GDP trên mỗi đơn vị tiêu thụ, công nghiệp sản
xuất /GDP, hiệu quả sử dụng năng lượng.
- Giới hạn không gian: Khảo sát tại Châu Á, cụ thể gồm 9 quốc gia : Nhật
Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Philippin, Singapore, Indonesia,
Malaisia, Thái Lan
- Giới hạn thời gian: Quá trình nghiên cứu được phân tích từ đầu thập niên
1970 đến 1995
1.1.4 Tính chất có thể nghiên cứu của một đề tài:
- Khả năng thu thập và phân tích thông tin:
Từ đầu thập niên 1970 và giữa thập niên 1980, ô nhiễm không khí ở Nhật
Bản, đặc biệt là loại ô nhiễm gây ra bởi khí lưu huỳnh (SO
2
), đã giảm đến một
mức độ đáng kể. Việc giảm thiểu này là kết quả từ phản ứng của dân chúng: một
mặt là chính sách quy định của chính phủ, mặt khác là đổi mới công nghệ giảm
thải và hiệu quả sử dụng năng lượng. Trong các thành phố lớn ở Đông Á, mặc dù
tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, nhưng ô nhiễm không khí ít nghiêm trọng hơn
Nhật Bản vào đầu năm 1970. Điều này là do chính phủ và các ngành công nghiệp
ở Đông Á đã sớm tìm ra sáng kiến để ngăn chặn suy thoái môi trường, học hỏi

việc nghiên cứu đề tài là:
Nghiên cứu này xem xét :Ô nhiễm không khí là một trong những vấn đề của
môi trường có xu hướng được cải thiện khi mức thu nhặp tăng lên.
Cụ thể nghiên cứu này sẽ xem xét các nhân tố gây ô nhiễm không khí, mức
thu nhập có ảnh hưởng như thế nào đến ô nhiễm không khí, các biện pháp
làm giảm ô nhiễm không khí và lợi thế của các nước đang phát triển trong
việc giảm ô nhiễm môi trường không khí . Mở rộng ra là các yếu tố tác động
đến vấn đề làm sạch môi trường tự nhiên của các nước Đông Á trong thời
gian tăng trưởng kinh tế cao .
1.2 Câu hỏi nghiên cứu
Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài được đưa ra là:
1. Môi trường không khí có được cải thiện khi mức thu nhập tăng lên hay
không ?
Nhóm 4 –K20 Đêm 6 Trang 4
The “advantage of latecomer” in abating air-pollution: The East Asian experience
2. "Các nước đi sau" có lợi thế gì? Họ đã vận dụng những lợi thế này như thế
nào? Lợi thế này có làm giảm ô nhiễm môi trường không khí không ?
3. Những nhân tố nào khác ngoài thu nhập gây ô nhiễm không khí? Trong
cùng một quốc gia thì những vùng khác nhau : thành phố lớn, nông thôn hoặc các
khu công nghiệp có sự khác biệt đáng kể về mức độ ô nhiễm không khí hay
không ?
4. Các biện pháp làm giảm ô nhiễm không khí? Ở những quốc gia khác nhau,
những biện pháp này có khác nhau hay không ?
CÂU 2: MÔ HÌNH LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI ?
Mô hình nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu giải tích
2.1 Tóm lược và phân tích các đề tài nghiên cứu trước đây:
Tác giả nghiên cứu Nội dung Vấn đề cần nghiên
cứu
EKC qua các nghiên
cứu của Ngân hàng thế

Liệu có tồn tại “lợi thế
của nước đi sau không"
Nhóm 4 –K20 Đêm 6 Trang 5
The “advantage of latecomer” in abating air-pollution: The East Asian experience
Châu Á thì đồng thời Châu
Á cũng trở nên bẩn hơn, đa
dạng sinh học bị giảm sút,
hơn nữa môi trường dễ bị
tổn thương hơn
? Trong thời kỳ tăng
trưởng cao của các
nước Đông Á thì
những yếu tố nào đã
góp phần tạo nên lợi
thế này ? Và họ đã học
hỏi kinh nghiệm của
Nhật Bản và các nước
phát triển khác như thế
nào ?
O'Connor (1994) Các nước Đông Á công
nghiệp hóa sau dễ dàng
thành công trong việc bảo
vệ môi trường hơn nhờ học
hỏi kinh nghiệm và tiếp
nhận công nghệ mới từ các
nước phát triển
Gerschenkron(1962,
Chương 1)
Tầm quan trọng của "sự
vay mượn công nghệ" như

nồng độ khí quyển tập
trung, các vị trí quan
sát có thực sự mang
tính đại diện không ?
2.2 Thu hẹp vấn đề nghiên cứu trong một phạm vi hẹp dần
Nhóm 4 –K20 Đêm 6 Trang 6
The “advantage of latecomer” in abating air-pollution: The East Asian experience
Đề tài nghiên cứu tìm hiểu, phân tích mối quan hệ giữa ô nhiễm môi trường
không khí và phát triển kinh tế ở các nước Châu Á, cụ thể là 9 quốc gia: Nhật
Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Philippines, Singapore, Indonesia,
Malaysia và Thái Lan.
2.3 Liên hệ với kết quả mong đợi từ nghiên cứu này
• Xác định mối quan hệ giữa thu nhập và ô nhiễm không khí. Từ đó rút ra
được kết luận và các biện pháp làm giảm ô nhiễm không khí
• Kinh nghiệm của các nước phát triển có giúp ích được cho các nước đi sau
hay không? Các nước Đông Á đi sau có thành công trong việc cải thiện ô nhiễm
không khí trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế qua học hỏi kinh nghiệm của Nhật
không?
2.4 Xác định mô hình lý thuyết
Từ mối quan hệ giữa hai khái niệm thu nhập và ô nhiễm không khí (trong
đó: thu nhập là biến tác đông, ô nhiễm không khí là biến nghiên cứu. Ta có thể
xác định mô hình cơ bản sau:
Thu nhập tác động đến tình trạng ô nhiễm không khí. Khi thu nhập tăng,
người dân trở nên ý thức hơn về vấn đề sống còn, vấn nạn ô nhiễm môi trường là
mối đe dọa hết sức nặng nề đến chất lượng cuộc sống. Vì vậy cần phải bảo vệ
môi trường, đề xuất các biện pháp làm giảm ô nhiễm như: Chính sách, quy chế
của Chính phủ; Các khía cạnh kỹ thuật; Hiệu suất sử dụng năng lượng; Các
nguồn động cơ; Chuyển giao công nghệ.
Qua các yếu tố thành phần trên, cũng như mối liên hệ của các khái niệm có
thể xây dựng mô hình lý thuyết như sau:

EM=a+bY+cY
2
+dEF+eIS+fD1+gD2+u
Biến tiềm ẩn: EM: lượng khí thải SO
2
trên đầu người
Các yếu tố thành phần: + Y : Thu nhập
+ EF : GDP trên mỗi đơn vị tiêu thụ năng lượng
+ IS : Phần công nghiệp sản xuất/ GDP
Đối với các nước đi sau có thêm các biến giả: Biến giả : D1 ( ) và D2( )
- Chỉ số Tốc độ công nghiệp hóa =IS (1990)/IS(1973)
- D1: những nước có chỉ số tốc độ công nghiệp hóa >1,<1,5
- D2: những nước có chỉ số tốc độ công nghiệp hóa >1,5
Trường hợp 1 (a): Không có biến giả, Phương trình như sau:
EM= -33,98 +6.17Y-0,3 Y
2
-1,60EF+3,53IS
Khi đó R
2
= 0,71 tức là các biến thành phần giải thích được 71% biến phụ thuộc
Trường hợp 2 (b): Phương trình ước lượng OLSA có biến giả cho 9 nước:
EM = -26,4+4,49Y-0,2Y
2
– 1,64EF+1,72IS + 0,92 D1- 0,5 D2
Khi đó R
2
= 0,90 tức là các biến thành phần giải thích được 90% biến phụ thuộc.
Trường hợp 3 (c) : Phương trình ước lượng OLSA có biến giả cho 8 nước ( loại
Trung Quốc):
EM = -36,32 +6,61Y – 0,32Y

các nước phát triển.
 Shafik (1994) và Grossman và Rueger (1995) đã chỉ ra khi kiểm tra các EKC
trên thực nghiệm, việc nghiên cứu số lượng lớn mặt cắt ngang gộp chung dữ liệu
theo chuỗi thời gian mang lại kết quả chính xác hơn.
4.2 Những vấn đề được giải quyết trong các nghiên cứu trước đây
4.2.1 Những đề tài nghiên cứu trước đây

Stern et al.(1996), Ekins,P (1997) : khi nghiên cứu ô nhiễm môi trường và
phát triển kinh tế cũng cho kết quả như giả thuyết của EKC - một đồ thị hình
chữ U ngược với trục hoành ứng với mức thu nhập ứng và trục tung ứng với suy
thoái môi trường.

Ngân hàng thế giới (1992) đã phác họa một hình chữ U ngược cho ô nhiễm
không khí ở dạng lơ lửng (SPM) và lưu huỳnh dioxide (SO
2
). Sau đó, Shafik
(1994), Selden và Song (1994), Grossman và Krueger (1995) và Panayotou
(1995) cũng trình bày kết quả tính toán kinh tế tương tự với mối liên hệ tới các
chất ô nhiễm không khí.
Nhóm 4 –K20 Đêm 6 Trang 10
The “advantage of latecomer” in abating air-pollution: The East Asian experience

Gerschenkron (1962, chương 1) chỉ ra tầm quan trọng của "sự vay mượn
công nghệ" như là một "lợi thế của nước đi sau”.
• Kaufmann, R.K., Davidsdottir, B., Garnham, S. and Paully, P. (1998): các dữ
liệu về nồng độ khí quyển được thu thập trực tiếp, trong khi dữ liệu về lượng khí
thải được ước tính gián tiếp từ tiêu thụ năng lượng và hàm lượng lưu huỳnh trong
từng nguồn năng lượng.
• Các tác động khác ảnh hưởng tới ô nhiễm không khí:
Akiyama, N. and Ueta, K. (1994) với “Các chính sách môi trường của

EKC1 : Thể hiện mức độ ô nhiểm môi trường theo thu nhập của các nước đi
trước
EKC2: Thể hiện mức độ ô nhiễm môi trường theo thu nhập của các nước đi sau
Nhóm 4 –K20 Đêm 6 Trang 12
The “advantage of latecomer” in abating air-pollution: The East Asian experience
- Đỉnh của EKC1 tại mức thu nhập Yb
- Đỉnh của EKC2 tại mức thu nhập Ya
Ta thấy đường EKC2 thấp hơn EKC1: tức là các nước đi sau nhận thức
được ô nhiễm môi trường sớm hơn và có biện pháp bảo vệ môi trường thực hiện
ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế.
Như vậy đường EKC ở hình trên đã cho thấy có lợi thế các nước đi sau
trong việc bảo vệ môi trường .
5.2 Giải thích bằng phân tích OLSA.
Phương trình thể hiện nồng độ SO
2
theo đầu nguời theo phương trình sau:
EM = a + bY+ cY
2
+dEF+eIS+fD1+gD2+u
Trong đó
+ EM: lượng khí thải SO
2
trên đầu người
+ Y : thu nhập
+ EF :GDP trên mỗi đơn vị năng lượng tiêu thụ
+ IS :phần công nghiệp sản xuất/ GDP
+ Đối với các nước đi sau có thêm các biến giả: Biến giả : D1 (), D2()
+ Chỉ số Tốc độ công nghiệp hóa =IS (1990)/IS(1973)
+ D1: những nước có chỉ số tốc độ công nghiệp hóa >1, <1,5
+ D2: những nước có chỉ số tốc độ công nghiệp hóa >1,5

(-5.51)*
Y 6.17
(3.08)*
4.49
(3.30)*
6.61
(3.93)*
Y
2
-0.3
(-2.46)**
-0.2
(-2.42)**
-0.32
(-3.16)**
EF -1.6
(-5.17)*
-1.64
-(8.70)*
-0.67
(-2.53)*
IS 3.53
(3.49)*
1.72
(1.77)***
-0.77
(-0.59)
D1 0.92
(7.64)*
0.91

nghiệp hóa có ảnh hưởng đến mức độ ô nhiễm môi trường vì khi ta thêm các biến
giả D1 và D2 vào mô hình thì mô hình trở nên tối ưu hơn: nghĩa là biến phụ
thuộc (ở đây là mức độ ô nhiễm môi trường EM) đã được giải thích nhiều hơn
Nhóm 4 –K20 Đêm 6 Trang 14
The “advantage of latecomer” in abating air-pollution: The East Asian experience
bởi các biến trong mô hình. Các dấu của các hệ số ước tính của D1 và D2 hầu
như phù hợp với thảo luận ở phần giả thiết. D1 đại diện cho những nước đến
muộn trung bình, thể hiện bằng dấu +, cho thấy khuynh hướng phát thải lớn hơn
so với các nước đi trước. Mặt khác, các nước đi sau nhất, thể hiện bởi dấu - , nói
lên khuynh hướng giảm phát thải. Như vậy, lợi thế của nước đi sau thể hiện rõ
trong trường hợp thứ hai nghĩa là phương trình (b) và (c).
Xét dấu các hệ số của phương trình :
+
Hệ số của biến Y
2
mang dấu trừ (-), [t
0,01
] >1% và [t
0,02
] >2%,do đó chấp
nhận hệ số cuả Y
2

và t- thống kê có ý nghĩa.Suy ra quan hệ giữa Y và EM là
đường parabol úp xuống. Tức là khi thu nhập ban đầu tăng thì EM cũng tăng, sau
khi đạt tới đỉnh thì EM sẽ giảm xuống. Điều này có thể lý giải giống đường EKC,
với sự gia tăng thu nhập giai đoạn đầu, chủ yếu là nền kinh tế chuyển từ sản xuất
nông nghiệp sang giai đoạn sản xuất công nghiệp ( công nghiệp nặng) nồng độ
SO2 ngày càng tăng. Sau đó là giai đoạn chuyển từ công nghiệp sản xuất sang
nền công nghiệp hiện đại với ứng dụng công nghệ tiên tiến và nhận thức bảo vệ

0,01
] >1%, t-thống kê có ý nghĩa, D1 là
những nước phát triển muộn trung bình, D2 là những nước phát triển muộn nhất.
Như vậy dấu (-) ở D2 cho thấy khuynh hướng giảm phát thải rõ nhất.
5.3 Giải thích về nồng độ khí quyển.
Hình 2 : Nồng độ SO
2
và mức thu nhập
Hình 3: Nồng độ NO
2
và mức thu nhập
Nhóm 4 –K20 Đêm 6 Trang 16
The “advantage of latecomer” in abating air-pollution: The East Asian experience
Hình 4: Nồng độ TSP và mức thu nhập
Hình 2, 3, 4 thể hiện nồng độ SO
2
, NO
2
, và SPM trên thu nhập đầu người
của Nhật Bản ( các đường nối), các nước Đông Á( các điểm hình vuông) và các
nước phát triển ( các điểm hình tam giác) dựa trên quan điểm về “đi sau” có 2
khía cạnh:
+ Trong quan hệ các nước Đông Á và Nhật Bản thì Đông Á là nước đi sau
+ Trong quan hệ Nhật Bản và các nước phát triển phương Tây thì Nhật Bản là
nước đi sau. Nồng độ SO
2
của các nước Đông Á bằng với Nhật Bản mặc dù thu
nhập thấp hơn Nhật Bản. Tương tự NO
2
cũng xu hướng như vậy. Trung Quốc có

nghệ từ những quốc gia phát triển, nhưng chưa khẳng định có tồn tại hay không
lợi thế của nước đi sau, và những nhân tố nào thực sự tác động đến sự cải thiện ô
nhiễm môi trường không khí tại các quốc gia Đông Á. Hay như nghiên cứu truớc
của Gerchekrons (1962) chỉ ra tầm quan trọng của chuyển giao công nghệ như là
lợi thế của nước đi sau, nhưng không giải thích được động lực nào thúc đẩy
chuyển giao công nghệ đến những nước đang phát triển, bởi vì những công nghệ
mới đòi hỏi tăng thêm chi phí và đôi khi còn đối lập với chính sách phát triển
kinh tế.
Trong nghiên cứu này của tác giả Toru Iwami, tác giả đã giải quyết được
những hạn chế của những nghiên cứu kể trên.
Thứ nhất: Trong nghiên cứu này của tác giả Toru Iwami, tác giả đã chứng
minh được lý thuyết lợi thế nước đi sau giữa Nhật và các nuớc Đông Á. Những
quốc gia Đông Á, học hỏi kinh nghiệm từ những nước phát triển trước, bằng cách
Nhóm 4 –K20 Đêm 6 Trang 18
The “advantage of latecomer” in abating air-pollution: The East Asian experience
nỗ lực sử dụng năng lượng hiệu quả, mặc dù phát triển kinh tế nhanh chóng
nhưng đã thành công trong mức độ giảm thiểu phát thải SO
2
gây hại đến môi
trường không khí. Thành công này của những quốc gia Đông Á đã khẳng định
giả thiết về lợi thế của nước đi sau.
Thứ hai: tác giả Toru Iwami giải thích những nhân tố nào thực sự tác động
đến sự cải thiện ô nhiễm môi trường không khí tại các nước công nghiệp hóa sau
này. Đó là do phong trào đấu tranh của nhân dân, cải tiến kỹ thuật trong các công
ty và sử dụng năng lượng hiệu quả. Những đường môi trường Kutzne ( EKC)
chỉ ra mối quan hệ giữa thu nhập tính theo đầu người với một chỉ số môi trường,
theo đề tài này chỉ số môi trường là SO
2
. Theo bài nghiên cứu, giả thiết EKC
được phát biểu như sau: Chất lượng môi trường xấu đi khi mức thu nhập tăng

truờng hợp giữa Nhật và các quốc gia phương Tây, bao gổm cả Úc và New
Zealand. Khi so sánh mức độ ô nhiễm không khí giữa Nhật và các quốc gia
phương Tây, bao gổm cả Úc và New Zealand, thì ta thấy không hề có bằng
chứng rõ ràng nào về lợi thế của nước đi sau giữa Nhật và các quốc gia phương
Tây.
6.3 Đề xuất những đề tài nguyên cứu mới
Từ những hạn chế trên, chúng ta cần có những hướng nghiên cứu mới để làm
sáng tỏ những vấn đề còn tồn đọng của bài nghiên cứu này là:
1. Các chất ô nhiễm khác như CO
2
, bụi lơ lửng có cho kết quả tương tự như
trường hợp SO
2
nêu ra trong đề tài này tương ứng với mức tăng thu nhập bình
quân đầu người không ?
2. Nghiên cứu sự phát triển kinh tế tác động đến tình trạng ô nhiễm môi
trường hiện nay.
3. Nghiên cứu “lợi thế của Nhật” so với các nước Phương Tây trong việc cải
thiện ô nhiễm không khí.
Nhóm 4 –K20 Đêm 6 Trang 20
The “advantage of latecomer” in abating air-pollution: The East Asian experience
KẾT LUẬN
Qua phân tích, tìm hiểu đề tài nghiên cứu, Ta nhận thấy rằng: Các quốc gia
và đặt biệt là các quốc gia đang phát triển hiện nay đều quan tâm đến tình trạng ô
nhiễm môi trường và các phương pháp cải thiện ô nhiễm khi kinh tế ngày càng
phát triển, tốc độ công nghiệp hóa càng cao thì mức độ ô nhiễm càng lớn.
Trong bài nghiên cứu của tác giả Toru Iwami đã xác định rõ tình hình Nhật
Bản tích cực tham gia vào việc giảm bớt ô nhiễm không khí, thông qua các biện
pháp buộc chính quyền địa phương và trung ương đưa ra các chính sách về môi
trường, đồng thời thực hiện thành công trong việc chuyển đổi sang nhiên liệu có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status