MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài
Ngày nay, trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự
quản lý của Nhà nước, việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm các nguồn lực cùng với
việc hạ thấp giá thành sản phẩm là mục tiêu sống còn của các doanh nghiệp
Việt Nam. Vì vậy, bất kỳ một doanh nghiệp nào đều coi trọng, quan tâm hàng
đầu đến công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Hạch
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tốt không những trực tiếp
mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp mà còn gián tiếp tạo ra lợi ích vật
chất cho xã hội trong việc quản lý các doanh nghiệp như cơ quan thuế.
Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là khâu quan
trọng và phức tạp nhất trong toàn bộ công tác kế toán của mỗi doanh nghiệp.
Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phản ánh và giám đốc
toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm còn là tấm
gương phản chiếu toàn bộ bộ máy tổ chức, trình độ quản lý và công nghệ mà
một doanh nghiệp đã và đang tiến hành trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang hội nhập với nền kinh tế thế giới,
bên cạnh nhiều ngành sản xuất vật chất quan trọng khác thì ngành xây dựng là
một ngành sản xuất vật chất có vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nước ta.
Sản phẩm xây lắp là cơ sở hạ tầng, là huyết mạch của nền kinh tế, là điều kiện
tiền đề để phát triển các ngành kinh tế khác và thu hút vốn đầu tư nước ngoài
nên hàng năm tổng mức đầu tư xây dựng công trình của ngành sản xuất xây
lắp chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng Ngân sách Nhà Nước. Để sản xuất ra
sản phẩm xây lắp thì ngành xây dựng cũng phải hao phí các chi phí và kết
tinh trong sản phẩm. Thực tế tại các doanh nghiệp xây lắp hiện nay, việc quản
lý chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp còn nhiều điểm bất cập cần phải
1
khắc phục như công tác quản lý chi phí còn yếu kém, giá thành của sản phẩm
xây lắp chưa phản ánh đúng với thực tế phát sinh. Vì vậy, việc hạch toán các
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp một cách chính xác, đầy
đồng thời luận văn kết hợp lý luận khoa học chuyên ngành kế toán- kiểm toán
để giải quyết nhiệm vụ.
5. Những đóng góp của luận văn
Hệ thống hoá cơ sở lý luận hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm
Phân tích, đánh giá thực trạng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp thuộc Tổng công ty cổ phần
xây dựng Thanh Hoá
Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện hạch toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ
lục, luận văn gồm có 3 chương.
Chương I: Những lý luận cơ bản về Hạch toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp.
Chương II: Thực trạng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp tại các doanh nghiệp hạch toán độc lập thuộc Tổng Công Ty Cổ
Phần Xây Dựng Thanh Hoá.
Chương III: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hạch toán chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại các doanh nghiệp hạch toán
độc lập thuộc Tổng Công Ty Cổ Phần Xây Dựng Thanh Hoá.
3
CHƯƠNG I
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT
VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG
DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh xây lắp ảnh hưởng tới kế toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất
công nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân.
sản xuất ra sản phẩm xây lắp khác với sản phẩm của các loại hàng hoá khác ở
chỗ: sản xuất ra sản phẩm xây lắp gồm hai chiều: chủ đầu tư đặt hàng cho bên
thi công, sau đó bên thi công dựa trên thiết kế kỹ thuật để sản xuất sản phẩm
và sản phẩm được chấp thuận khi chủ đầu tư tiến hành nghiệm thu, trong quá
trình sản xuất sản phẩm giá trị hoặc kết cấu sản phẩm có thể bị thay đổi, lợi
ích thu được từ việc sản xuất ra sản phẩm xây lắp phù thuộc vào rất nhiều vào
cách tổ chức, quản lý của bên thi công. Do sản phẩm xây lắp mang tính đơn
chiếc nên chi phí bỏ vào sản xuất thi công cũng hoàn toàn khác nhau giữa các
công trình. Còn sản xuất ra sản phẩm của các loại hàng hoá khác là quá trình
một chiều: sản phẩm được sản xuất ra hàng loạt được bán cho người tiêu
dùng, người tiêu có thể tiếp cận trực tiếp được bằng trực giác, lợi ích thu được
từ việc bán sản phẩm đã được người sản xuất tính vào giá trị của sản phẩm.
- Các công trình xây dựng cơ bản thường có thời gian thi công rất dài,
có công trình phải xây dựng hàng chục năm mới xong. Trong thời gian sản
xuất thi công xây dựng, chưa tạo ra sản phẩm cho xã hội nhưng lại sử dụng
nhiều vật tư, nhân lực của xã hội. Do đó khi sản xuất thi công xây dựng, đơn
5
vị thi công cần lập kế hoạch xây dựng về vật tư, tiền vốn, thuê nhân công để
đảm bảo sử dụng vốn tiết kiệm, hoàn thành tiến độ thi công, bảo đảm kỹ mỹ
thuật cho công trình.
Do thời gian thi công tương đối dài nên kỳ tính giá thành thường
không xác định hàng tháng, hàng quý như trong sản xuất công nghiệp mà
được xác định theo thời điểm thi công hạng mục công trình hoàn thành hay
thực hiện bàn giao thanh toán theo giai đoạn quy ước giữa chủ đầu tư và nhà
thầu.
- Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất (
nguồn nhân lực, vật tư, thiết bị thi công…) phải di chuyển theo địa điểm sản
xuất sản phẩm. Đặc điểm này làm cho công tác quản lý sử dụng, hạch toán tài
sản vật tư rất phức tạp, mất nhiều chi phí và dễ mất mát hư hỏng. Vì vậy, các
doanh nghiệp xây lắp thường thuê lực lượng lao động tại chỗ, nơi thi công
sinh trong quá trình sản xuất có liên quan tới khối lượng xây lắp trong một
thời kỳ nhất định.
Phân loại chi phí sản xuất.
Dưới các góc độ xem xét khác nhau, theo những tiêu chí khác nhau thì
chi phí sản xuất cũng được phân thành nhiều loại, nhiều khoản khác nhau về
cả nội dung, tính chất, công dụng, vai trò, vị trí…để đáp ứng mục đích, yêu
cầu của quản lý và hạch toán sao cho thuận lợi.
Đối với việc quản lý chi phí sản xuất trong ngành kinh doanh xây dựng
cũng vậy không chỉ đơn thuần là quản lý số liệu phản ánh tổng hợp chi phí mà
phải dựa trên cả các yếu tố chi phí riêng biệt để phân tích toàn bộ chi phí sản
xuất của từng công trình, hạng mục công trình hay theo nơi phát sinh chi phí.
Thông thường chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được phân
loại theo các tiêu thức sau đây:
7
- Phân loại chi phí theo khoản mục chi phí trong giá thành sản
phẩm
Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận
tiện cho việc tính giá thành toàn bộ, chi phí được phân theo khoản mục. Cách
phân loại này dựa vào công dụng chung của chi phí và mức phân bổ chi phí
cho từng đối tượng. Theo quy định hiện hành, giá thành sản phẩm bao gồm
các khoản mục chi phí sau:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm giá trị thực tế của nguyên
liệu, vật liệu chính, phụ hoặc các bộ phận rời, vật liệu luân chuyển tham gia
cấu thành thực thể sẩn phẩm xây lắp và giúp cho việc thực hiện và hoàn thành
khối lượng xây lắp( không kể vật liệu cho máy móc thi công và hoạt động sản
xuất chung.)
Vật liệu xây dựng: cát, đá, sỏi, sắt, thép, xi măng…
Vật liệu khác: bột màu, đinh, dây,…
Nhiên liệu: than củi dùng để nấu nhựa rải đường…
Vật kết cấu: bê tông đúc sẵn
sử dụng thưc stế máy móc thi công trong kỳ) Trường hợp này phải tiến hành
trích trước chi phí ( hạch toán trên TK 335)
Chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung là các chi phí có tính
chất chung cho hoạt động xây lắp gắn liền với từng doanh nghiệp thi công.
Chi phí sản xuất chung gồm các khoản chi phí như sau:
+ Chi phí nhân viên phân xưởng: gồm tn lương chính, lương phụ, phụ
cấp lương, phụ cấp lưu động phải trả cho nhân viên quản lý xây dựng, các
khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ được tính theo tỷ lệ quy định hiện hành
9
trên tiền lương phải trả của công nhân trực tiếp xây lắp, nhân viên sử dụng
máy thi công và nhân viên quản lý đội thuộc biên chế của doanh nghiệp.
+ Chi phí về tiền công vận chuyển vật liệu ngoài cự ly thi công do mặt
bằng thi công chật hẹp, ô tô khó vận chuyển thẳng đến chân công trình. Công
tát nước, vét bùn khi trời mưa…
+ Chi phí vật liệu gồm chi phí vật liệu cho đội xây dựng như vật liệu
dùng để sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ, công cụ dụng cụ thuộc đội xây dựng
quản lý và sử dụng, chi phí lán trại tạm thời.
Trường hợp vật liệu mua ngoài xuất thẳng cho đội xây dựng, nếu doanh
nghiệp được khấu trừ thuế thì chi phí vật liệu không bao gồm thuế giá trị gia
tăng đầu vào.
+ Chi phí dụng cụ sản xuất xây lắp: gồm các chi phí về công cụ dụng
cụ dùng cho thi công như cuốc xẻng, dụng cụ cầm tay, xe đảy, đà giáo, ván
khuôn và các loại công cụ dụng cụ khác dùng cho sản xuất và quản lý của đội
xây dựng. Chi phí dụng cụ sản xuất xây lắp không gồm thuế giá trị gia tăng
đầu vào nếu doanh nghiệp tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu
trừ thuế.
+ Chi phí khấu hao TSCĐ gồm chi phí khấu hao TSCĐ dùng chung
cho hoạt động của đội xây dựng.
Trong trường hợp doanh nghiệp tổ chức thi công hỗn hợp vừa bằng thủ
công vừa bằng máy, khoản chi phí khấu hao máy móc thi công được tính vào
Theo các phân loại này chi phí được phân loại theo cách ứng xử của chi
phí hay là xem xét sự biến động của chi phí khi mức độ hoạt động thay đổi.
Chi phí được phân thành 3 loại.
11
Biến phí: là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với khối lượng
công việc hoàn thành, thường bao gồm: chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân
công, chi phí bao bì, …Biến phí trên một đơn vị sản phẩm luôn là một mức ổn
định
Định phí: là những khoản chi phí cố định khi khối lượng công việc
hoàn thành thay đổi. Tuy nhiên, nếu tính trên một đơn vị sản phẩm thì định
phí lại biến đổi. Định phí thường bao gồm: chi phí khấu hao TSCĐ sử dụng
chung, tiền lương nhân viên, cán bộ quản lý,…
Hỗn hợp phí: là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố biến phí
và định phí. Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thể hiện các đặc
điểm của định phí, quá mức đó nó lại thể hiện đặc tính của biến phí. Hỗn hợp
phí thường bao gồm: chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng, chi phí quản lý
doanh nghiệp…
Cách phân loại trên giúp doanh nghiệp có cơ sở để lập kế hoạch,
kiểm tra chi phí, xác định điểm hoà vốn, phân tích tình hình tiết kiệm chi phí,
tìm ra phương hướng nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm
- Phân loại chi phí theo lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp
Theo lĩnh vực kinh doanh các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất
– kinh doanh của doanh nghiệp gồm:
Chi phí sản xuất: gồm những chi phí liên quan đến việc chế tạo sản
phẩm hoặc thực hiện các công việc dịch vụ trong phạm vi phân xưởng
Chi phí bán hàng: là những chi phí phát sinh liên quan đến việc tiêu
thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ
Chi phí quản lý: gồm các chi phí phục vụ cho việc quản lý, điều hành
sản xuất kinh doanh và các chi phí phục vụ sản xuất chung phát sinh ở doanh
nghiệp
đích chính của cơ chế thị trường là tái sản xuất mở rộng tức là giá tiêu thụ
hàng hóa sau khi bù đắp chi phí đầu vào vẫn phải bảo đảm có lãi. Do đó, việc
quản lý, hạch toán giá thành sao cho vừa hợp lý, chính xác vừa bảo đảm vạch
ra phương hướng hạ thấp giá thành sản phẩm có vai trò vô cùng quan trọng.
Phân loại giá thành sản phẩm.
Có rất nhiều cách phân loại giá thành sản phẩm. Tùy theo tiêu chí lựa
chọn mà giá thành sản phẩm có thể được phân loại thành các trường hợp sau:
- Phân loại theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành
Theo cách phân loại này thì chi phí được chia thành giá thành dự toán,
giá thành kế hoạch, giá thành định mức và giá thành thực tế.
+ Giá thành dự toán: là chỉ tiêu giá thành được xây dựng trên cơ sở
thiết kế kỹ thuật đã được duyệt, các định mức kinh tế kỹ thuật do Nhà nước
quy định, tính theo đơn giá tổng hợp cho từng khu vực thi công và phân tích
định mức.
Căn cứ vào giá trị dự toán, ta có thể xác định được giá thành của sản
phẩm xây lắp theo công thức:
Giá thành dự toán
sản phẩm xây lắp
=
Giá trị dự toán
sản phẩm xây lắp
-
Thu nhập chịu
thuế tính trước
Trong đó :
• Thu nhập chịu thuế tính trước(lãi định mức trong XDCB) được Nhà
nước quy định trong từng thời kỳ.
• Giá trị dự toán xây lắp được xác định dựa vào định mức đánh giá
của các cơ quan có thẩm quyền và dựa trên mặt bằng giá cả của thị trường.
14
xác định được các nguyên nhân vượt định mức chi phí trong kỳ hạch toán. Từ
đó, điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp.
- Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí
Theo phạm vi phát sinh chi phí, chỉ tiêu giá thành được chia thành giá
thành sản xuất và giá thành tiêu thụ.
15
+ Giá thành sản xuất: là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát
sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng
sản xuất.Đối với các đơn vị xây lắp giá thành sản xuất gồm chi phí nguyên vật
liệu, chi phí nhân công, chi phí máy thi công, chi phí sản xuất chung.
+ Giá thành tiêu thụ: (hay còn gọi là giá thành toàn bộ) là chỉ tiêu phản
ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ
sản phẩm xây lắp hoàn thành. Giá thành tiêu thụ được tính theo công thức sau
đây:
Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kết quả
kinh doanh của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh
doanh. Tuy nhiên, do những hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức phân bổ
chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cho từng mặt hàng, từng
loại dịch vụ nên cách phân loại này chỉ còn mang ý nghĩa học thuật, nghiên
cứu.
1.2.3.Quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật thiết với
nhau. Chi phí sản xuất trong kỳ là cơ sở để tính giá thành sản phẩm hay nói
cách khác giá thành sản phẩm chịu ảnh hưởng của kết quả tổng hợp chi phí
sản xuất xây lắp. Tuy nhiên giữa chúng cũng có sự khác nhau thể hiện:
- Về mặt chất: Khi nói đến chi phí sản xuất là xem xét tới các hao phí
trong một thời kỳ nhất định, còn giá thành sản phẩm là xem xét các
hao phí liên quan đến sản phẩm đã hoàn thành.
16
- Về mặt lượng: Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có sự khác
1.3. Hạch toán chi phí sản xuất xây lắp
1.3.1. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất
Để hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được chính
xác, đòi hỏi công việc đầu tiền mà người làm kế toán phải làm là xác định đối
tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm.
Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là đối tượng để tập hợp chi phí
sản xuất, là phạm vi giới hạn nhất định mà các chi phí sản xuất xây lắp cần
được tập hợp nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra giám sát chi phí và yêu cầu tính
giá thành sản phẩm. Việc xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất thực
chất là xác định nơi phát sinh chi phí và đối tượng chịu chi phí. Đối với doanh
nghiệp xây lắp, đối tượng kế toán chi phí sản xuất là nơi phát sinh chi phí và
nơi chịu chi phí chính là công trình, hạng mục công trình.
17
Để xác định đúng đắn đối tượng hạch toán chi phí sản xuất phải căn cứ
vào đặc điểm phát sinh chi phí, các yếu tố, tính chất sản xuất như đặc điểm
quy trình công nghệ sản xuất, đặc điểm tổ chức sản xuất, loại hình sản xuất,
yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh.
Trong các doanh nghiệp xây lắp, với tính chất phức tạp của công nghệ
và sản phẩm sản xuất mang tính đơn chiếc, có cấu tạo vật chất riêng, mỗi
công trình, hạng mục công trình có dự toán thiết kế thi công riêng nên đối
tượng hạch toán chi phí sản xuất là công trình, hạng mục công trình hoặc có
thể là bộ phận thi công, từng giai đoạn công việc hay từng đơn đặt hàng
Hạch toán chi phí sản xuất xây lắp theo đúng đối tượng có tác dụng
phục vụ tốt cho việc tăng cường quản lý chi phí sản xuất phục vụ cho công tác
tính giá thành sản phẩm được kịp thời.
1.3.2. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất
Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phương pháp hay hệ
thống các phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản
xuất theo đối tượng hạch toán chi phí.
Bao gồm:
n
là chi phí phân bổ cho từng đối tượng
T
n
là tiêu chuẩn phân bổ của đối tượng n
Trong các doanh nghiệp xây lắp chủ yếu dùng các phương pháp tập
hợp chi phí sau:
- Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo công trình, hạng mục
công trình: chi phí sản xuất liên quan đến công trình, hạng mục công trình nào
thì tập hợp cho công trình, hạng mục công trình đó.
- Phương pháp hạch toán chi phí theo đơn đặt hàng: các chi phí sản
xuất phát sinh liên quan đến đơn đặt hàng nào sẽ được tập hợp và phân bổ
cho đơn đặt hàng đó. Khi đơn đặt hàng hoàn thành, tổng số chi phí phát sinh
theo đơn đặt hàng kể từ khi khởi công đến khi hoàn thành là giá thành thực tế
của đơn đặt hàng đó.
- Phương pháp hạch toán chi phí theo đơn vị hoặc khu vực thi công:
phương pháp này thường được áp dụng trong các doanh nghiệp xây lắp thực
19
hiện khoán. Đối tượng hạch toán chi phí là các bộ phận, đơn vị thi công như
tổ, đội sản xuất hay các khu vực thi công. Trong từng đơn vị thi công lại được
tập hợp theo từng đối tượng tập hợp chi phí như hạng mục công trình.
Trong các doanh nghiệp xây lắp, mỗi đối tượng có thể áp dụng một hoặc một
số phương pháp hạch toán trên. Nhưng trên thực tế có một số yếu tố chi phí
phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng, do đó phải tiến hành phân bổ các
khoản chi phí này một cách chính xác và hợp lý cho từng đối tượng.
Nội dung chủ yếu của các phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là kế
toán mở thẻ (sổ) chi tiết hạch toán chi phí sản xuất theo từng đối tượng đã xác
định, phản ánh các chi phí phát sinh có liên quan đến đối tượng, hàng tháng
tổng hợp chi phí theo từng đối tượng. Mỗi phương pháp hạch toán chi phí ứng
với một loại đối tượng hạch toán chi phí nên tên gọi của phương pháp này
*Chứng từ sử dụng:
- Hoá đơn bán hàng, hóa đơn giá trị gia tăng
- Phiếu nhập kho, phiếu xuất kho.
- Giấy đề nghị tạm ứng, phiếu chi.
- Hoá đơn mua bán…
Vật liệu mua về có thể nhập kho hoặc có thể xuất thẳng cho công trình.
Trường hợp các đơn vị thi công tự đi mua vật tư thì chứng từ gốc là hoá đơn
kiêm phiếu xuất kho của người bán. Phiếu xuất kho và chứng từ liên quan như
21
hoá đơn vận chuyển tạo thành bộ chứng từ được chuyển về phòng kế toán làm
số liệu hạch toán.
*TK sử dụng: Tài khoản 621 dùng để tập hợp chi phí nguyên vật liệu
dùng cho sản xuất phát sinh trong kỳ, cuối kỳ kết chuyển sang tài khoản tập
hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Kết cấu TK 621 như sau:
Bên Nợ: Trị giá gốc thực tế của nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp cho
sản xuất sản phẩm xây lắp.
Bên Có: Trị giá nguyên liệu vật liệu sử dụng không hết nhập kho, Kết
chuyển chi phí NVL vào TK 154- Chi phí SXKD dở dang
TK 621 không có số dư cuối kỳ. Tài khoản này được mở chi tiết cho
từng công trình, hạng mục công trình.
* Phương pháp kế toán được thể hiện trên sơ đồ sau(Sơ đồ 1.01: Hạch
toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp)
SƠ ĐỒ1.01: HẠCH TOÁN CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU TRỰC TIẾP
22
Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp trong doanh nghiệp xây
lắp
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản thù lao phải trả cho người
lao động trực tiếp tham gia công tác thi công xây dựng công trình, hạng mục
công trình. Chi phí nhân công trực tiếp thuộc hoạt động sản xuất xây lắp bao
gồm các khoản phải trả cho người lao động thuộc quyền quản lý của doanh
*Phương pháp kế toán được thể hiện qua sơ đồ sau(Sơ đồ: 1.02: Hạch
toán chi phí nhân công trực tiếp)
SƠ ĐỒ 1.02: HẠCH TOÁN CHI PHÍ NHÂN CÔNG TRỰC TIẾP
Hạch toán chi phí máy thi công
Chi phí sử dụng máy thi công phản ánh các chi phí liên quan trực tiếp
đến việc sử dụng máy thi công (Vật liệu, nhân công, khấu hao máy) nhằm
thực hiện khối lượng công tác xây lắp bằng máy, chiếm từ 5-10% giá vốn
hàng bán.
Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công phụ thuộc vào hình thức sử
25