TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
KHOA LÂM NGHIỆP
o0O0o
1
Bài giảng
TỔ CHỨC QUẢN LÝ
CÁC LOẠI RỪNG
Người biên soạn:
TS. Trần Minh Đức
Bộ môn QLTNR&MT
HUẾ, 2012
(Dùng cho Sinh viên chuyên ngành Quản lý Tài nguyên rừng và Môi trường)
1
MỞ ĐẦU
1. Mô tả môn học: Môn học Tổ chức quản lý các loại rừng (TCQLR) trang bị cho
học viên những kiến thức cơ bản về:
- Hệ thống phân loại rừng theo mục đích sử dụng tại Việt Nam.
- Vị trí, chức năng, vai trò của từng loại rừng.
- Các yếu tố gây tổn hại đến tài nguyên rừng và hướng kiểm soát.
- Hệ thống các biện pháp quản lý bảo vệ, phục hồi, phát triển rừng và các nguồn tài
nguyên khác có liên quan.
Nhằm bảo tồn và khai thác có hiệu quả và bền vững các giá trị nhiều mặt của
chúng, đáp ứng những nhu cầu và lợi ích chính đáng của con người (chủ rừng, địa
phương, đất nước, xã hội).
2. Mục tiêu: Sau khi học xong môn học này học viên có khả năng:
- Trang bị thêm cơ sở lý luận và kiến thức pháp luật để lĩnh hội được kiến thức của
các môn học khác có liên quan.
- Có kỹ năng và thái độ ứng xử cần thiết, vận dụng được những kiến thức đã học để
tìm hiểu, đánh giá được những vấn đề thực tiễn của công tác quản lý bảo vệ rừng
(QLBVR) trên địa bàn; Dự báo xu hướng và đề xuất được các biện pháp/giải pháp có
tính khoa học, phù hợp với thực tiễn để quản lý tài nguyên rừng (QLTNR) có hiệu
Điều tra rừng, Qui hoạch điều chế rừng, Quản lý nguồn nước, Quản lý dự án, Quản lý
doanh nghiệp lâm nghiệp…
3
3
Chương 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ
CÁCLOẠI RỪNG
Bài 1
MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ CÁC LOẠI RỪNG VÀ TCQLR
1. Khái niệm về các loại rừng
1.1.Khái niệm về rừng
Rừng là một quần xã sinh vật (QXSV), trong đó cây rừng (cây thân gỗ hoặc tre
nứa) chiếm ưu thế. QXSV phải có một diện tích đủ lớn và có mật độ cây nhất định để
giữa QXSV với môi trường, giữa các thành phần của QXSV có mối quan hệ hữu cơ,
hình thành nên một hệ sinh thái.
1.2. Hệ thống phân loại rừng .
Tùy theo quan điểm tiếp cận của từng học giả, trường phái, quốc gia hay giai đoạn
lịch sử mà tồn tại nhiều hệ thống phân loại rừng (PLR) khác nhau. Chẳng hạn như:
+ Phân loại rừng theo điều kiện tự nhiên, gồm có:
- PLR theo cấu trúc và ngoại mạo.
- PLR trên cơ sở sinh thái học.
- PLR theo động thái.
- PLR theo chỉ tiêu tổng hợp.
+ Phân loại rừng theo kỹ thuật: bao gồm các hệ thống phân loại nhằm phục vụ những
mục tiêu cụ thể như mục đích sử dụng, quy chế quản lý
- Theo nguồn gốc gồm có: Rừng tự nhiên/ Rừng trồng.
- Theo diễn thế: Rừng nguyên sinh / Rừng thứ sinh.
- Theo tài nguyên: Rừng giàu/ Rừng trung bình/ Rừng nghèo…
- Theo chủ thể quản lý: Rừng nhà nước/ Rừng tư nhân/ Rừng cộng đồng
- Theo chức năng /mục tiêu sử dụng có: Rừng phòng hộ/ Rừng đặc dụng /Rừng sản
Bảo vệ rừng (BVR) là một mặt hoạt động của QLR với các nội dung cụ thể là kiểm
tra, phát hiện, ngăn chặn, phòng chống những tác động bất lợi, không hợp lý vào tài
nguyên rừng và môi trường sinh thái rừng.
2.2. Nhiệm vụ của QLBVR là tác động hợp lý vào rừng và các đối tượng có liên quan
(tự nhiên, xã hội…) để đạt được hiệu quả cao nhất về giữ gìn, phát triển và khai thác
nguồn lợi nhiều mặt của rừng.
2.3. Mục tiêu của QLBVR là:
+ Đảm bảo năng suất các hệ sinh thái và sử dụng đầy đủ các nguồn tài nguyên.
+ Làm giảm đến mức thấp nhất những ảnh hưởng bất lợi đến rừng và môi trường.
+ Phòng chống ô nhiễm môi trường và hạn chế thiên tai.
+ Giảm và chấm dứt nạn mất rừng và các tài nguyên có ích khác.
+ Tăng cường bảo vệ, phục hồi và phát triển giới thực vật, động vật đặc biệt là các
loài quý hiếm và các loài đang có nguy cơ bị tiêu diệt (bảo tồn đa dạng sinh học).
5
5
•
Câu hỏi thảo luận bài 1:
Ngoài các loại rừng nêu trên, anh/chị còn nghe nói tới những loại rừng nào nữa?
Nếu có, thì theo anh/chị chúng thuộc vào loại hình hay hệ thống phân loại rừng nào?
2) Nêu các lý do phải QLBVR ?
GỢI Ý:
(1). Rừng là một công cụ bảo vệ môi trường sinh thái có hiệu quả nhất trước thảm họa suy
thoái môi trường và tài nguyên do sức ép của sự phát triển.
(2). Rừng chứa đựng nhiều tài nguyên đa dạng, có giá trị và tác dụng nhiều mặt.
(3) Bản thân rừng (và các nguồn TN, MT đi kèm) luôn hứng chịu nhiều sức ép lớn, bị suy
thoái và cạn kiệt nhanh chóng.
(4). Rừng và đất rừng ở nước ta chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu đất đai. Diện tích này
thường bị suy thoái, sa mạc hóa khi mất rừng. Rừng còn gắn liền với đời sống của khoảng
25 triệu người mà phần lớn là dân tộc thiểu số.
(5). Rừng có ân nghĩa với đất nước, con người VN; LÀ CHIẾC NÔI SINH RA NHÂN LOẠI,
1.2. Chủ rừng
(1)- Chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng, giao đất
hoặc cho thuê đất để trồng rừng.
(2)- Chủ rừng được Nhà nước công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu RSX là
rừng trồng, nhận rừng được chuyển nhượng từ chủ rừng khác.
(3)- Các loại hình chủ rừng được pháp luật công nhận:
+ Ban quản lý rừng (BQLR) phòng hộ/đặc dụng được Nhà nước giao đất, giao rừng.
+ Tổ chức kinh tế nhà nước (Nông/Lâm trường quốc doanh, xí nghiệp, công ty kinh
doanh lâm nghiệp ) được giao, cho thuê rừng, cho thuê đất để phát triển rừng.
+ Hộ gia đình, cá nhân được giao, cho thuê rừng /đất rừng để sản xuất, kinh doanh
rừng.
7
7
+ Đơn vị vũ trang nhân dân được giao đất để bảo vệ và phát triển rừng.
+ Tổ chức NCKH, phát triển công nghệ, đào tạo, dạy nghề LN được giao, thuê đất để
tổ chức các hoạt động chuyên môn liên quan đến rừng và nghề rừng
+ Người VN định cư ở nước ngoài đầu tư ở Việt Nam được giao, cho thuê rừng /đất
rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp.
+ Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư tại Việt Nam được thuê rừng, thuê đất
+ Cộng đồng (cộng đồng thôn bản và các hình thức khác đang được xem là các hình
thức cộng đồng như dòng họ, câu lạc bộ…). Cần chú ý cộng đồng là dạng chủ rừng
đặc biệt mới được thừa nhận và hiện còn bị hạn chế một số quyền trong sử dụng rừng
so với các loại hình chủ rừng khác nêu trên như quyền chuyển nhượng, quyền thế
chấp trong hoạt động kinh tế và phát triển rừng.
2. Nguyên tắc bảo vệ và phát triển rừng
(1)- Hoạt động bảo vệ và phát triển rừng (BVPTR) phải bảo đảm:
+ Phát triển bền vững (về KT-XH, môi trường, quốc phòng - an ninh)
+ Phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội, chiến lược phát triển LN
+ Đúng quy hoạch, kế hoạch BVPTR của quốc gia và địa phương
+ Tuân thủ quy chế QLR do Chính phủ quy định.
(2)- Nhà nước đầu tư cho các hoạt động:
+ Bảo vệ, phát triển RĐD, RPH, rừng giống quốc gia.
+ BV-PT các loài thực vật và động vật rừng nguy cấp, quý hiếm.
+ NC Khoa học, PT Công nghệ, đầu tư nguồn nhân lực cho việc BV và PTR.
+ XD hệ thống QLR hiện đại, thống kê/kiểm kê rừng, theo dõi diễn biến TNR.
+ Xây dựng lực lượng chữa cháy rừng chuyên ngành.
+ Đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật và trang bị phương tiện PCCCR, phòng trừ sinh vật
gây hại rừng (PTSVHR).
(3)- Nhà nước có chính sách hỗ trợ việc:
+ Bảo vệ và làm giàu rừng RSX là RTN nghèo, trồng rừng SX gỗ lớn, gỗ quý, cây đặc
sản.
+ Xây dựng cơ sở hạ tầng trong vùng nguyên liệu.
+ Có chính sách khuyến lâm và hỗ trợ nhân dân ở nơi có nhiều khó khăn trong việc
phát triển rừng, tổ chức SX, chế biến, tiêu thụ sản phẩm.
(4)- Nhà nước khuyến khích tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhận đất PTR ở những vùng
đất trống đồi núi trọc.
+ Ưu tiên phát triển trồng rừng nguyên liệu phục vụ các ngành kinh tế
+ Mở rộng các hình thức cho thuê, đấu thầu đất để trồng rừng.
+ Miễn/giảm thuế đối với người trồng rừng. Được vay vốn trồng rừng với lãi suất ưu
đãi, thời gian vay phù hợp với chu kỳ kinh doanh từng loại cây trồng và từng vùng
sinh thái.
(5)- Nhà nước có chính sách phát triển thị trường lâm sản, khuyến khích hộ gia đình,
tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển công nghiệp chế biến LS, làng nghề CBLS
(6)- Nhà nước khuyến khích việc bảo hiểm rừng trồng và một số hoạt động SXLN.
4. Những hành vi có liên quan đến rừng bị nghiêm cấm
(1)- Chặt phá rừng, khai thác rừng trái phép.
(2)- Săn, bắn, bắt, bẫy, nuôi nhốt, giết mổ động vật (ĐVR) rừng trái phép.
(3)- Thu thập mẫu vật rừng trái phép.
(4)- Hủy hoại trái phép tài nguyên rừng (TNR), hệ sinh thái rừng (HSTR).
9
trường: nước sinh hoạt, thủy lợi, thủy điện, mua bán phát thải khí CO
2
, ).
Hộp 1 : Một số nội dung có liên quan đến cơ chế huy động nguồn vốn của Kế hoạch bảo vệ
và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020
Theo Quyết định 57/2012/QĐ-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2012 về Phê duyệt Kế hoạch bảo vệ
và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 (Kế hoạch này được thực hiện theo Quy chế quản lý,
điều hành thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia):
+ Về nhu cầu vốn và cơ chế huy động các nguồn vốn
a) Tổng nhu cầu vốn cả giai đoạn 2011 - 2020 là 49.317 tỷ đồng, trong đó: Vốn ngân sách:
14.067 tỷ đồng, chiếm 29% tổng nhu cầu vốn, bình quân mỗi năm 1.407 tỷ đồng; vốn ngoài
10
10
ngân sách: 35.250 tỷ đồng, chiếm 71% tổng nhu cầu vốn, bình quân mỗi năm 3.500 tỷ đồng,
chủ yếu chi cho trồng rừng sản xuất và bảo vệ rừng.
Giai đoạn 2011 - 2015: Tổng nhu cầu vốn là 24.562 tỷ đồng, trong đó: Vốn ngân sách: 8.062 tỷ
đồng (chiếm 33%), bình quân mỗi năm 1.612 tỷ đồng; vốn vay và các nguồn vốn khác đầu tư
trồng rừng sản xuất: 16.500 tỷ đồng (chiếm 67%). Vốn ngân sách chi đầu tư phát triển (trồng,
chăm sóc, hạ tầng lâm sinh, …) chiếm 5.512 tỷ đồng, bình quân mỗi năm 1.102 tỷ đồng; vốn sự
nghiệp kinh tế (khoán bảo vệ rừng và khoanh nuôi tái sinh): 2.550 tỷ đồng, bình quân mỗi năm
510 tỷ đồng.
Trong 2 năm 2011 - 2012, ngân sách nhà nước đã bố trí 1.925 tỷ đồng (715 tỷ đồng năm 2011
và 1.210 tỷ đồng năm 2012). Nhu cầu vốn ngân sách 3 năm (2013 - 2015) là 6.137 tỷ đồng,
bình quân mỗi năm 2.045 tỷ đồng.
b) Cơ chế huy động các nguồn vốn
- Lồng ghép kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chương
trình, dự án khác trên cùng địa bàn để nâng cao hiệu quả tổng hợp về kinh tế - xã hội, bảo vệ
môi trường, bảo đảm an ninh, quốc phòng;
- Vốn đầu tư phát triển từ ngân sách trung ương tập trung cho các dự án trồng rừng phòng
hộ quy mô lớn, các vườn quốc gia, các dự án ở địa bàn các huyện theo Nghị quyết số
(3)- Mọi tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng
theo quy định của pháp luật. Mọi hành vi xâm hại đến rừng đều bị xử lý theo luật
định.
Hộp 2 : Một số nội dung có liên quan đến tổ chức quản lí các loại rừng của Kế hoạch bảo
vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020
Theo Quyết định 57/2012/QĐ-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2012 về Phê duyệt Kế hoạch bảo vệ
và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 (Kế hoạch này được thực hiện theo Quy chế quản lý,
điều hành thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia):
+ Về quản lý quy hoạch và đất lâm nghiệp
a) Tổ chức rà soát quy hoạch ổn định đối với 16.245.000 ha rừng và đất lâm nghiệp (trong đó:
Đất rừng đặc dụng 2.271.000 ha, đất rừng phòng hộ 5.842.000 ha và đất rừng sản xuất
8.132.000 ha), quản lý quy hoạch thống nhất trên cơ sở thiết lập lâm phận quốc gia ổn định
theo hệ thống tiểu khu, khoảnh, lô trên bản đồ và cắm mốc ranh giới ba loại rừng trên thực địa.
b) Quản lý chặt chẽ, điều chỉnh kịp thời những bất hợp lý quy hoạch 3 loại rừng; đẩy mạnh việc
giao rừng ổn định lâu dài cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình; các tổ chức của Nhà nước
trực tiếp quản lý khoảng 50% tổng diện tích rừng, bao gồm toàn bộ diện tích rừng đặc dụng,
65% diện tích rừng phòng hộ và 30% diện tích rừng sản xuất.
c) Quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến và thương mại lâm sản gắn với xây dựng các
vùng trồng rừng nguyên liệu công nghiệp tập trung. Chú trọng quy hoạch phát triển các làng
nghề sản xuất, chế biến lâm sản, phát triển các trang trại lâm nghiệp. Không quy hoạch các cơ
sở chế biến, xưởng xẻ ở trong và gần rừng đặc dụng, phòng hộ.
d) Ngân sách nhà nước đảm bảo cho tổng điều tra, kiểm kê rừng.
+ Về bảo vệ rừng
a) Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa lâm nghiệp theo phương châm bảo vệ rừng là trách nhiệm của
mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.
b) Củng cố và xây dựng lực lượng bảo vệ rừng từ trung ương đến cơ sở và của chủ rừng; tăng
quyền hạn và trách nhiệm pháp lý của lực lượng kiểm lâm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng
và thừa hành pháp luật.
c) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bảo vệ và phát triển
rừng; xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
tỉnh quyết định thành lập các khu rừng phòng hộ.
c). Đối với RSX là rừng tự nhiên: Căn cứ quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt, UBND cấp tỉnh quyết định chủ trương về việc giao đất, cho thuê đất theo quy
định của Luật Đất đai để các TC, HGĐ, CN sản xuất lâm, nông nghiệp.
8. Thẩm quyền phê duyệt các dự án đầu tư, thay đổi mục đích sử dụng 3 loại rừng
và chuyển hạng các khu rừng đặc dụng
(1)- Cơ quan có thẩm quyền về tổ chức quản lý 3 loại rừng (như đã nêu) cũng là cơ
quan có thẩm quyền phê duyệt dự án đầu tư, phương án hoặc kế hoạch quản lý bảo vệ và
phát triển rừng có mức vốn đầu tư theo quy định của pháp luật.
(2)- Cơ quan có thẩm quyền như đã phân cấp, có thẩm quyền quyết định chuyển đổi
mục đích sử dụng trong 3 loại rừng nhưng phải có sự đồng ý bằng văn bản của các
Bộ/Ngành có liên quan.
(3)- Trường hợp thay đổi mục đích sử dụng 3 loại rừng nói trên vào mục đích sử dụng
khác (ngoài mục đích lâm nghiệp) phải thực hiện theo Luật Đất đai và Luật BVPTR.
(4)- Việc chuyển hạng các khu RĐD (từ Khu BTTN, Khu rừng VH-LS-MT thành
VQG và ngược lại):
a). Đối với các khu RĐD thuộc TW quản lý, Bộ chủ quản trình Chính phủ quyết định.
b). Những khu rừng thuộc cấp tỉnh quản lý, UBND cấp tỉnh trình Chính phủ quyết định
trên cơ sở thẩm định của Bộ NNPTNT.
9. Phân chia, xác định ranh giới 3 loại rừng
RĐD, RPH, RSX phải được xác định ranh giới rõ ràng trên bản đồ và trên thực địa
bằng hệ thống tọa độ địa lý, mốc, bảng chỉ dẫn và lập hồ sơ thống kê theo dõi chặt chẽ.
13
13
Để thuận lợi cho việc quản lý, các loại rừng được phân chia thành các đơn vị diện tích
theo thực địa như sau:
a). Tiểu khu: là đơn vị cơ bản để QLR.
Diện tích trung bình của tiểu khu là 1.000 ha; Thứ tự tiểu khu được ghi bằng chữ số Ả
Rập trong phạm vi của từng tỉnh: từ tiểu khu số 1 đến tiểu khu cuối cùng (ví dụ: Tiểu
khu 1, Tiểu khu 2 ), tên tiểu khu có thể kèm chữ viết tắt để chỉ loại rừng (ví dụ:
1. Lịch sử hình thành và phát triển ngành Lâm nghiệp ở Việt Nam
1.1. Dưới chế độ Phong kiến,
Nằm trong cơ cấu ngành nghề truyền thống “Canh, Tiều, Ngư, Mục” có lẽ đã hình
thành từ buổi bình minh dựng nước, nghề rừng (Tiều) với hình ảnh người đàn ông đốn
củi hay khai thác lâm sản đã đi vào thơ ca, chuyện cổ trong kí ức của nhiều thế hệ người
dân Việt Nam (truyện Thạch Sanh, rồi những người tiều phu - «lom khom dưới núi tiều
vài chú » - trong thi phẩm Qua Đèo Ngang của bà Huyện Thanh Quan)…
Dưới thời phong kiến do tài nguyên còn khá dồi dào, phong phú, nhu cầu sử dụng
chưa lớn nên trong sử sách chưa nói đến sự phân chia các loại rừng hay trồng rừng.
Quản lý TNR chủ yếu dựa trên chính sách thuế đối với các loại lâm đặc sản như: sừng tê
giác, ngà voi, các loại hương liệu, gỗ và hoa quả (Phan Huy Chú, "Lịch triều Hiến
chương loại chí") hay mật ong, sừng hươu, cánh kiến, kỳ nam, trầm hương ("Đại Nam
hội điển"), việc khai thác và vận chuyển vỏ quế
Xuất phát từ nhu cầu thưởng ngoạn và săn bắn của hoàng gia, một số khu rừng có vị
trí và cảnh quan đặc biệt (như núi Ngự Bình, đồi Vọng Cảnh, núi Kim Phụng, núi Bân ở
Huế) đã được lựa chọn để quy hoạch, tôn tạo và một số khu vườn thượng uyển được xây
dựng để sưu tập các loài cây, con quý hiếm trong và ngoài nước. Tại các nơi có vị trí
quan trọng về uy quyền, tâm linh hay xung yếu triều đình nhà Nguyễn cũng đã cho trồng
một số loài cây tạo cảnh quan và mang tính biểu tượng cao như Dừa (ở cửa Thuận An),
Thông (ở đàn Nam Giao, Văn Thánh, các lăng tẩm ), Ngô đồng, Đại (Đại Nội), Bàng
(Võ Thánh), Mù u (Xã Tắc) [ "Văn Thánh trồng Thông, Võ Thánh trồng Bàng/ Ngó về
Xã Tắc hai hàng Mù u."- Ca Dao Huế]. Triều đình còn quy định: mỗi quan lại khi được
sắc phong phẩm, hàm phải trồng ít nhất một cây Thông tại khu vực đàn Nam Giao hay
Núi Ngự Bình và được gắn một thẻ bằng đá khắc tên người trồng cây.
Thời kỳ thuộc Pháp (Trước 1945)
Nhiều địa điểm nghỉ mát nổi tiếng đã được phát hiện và xây dựng phục vụ nhu cầu
nghỉ dưỡng của bộ máy đô hộ và thống trị đương thời (như Đà Lạt, Sa Pa, Tam Đảo, Ba
Vì, Bạch Mã, Bà Nà ), cảnh quan ở đây được bảo vệ tốt và cũng là tiền đề cho nhiều
khu rừng đặc dụng sau này. Về TCQLR, từ năm 1859 các chế độ, thể lệ, chính sách lâm
nghiệp đã được người Pháp xây dựng, sau đó được bổ sung và chỉnh sửa; Đến năm
hiện:
(1)- Về quyền sở hữu: Sở hữu đất đai và rừng là của toàn dân do Nhà nước quàn lý.
(2)- Về bảo vệ rừng: Có các quy định về bảo vệ rừng, các hoạt động không được phép
trong khai thác, vận chuyển, chế biến gỗ và lâm sản, làm nương rẫy; trách nhiệm về tài
chính và các hình thức xử phạt vi phạm.
(3)- Về trồng cây gây rừng: Quy định về việc sử dụng đất để trồng rừng, về phân phối
đất đai, hướng dẫn kỹ thuật gieo trồng, chuẩn bị và cung ứng cây giống và chính sách
hưởng lợi.
(4)- Chính sách thu tiền bán khoán lâm sản: Quy định người khai thác rừng phải nộp
cho nhà nước một khoản tiền; quy định về cách tính giá bán, thể thức thu nộp, đối tượng
miễn giảm và cách phân phối nguồn thu.
(5)- Về lưu thông và xuất nhập khẩu lâm sản: Từ năm năm 1948 đã có những hoạt
động buôn bán lâm sản giữa vùng tự do và vùng tạm chiếm và từ 1952 là những họat
động buôn bán giữa Việt Nam và Trung Quốc; từ đó đã có những quy định về vấn đề
này.
16
16
1.4. Từ sau Hoà bình lập lại đến Thống nhất đất nước (1955-1975)
Trên bình diện toàn Miền Bắc, rừng trở thành công trường lớn khai thác gỗ/ lâm sản
phục vụ xây dựng, phục hồi và phát triển kinh tế. Ngoài ra rừng còn là đối tượng khai
hoang mở rộng đất canh tác nông nghiệp theo chính sách di dân làm kinh tế mới ở vùng
đồi núi.
Về tổ chức: Quốc hội khóa II, kỳ họp thứ nhất ngày 14/7/1960 quy định thành lập
Tổng cục Lâm nghiệp trực thuộc hội đồng Chính phủ. Ngày 29/9/1960, Hội đồng chính
phủ đã ban hành Nghị định 140/CP quy định quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục
Lâm nghiệp.
Về quyền sở hữu, Nhà nước thực hiện chế độ công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu, trong
đó có đất đai, tài nguyên rừng. Theo đó chính sách lâm nghiệp tập trung vào việc Nhà
nước quản lý, chỉ đạo, điều hành mọi hoạt động về lâm nghiệp.
Văn bản Pháp luật cao nhất trong thời kỳ này là "Pháp lệnh quy định việc bảo vệ
gỗ và lâm sản nên rừng trồng có tỷ lệ thành rừng thấp, rừng tự nhiên giảm sút cả về chất
lượng lẫn chất lượng.
(4)- Về sử dụng rừng: Rừng được chia làm hai loại là rừng bảo vệ và rừng khai thác
(NĐ 596/TTg/1955). Rừng khai thác có "rừng đóng" và "rừng mở"; "rừng đóng" không
được khai thác, "rừng mở" cho nhân dân khai thác nhưng phải xin phép, khi khai thác
phải thực hiện đúng hướng dẫn và nộp cho Chính phủ tiền bán khoán lâm sản, sau này
gọi là tiền nuôi rừng (NĐLB 08/CN-TC/NĐ/1954, QĐ 88/HĐBT/1981).
(5)- Về lưu thông phân phối gỗ: Gỗ là một trong 13 loại vật tư do Nhà nước phân phối
theo kế hoạch (NĐ 1038/TTg/1956), không được phép tự do mua bán trên thị trường,
mọi nhu cầu về gỗ của các cơ quan và của nhân dân do Nhà nước bán theo chế độ phân
phối, giá bán gỗ và lâm sản cũng do Nhà nước quy định và áp dụng thống nhất trên toàn
Miền Bắc (NĐLB 08/CN-TC/NĐ/1954, QĐ 17/CP/1972).
(6)- Về bảo vệ rừng: Trước khi có "Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng", Hội đồng
Chính phủ đã ban hành các quy định về bảo vệ rừng như PCCCR; săn bắt chim thú rừng;
khai thác lâm sản (NĐ 211/CT ngày 29/12/1961 của Hội đồng Chính phủ về Phòng cháy
và chữa cháy rừng; CT 134/TTg/1960; NĐ 39/CP/1963.)
Pháp lệnh BVR (1972) là căn cứ pháp lý quan trọng cho việc QLBVR trong thời kỳ
này vừa là cơ sở cho việc xây dựng Luật Bảo vệ &PTR sau này (1991; 2004). Pháp lệnh
BVR (1972) còn là cơ sở pháp lí cho việc ra đời hệ thống tổ chức QLBVR chuyên trách
trên phạm vi cả nước (lực lượng Kiểm lâm được thành lập vào ngày 21 tháng 5/1973).
1.5. Thời kỳ trước đổi mới (1976-1985):
Thời kỳ này cả nước thực hiện theo cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa, tập trung,
bao cấp. Nông nghiệp mà trong đó sản xuất lương thực được xác định là mặt trận hàng
đầu đã góp phần tạo ra những áp lực lớn cho tài nguyên rừng.
Về cơ bản, cũng như thời kỳ trước, mọi hoạt động lâm nghiệp vẫn được hoạt động
theo một kế hoạch chung thống nhất.Cơ quan nhà nước về lâm nghiệp vẫn tập trung (ôm
đồm) quá nhiều chức năng, quyền hạn và nhiệm vụ.
Về tổ chức quản lý rừng: Một điểm đáng lưu ý là Nhà nước không cho lực lượng tư
nhân tham gia trong hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) lâm nghiệp mà việc này
được thực hiện chủ yếu dựa vào các lâm trường quốc doanh (LTQD) và hợp tác xã
-nông kết hợp, kinh doanh lợi dụng tổng hợp TNR; từ một nền lâm nghiệp nhà nước
(quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, lấy quốc doanh làm chủ lực) sang
một nền lâm nghiệp xã hội, sản xuất hàng hóa dựa trên cơ cấu kinh tế nhiều thành
phần, lấy hộ nông dân làm đơn vị kinh tế tự chủ, lực lượng quốc doanh giữ vai trò
chủ đạo. Sự chuyển hướng về LN nêu trên được thể hiện qua các Luật, văn bản dưới
luật.
(1)- Các bộ luật có liên quan đến lâm nghiệp:
Cùng với Luật BV&PTR (1991, 2004), nhiều bộ luật có liên quan đến LN đã được
ban hành: Luật Đất đai (1993, 1997, 2001, 2003); Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh
nghiệp Nhà nước, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (1998), Luật Bảo vệ môi trường
(1995), Luật Tài nguyên nước (1998), Luật Phòng cháy, chữa cháy (2001), Luật Đa dạng
sinh học (2008); các bộ Luật về Thuế, Luật Lao động (1994, 2002)
(2)- Các chính sách có liên quan đến lâm nghiệp:
Các chính sách về LN đã được ban hành khá đầy đủ trên nhiều lĩnh vực:
i- Chuyển từ khai thác, lợi dụng tài nguyên sang bảo vệ và phát triển vốn rừng
+ Quản lý, bảo vệ rừng:
+ Xây dựng rừng:
+ Sử dụng rừng:
19
19
Hình 01. Sơ đồ cơ cấu tổ chức ngành Lâm nghiệp (từ 2010)
* Những tồn tại và hạn chế trong phát triển LN:
20
'. /01234
'. /!5
!
"
#
$
6
7
,
-
+
CÁC CHỦ RỪNG KHÁC
(ngoài quốc doanh)
20
(1). Trong thời gian dài (1960-2002), ngành LN không có Chiến lược phát triển
dài hạn nên gặp khó khăn về đầu tư, tổ chức các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng;
(2). Quy hoạch SDĐ ở cấp vĩ mô chưa ổn định trong nhiều năm;
(3). TNR liên tục suy giảm về diện tích và chất lượng (đặc biệt là RTN và ở giai
đoạn 1976-1990);
(4). Nguồn lực tài chính hạn hẹp so với nhu cầu đầu tư phát triển;
21
21
3. Hãy tìm hiểu và vẽ sơ đồ tổ chức ngành lâm nghiệp tương ứng với các mốc thời
gian sau đây: a. 1960; b. 1980, c. 2000, d. 2006 e. từ 2006-2009 và. hiện nay (từ
2010).
22
22
Chương 2.
TỔ CHỨC QUẢN LÝ RỪNG PHÒNG HỘ
Bài 4
CƠ SỞ VÀ NHỮNG BIỆN PHÁP CHỦ YẾU TRONG TỔ CHỨC QUẢN
LÝ RỪNG PHÒNG HỘ
1. Những cơ sở của hoạt động QLBV RPH
1.1. Cơ sở pháp lý
Trên cơ sở nhận thức được chức năng và vai trò to lớn của RPH, Nhà nước ta đã có
nhiều văn bản pháp quy tạo thành hành lang pháp lý bảo đảm cho việc thực thi công tác
QLBV các loại rừng trong đó có rừng phòng hộ. Điển hình là:
- Pháp lệnh Bảo vệ rừng (1972)
- Luật Bảo vệ và phát triển rừng (1991, 2004)
- Quyết định 245/1998/QĐ-TTg, ngày 25 tháng 11 năm 1998 của Thủ tướng Chính
phủ về việc Quy định trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm
nghiệp.
- Quyết định 08/2004/QĐ-TTg, ngày 11 tháng 01 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ
về việc ban hành Quy chế quản lý RĐD/RPH/RSX là rừng tự nhiên.
- Quyết định 178/2001/ QĐTTg, ngày 12 tháng 11 năm 2001 của Thủ tướng Chính
phủ về Quyển hưởng lợi, nghĩa vụ của HGĐ, TC, CN được giao được thuê, nhận
khoán rừng và đất lâm nghiệp.
- Chỉ thị 12/2003/CT-TTg, ngày 16 tháng 5 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về
việc tăng cường các biện pháp cấp bách về bảo vệ và PTR.
- Quyết định 199 của Bộ trưởng Bộ NN-PTNN, ngày 22-11-2002 về Phê duyệt Chiến
+ Khai hoang lấy đất sản xuất nông nghiệp (nương rẫy trồng cây lương thực, cây công
nghiệp )
+ Trồng rừng kinh tế (bằng các loài cây nhập nội mọc nhanh, khai thác đồng loạt )
+ Khai thác khoáng sản (vàng, đá quý, quặng, vật liệu xây dựng, than đá, than bùn,
titan )
+ Xây dựng các công trình lớn (thủy lợi, thủy điện, đường giao thông )
+ Xây dựng cơ sở hạ tầng và các khu dân cư mới
+ Chăn nuôi đại gia súc (chăn thả và tạo đồng cỏ chăn nuôi)
+ Nuôi trồng thủy sản (ở vùng rừng ngập mặn và trên vùng cát ven biển)
+ Gây ô nhiễm môi trường từ các chất thải sản xuất và sinh hoạt
+ Gây cháy rừng và các vấn đề khác (xung đột vũ trang )
* Các nguyên nhân chính:
+ Do dân số tăng quá nhanh trong khi mức sống và sinh kế còn rất thấp
+ Nhu cầu cao về đất canh tác và lương thực tại chỗ
+ Trình độ học vấn thấp, phong tục lạc hậu dẫn đến nhận thức kém
+ Kỷ cương, pháp luật còn bị buông lỏng ở nhiều nơi, nhiều lúc
+ Nạn du canh, du cư, di dân tự phát hoặc thiếu quy hoạch/kế hoạch
+ Nhu cầu về phát triển của nhiều ngành KT và VH ngày càng tăng
+ Sức ép quá lớn của thị trường, đặc biệt là thị trường lâm sản
24
24
+ Tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa tăng nhanh hơn khả năng kiểm soát môi
trường, và:
+ Sự bất ổn về chính trị, xã hội (xung đột, tệ nạn xã hội, tình trạng vô chính phủ )
1.2.2. Cơ sở thực tiễn:
Dễ dàng thấy: nhiều vùng rừng đóng vai trò phòng hộ xung yếu ở nước ta bị suy thoái
nghiêm trọng. Điển hình là:
* Vùng Tây Bắc : Tây Bắc trước đây vốn được xem là nơi có cảnh quan hùng vĩ, rừng
núi điệp trùng với nhiều sản vật quý báu (ngà voi, sừng tê giác, xạ hươu, mật gấu, xương
hổ ) và đặc biệt là nguồn nước dồi dào cho nhiều con sông lớn ở Bắc bộ và Thanh Hóa.
25