HOÀN THIỆN QUY TRÌNH QUẢN lý rủi RO tín DỤNG tại các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAM GIAI đoạn HIỆN NAY - Pdf 95

TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn [email protected]
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học

1

DANH SÁCH NHÓM 4
LỚP NGÂN HÀNG NGÀY 2 KHÓA 21


1. PHẠM THỊ THÚY AN
2. TRẦN THỊ NGỌC HÂN
3. TRẦN ĐẠI QUỐC
4. VŨ NHẬT TÂN
5. LÊ NGUYỄN PHƯƠNG TRANG
6. TRẦN THỊ TRANG
7. VÕ NGUYỄN ANH TÚ
8. NGUYỄN PHƯƠNG TUẤN
9. TRẦN VĂN TÙNG
ĐÁNH GIÁ CỦA NHÓM TRƯỞNG: Các thành viên trong
nhóm tham gia tích cực và đóng góp 100% vào kết quả của
bài tiểu luận này.
TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn [email protected]
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học

2
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

+ Sự chuyển nhượng này có thời hạn hay mang tính tạm thời.
+ Sự chuyện nhượng này có kèm theo chi phí.
II. Các nghiệp vụ tín dụng:
Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức sau: cho
vay, bảo lãnh, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, tài trợ xuất nhập khẩu, cho vay thấu
chi, cho vay theo hạn mức tín dụng và hạn mức tín dụng dự phòng.
1. Rủi ro tín dụng:
1.1. Khái niệm:
Rủi ro tín dụng là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác không
thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với một ngân hàng, bao gồm
cả việc không thanh toán nợ gốc hay lãi khi khoản nợ đến hạn.
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN: Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của
Tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng
do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo
cam kết.
TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn [email protected]
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học

4

Kết luận: Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng,
biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ, hoặc trả nợ không đúng hạn
cho ngân hàng.
1.2. Phân loại rủi ro tín dụng:
giá trị tài san đảm bảo.
+ Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro
liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay bao gồm cả việc sử
dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỉ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.
- Rủi ro danh mục: là một
hình thức của rủi ro tính dụng mà nguyên nhân phát sinh do những hạn chế trong quản
lý danh mục cho vay của ngân hàng, chia thành 2 loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
Trong đó:
+ Rủi ro nội tại: xuất phát từ
cá yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong mỗi chủ thể đi vay
hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử
dụng vốn của khách hàng vay vốn.
+ Rủi ro tập trung: là trường
hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một khách hàng, lĩnh vực
kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay
có rủi ro cao.
1.3. Các hình thức của rủi ro tín dụng:

Rủi ro tín dụng
Không thu được lãi
đúng hạn
Không thu được vốn
đúng hạn
Không thu đủ lãi

cao. Mặt khác, cũng có thể quyết định cho vay là đúng đắn nhưng thiếu kiểm tra,
giám sát sau cho vay dẫn đến khách hàng sử dụng vốn sai mục đích mà ngân hàng
không kịp thời ngân chặn.
+ Thiếu thông tin về khách hàng, thiếu thông tin tín dụng tin cậy, kịp thời để xem xét
trước khi cấp tín dụng.
+ Năng lực và phẩm chất của một số cán bộ tín dụng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ ngân
hàng chưa thỏa đáng cũng dẫn đến rủi ro tín dụng.
- Nguyên nhân khách quan: là những nguyên nhân ngoài ý muốn của khách hàng và ngân
hàng như: thiên tai, hỏa hoạn, sự thay đổi chính sách quản lý kinh tế, điều chỉnh quy
hoạch vùng, ngành, hành lang pháp lý chưa phù hợp, biến động thị trường trong và
ngoài nước, quan hệ cung cầu hàng hóa thay đổi làm cho doanh nghiệp lâm vào tình
TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn [email protected]
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học

7

trạng khó khăn tài chính không thể khắc phục được nên dù co thiện chí nhưng vẫn
không trả được nợ ngân hàng.
b. Hậu quả:
- Đối với ngân hàng:
+ Ngân hàng không thu được vốn và lãi cho vay nhưng vẫn phải trả vốn và lãi cho
khoản tiền huy động khi đến hạn làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi
+ Không thu được nợ làm cho vòng quay của vốn tín dụng chậm lại làm cho ngân
hàng kinh doanh không hiệu quả và có thể mất khả năng thanh khoản.
+ Lòng tin của người gửi tiền và uy tín ngân hàng bị giảm sút.
- Đối với nền kinh tế:
+ Hoạt động của ngân hàng liên quan đến nhiều cá nhân, tổ chức, lĩnh vực trong nền
kinh tế, vì vậy khi một ngân hàng gặp khó khăn hay bị phá sản, người gửi tiền
hoang mang, ồ ạt rút tiền không chỉ ở ngân hàng đó mà còn ở các ngân hàng khác

xác, lại không qua kiểm toán. Ngay cả đối với các DN lớn được kiểm toán thì sự chậm trễ
trong công bố báo cáo tài chính cũng như chất lượng kiểm toán chưa cao cũng gây nhiều
khó khăn cho các ngân hàng. Vì thế, việc dựa vào một số thông tin đầu vào để cấp tín
dụng, đã dẫn đến một số khoản vay vừa ra khỏi ngân hàng đã khó có khả năng thu hồi.
Đặc biệt, khi ngân hàng và DN lại có mối quan hệ “mật thiết”, phụ thuộc lẫn nhau (sở
hữu chéo) thì nguồn lực dễ bị phân bổ sai lệch, bất hợp lý, cho vay bất chấp các quy định
về an toàn vốn, nợ xấu tất yếu sẽ tăng lên.
+ Thứ hai, hoạt động thâu tóm, mua bán, sáp nhập, các công ty sân sau, sở hữu chéo trong
ngân hàng đã tạo ra những vòng luẩn quẩn của dòng tiền. Đây cũng là những hoạt động
tiềm ẩn nhiều nợ xấu nhưng rất khó chỉ ra để xử lý, khi tính minh bạch và giải trình còn
hạn chế.
+ Thứ ba, nợ xấu còn có nguyên nhân sâu xa từ đạo đức nghề nghiệp của một số cán bộ
ngân hàng và khách hàng. Kinh doanh ngân hàng dựa trên sự tin cậy và mức độ tín nhiệm
thì đạo làm nghề ngân hàng không chỉ cần thiết mà còn mang tính bắt buộc. Tuy nhiên,
do nhiều nguyên nhân mà một số cán bộ ngân hàng đã cấu kết với khách hàng để che
giấu sự thật, gian lận, cố ý làm trái quy định của NHNN, của NHTM. Mặc dù chưa có số
liệu công bố nhưng trong tổng số nợ xấu đó, một tỷ lệ không nhỏ nảy sinh từ vi phạm đạo
đức nghề nghiệp.
+ Thứ tư là tình trạng gian lận cổ phiếu, đây là tình trạng đã xảy ra không phải hiếm ở nước
ta, những rủi ro này liên quan trực tiếp đến hoạt động tín dụng bởi cổ phiếu khống, cổ
TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn [email protected]
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học

9

phiếu định giá quá cao, giao dịch mua bán giả tạo, sử dụng cổ phiếu để vay vốn của chính
ngân hàng, hoặc làm vốn điều lệ ngân hàng tăng lên một cách giả tạo trên cơ sở đó tạo
nguồn vốn để cho vay, hay áp dụng giới hạn tối đa vốn vay cho một nhóm khách hàng.
Trường hợp này đã từng xảy ra phổ biến ở nhiều ngân hàng thương mại cổ phần.


dụng. Với sự tư vấn của Ngân hàng ING (Hà Lan), Vietcombank đã triển khai mô hình quản
lý tín dụng mới trong toàn hệ thống từ tháng 7/2006. Các ngân hàng thương mại quốc doanh
khác như BIDV, Vietinbank cũng đang tiến hành chuyển đổi theo mô hình này.
- Thành lập ban kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ: nhiều ngân hàng đã thành lập ban kiểm
soát nội bộ trực thuộc hội đồng quản trị và Ban kiểm soát trực thuộc ban điều hành có tổ
chức chuyên trách từ hội sở chính đến các chi nhánh.
Kiểm toán nội bộ có các nhiệm vụ:
+ Kiểm toán hoạt động, nhằm đánh giá tính hữu hiệu và hiệu quả hoạt động của tổ chức.
+ Kiểm toán tuân thủ, đó là việc giám sát quá trình chấp hành pháp luật, quy định nộibộ tại
các đơn vị thành viên.
+ Kiểm toán báo cáo tài chính, bao gồm kiểm toán bảng cân đối kế toán kiểm toán báo cáo
hoạt động kinh động, kiểm toán báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
+ Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu của mỗi TCTD cũng như các đơn vị thành viên,
do dó kiểm toán hoạt động tín dụng trở thành công việc chủ yếu của bộ phận kiểm toán
được tiến hàng một hoặc nhiều lần trong năm.
Song thực tiễn xảy ra rủi ro lớn nhỏ ở các TCTD trong thời gian qua có thể khẳng định
kiểm toán nội bộ chưa phát huy được vai trò của mình, cũng như chưa hoàn thành được
vai trò của mình. Ở nhiều TCTD, nhất là các TCTD cổ phần chỉ mang tính hình thức, bị
vô hiệu hóa hoặc là do trình độ non kém hoặc do tiêu cực.
- Thực hiện chấm điểm và xếp hạng tín dụng: xếp hạng tín dụng nội bộ tại các NHTM đã đạt
được một số kết quả, giúp các ngân hàng có thể quản trị rủi ro tốt hơn, tránh và phát hiện
sớm các khoản tín dụng xấu, các khoản tín dụng có vấn đề. Tuy nhiên, để có thể kiểm soát
rủi ro tín dụng một cách có hiệu quả, hiện vẫn còn không ít những trở ngại. Trong đó, thách
thức lớn nhất đối với các NHTM hiện nay chính là việc thu thập và phân loại thông tin chính
xác, chi tiết về người vay, về các đặc điểm của các loại hình rủi ro (loại sản phẩm/ngành kinh
tế/khu vực địa lý khác nhau…) và kết quả của đầu tư tín dụng vào các loại hình rủi ro đó.
- Thành lập những công ty định giá tài sản độc lập tránh tình trạng nhân viên tín dụng định giá tài
sản quá cao ảnh hưởng đến việc thu hồi nợ, Ví dụ như Ngân hàng Á Châu thành lập Công ty
TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008

đầu tư chéo lẫn nhau sẽ bị hạn chế khi liệt kê vào nhóm nợ xấu mà quy định trước đây
không đề cập đến.
+ Thứ 5, nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết mà TCTD đang nắm quyền kiểm soát
không vượt quá tỷ lệ quy định.
TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn [email protected]
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học

12

Như vậy, những quy định chi tiết từ Thông tư 02 đã đưa việc phân loại nợ xấu cao hơn so
với quy định trước đây, không chỉ là thời gian chậm thanh toán mà là mối quan hệ cấp tín
dụng giữa TCTD với khách hàng và tài sản cấp tín dụng được đảm bảo bởi cổ phiếu của
TCTD. Đồng thời, những khoản cam kết ngoài bảng cân đối kế toán như bảo lãnh thanh toán
của các TCTD cũng được xếp vào nhóm nợ xấu.
- Thành lập trung tâm thông tín dụng ( CIC):
+ CIC được thành lập lại theo Quyết định số 3289/QĐ-NHNN ngày 31/12/2008 của Thống
đốc NHNN và trở thành tổ chức sự nghiệp thuộc Ngân hàng Nhà nước, có chức năng thu
nhận, lưu trữ, phân tích, xử lý, dự báo thông tin tín dụng phục vụ cho yêu cầu quản lý nhà
nước của Ngân hàng Nhà nước; thực hiện các dịch vụ thông tin ngân hàng theo quy định
của Ngân hàng Nhà nước và của pháp luật.
+ Sản phẩm và dịch vụ của CIC là một kênh thông tin tin cậy, đóng góp tích cực trong công
tác quản lý của NHNN cũng như bảo đảm hoạt động kinh doanh tín dụng an toàn, hiệu
quả, góp phần vào việc ổn định hệ thống ngân hàng.
+ Kho dữ liệu của CIC hiện nay đã thu thập được thông tin từ 100% các TCTD hoạt động
theo Luật các TCTD, một số tổ chức khác có hoạt động ngân hàng như Quỹ đầu tư và
phát triển đô thị TPHCM, Bình Dương, Đà Nẵng, Quỹ bảo vệ môi trường với tổng dư
nợ được cập nhật đạt trên 95% tổng dư nợ nền kinh tế.
- Bảo hiểm tiền gửi:
+ Ngày 18/6/2012, Luật Bảo hiểm tiền gửi đã được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 3 thông

kiểm soát đang xen lẫn nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giữa các phòng chuyên môn,
trong công tác luân chuyển hồ sơ, chứng từ. Nhằm kịp thời phát hiện sai sót trong quá trình cho
vay, để có biện pháp khắc phục, xử lý.
Thường xuyên cập nhật thông tin, theo dõi và báo cáo những dấu hiệu có thể phát sinh rủi ro
trong quá trình cho vay đầu tư thực hiện dự án, đề xuất biện pháp, dự phòng quản lý rủi ro, để các
cấp lãnh đạo xem xét, chỉ đạo.
Thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp
cho đội ngũ cán bộ làm công tác thẩm định, tín dụng của Ngân hàng. Nâng cao trình độ quản lý,
năng lực giám sát rủi ro và ý thức trách nhiệm cá nhân trong công tác thẩm định, cho vay dự án.
Thực hiện đúng trình tự, hồ sơ, thủ tục theo các Quy chế, Quy trình nghiệp vụ của Ngân
hàng và văn bản pháp luật khác có liên quan.
Phân tán rủi ro trong cho vay, không dồn vốn cho vay quá nhiều đối với một khách hàng
hoặc một ngành, lĩnh vực kinh tế có rủi ro cao.
Phải có một chính sách tín dụng hợp lý và duy trì các khoản dự phòng để đối phó với rủi ro.
1. Quản lý rủi ro trong công tác thẩm định:
- Hội đồng thẩm định thuộc Ngân hàng có nhiệm vụ thẩm định và chịu trách nhiệm trước Hội
đồng quản lý Ngân hàng về kết quả thẩm định, nhằm thực hiện tốt công tác quản lý rủi ro tín
dụng trong giai đoạn trước khi cho vay.
- Trong quá trình thẩm định năng lực chủ đầu tư, dự án hoặc phương án sản xuất kinh doanh,
tài sản bảo đảm tiền vay, phải được kiểm tra, phân tích cẩn trọng đảm bảo trung thực, khách
TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn [email protected]
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học

15

quan, nếu phát hiện rủi ro tiềm ẩn báo cáo kịp thời đến các cấp lãnh đạo có thẩm quyền xem
xét chỉ đạo. Ngân hàng được quyền bảo lưu ý kiến thẩm định.
- Khi thực hiện nhiệm vụ thẩm định phải tuân thủ chặt chẽ các quy chế:
+ Quy chế thẩm định dự án.


- Thực hiện đúng hồ sơ, thủ tục, các bước công việc về giao nhận tài sản bảo đảm, đăng ký
giao dịch bảo đảm và các quy định khác theo đúng Quy chế bảo đảm tiền vay.
4. Quản lý rủi ro trong giai đoạn thu hồi nợ:
Ngân hàng thường xuyên theo dõi tình hình hoạt động kinh doanh, năng lực tài chính của
khách hàng, cụ thể: xem xét báo cáo tài chính, tiến độ dự án, kết quả hoạt động kinh doanh từ dự
án. Bên cạnh đó, thường xuyên góp ý, tư vấn, hỗ trợ cho khách hàng về quản lý rủi ro trong hoạt
động tài chính, trong chính sách bán trả chậm . . ., góp phần làm lành mạnh tình hình tài chính của
đơn vị, nhằm để Ngân hàng đạt được mục tiêu, hiệu quả trong công tác thu hồi.
5. Lập dự phòng rủi ro tín dụng:
Ngân hàng trong quá trình hoạt động phải thực hiện nhiệm vụ phân loại nợ, trích lập và sử
dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng theo đúng quy định của pháp luật hiện hành. Trong đó:
- Phân loại nợ vào từng nhóm nợ theo đúng tính chất nội dung, thời gian quá hạn của từng
khoản nợ vay.
- Trích lập dự phòng cụ thể, dự phòng chung theo đúng tỉ lệ quy định cho từng nhóm nợ đã
được phân loại.
- Được sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong trường hợp: Chủ đầu tư là tổ chức,
doanh nghiệp bị giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật; các khoản nợ được phân loại
vào nhóm nợ có khả năng mất vốn; các khoản nợ được xóa theo quyết định của cấp có thẩm
quyền.
- Sử dụng dự phòng xử lý rủi ro tín dụng theo nguyên tắc: Dùng dự phòng cụ thể để xử lý cho
khoản nợ bị rủi ro, phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, nếu vẫn không đủ bù đắp thì được
sử dụng dự phòng chung để xử lý.
II. Từng bước của quy trình quản lý rủi ro tín dụng:
1. Nhận diện và phân loại rủi ro:
TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn [email protected]
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học

17

TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn [email protected]
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học

18

cầu phải có 2 phương án trả nợ, đề phòng trường hợp khách hàng không có khả năng thanh
toán nợ cho Ngân hàng. Nghiên cứu kỹ đối với tài sản thế chấp, xem xét tính pháp lý và giá
trị trên thị trường. Ngoài ra cán bộ tín dụng cũng cần chú ý đến năng lực, khả năng quản lý,
chuyên môn cũng như kinh nghiệm của khách hàng. Những yếu tố này ít được đề cập đến
trong hồ sơ xin vay nhưng phần nào thể hiện hiệu quả của việc sử dụng tiền vay sau này.
+ Thẩm định tính khả thi của dự án vay vốn:
Để đưa ra quyết định cho vay, ngoài điều kiện là khách hàng được đánh giá tốt, còn có
điều kiện đủ là khả năng hoàn trả nợ của khách hàng. Khả năng trả nợ của khách hàng phụ
thuộc chủ yếu vào nguồn thu trong tương lai của khách hàng, trong đó nguồn thu từ dự án
thực hiện bằng vốn vay của ngân hàng là nguồn trả nợ quan trọng. Vì thế Ngân hàng cần
phải thẩm định tính khả thi của phương án vay vốn trước khi quyết định cho khách hàng vay.
2. Phân tích rủi ro
- Cán bộ tín dụng thường xuyên tiến hành theo dõi khách hàng, thông qua công tác khảo sát thực
tế tại cơ sở, phân tích các báo cáo tài chính mà khách hàng đưa ra, tìm hiểu nguyên nhân gây
ra những biến động về sản phẩm, nguyên nhân khách hàng không trả nợ đúng thời hạn quy
định… Nhân viên Ngân hàng có thể giúp đỡ cho khách hàng, tư vấn tiêu thị sản phẩm, đề
nghị tăng vốn hoặc gia hạn nợ giúp họ vượt qua những khó khăn tạm thời. Đối với các khoản
nợ quá hạn, nhân viên tín dụng thường xuyên giám sát con nợ, tìm ra những biện pháp để
thanh lý các tài sản thế chấp nhằm thu hồi được gốc và lãi của các khoản vay này. Ngoài ra,
Ngân hàng cũng tăng cường mối quan hệ với các cấp chính quyền địa phương, toà án nhân
dân để tạo điều kiện giải quyết nhanh các vụ tranh chấp về tài sản.
- Một phần lớn rủi ro tín dụng xảy ra là do thiếu thông tin thị trường, ngành nghề trong cấp tín
dụng cho khách hàng. Việc thu thập thông tin ngành đôi khi gặp khó khăn vì việc phân tích,
đo lường chủ yếu dựa vào khả năng phán đoán, nhận biết và sự hiểu biết chủ quan của nhân

cấp tiền cho khách hàng, dựa trên cơ sở mức tín dụng đã ký kết. Tuỳ theo từng nhóm
khách hàng, từng loại hình tín dụng được sử dụng, từng kỹ thuật cấp tín dụng mà nhân
viên tín dụng sẽ vận dụng các nghiệp vụ giải ngân khác nhau.
+ Dù tiến hành theo bất kỳ hình thức nào thì nghiệp vụ giải ngân cũng thực hiện theo
nguyên tắc: Cấp tín dụng phải có hàng hoá đối ứng và phù hợp với mục đích vay đã nêu
ra trong hợp đồng tín dụng, nhằm ngăn ngừa việc gian lận của khách hàng. Nếu phát hiện
khả năng xảy ra rủi ro tín dụng thì cán bộ sẽ tìm phương pháp xử lý, nếu khách hang có ý
định gian lận thì phải dừng ngay việc cấp tiền.
+ Ngoài ra cũng phải tăng cường kiểm tra, giám sát các món vay để có biện pháp hỗ trợ
khách hàng và xử lý khi xảy ra sự cố trong cho vay.
TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn [email protected]
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học

20

- Thực hiện các quy định đảm bảo kiểm soát rủi ro và an toàn hoạt động tín dụng bao gồm:
+ Xây dựng và thực hiện đồng bộ một hệ thống quy chế, quy trình nội bộ về quản lý rủi ro,
trong đó đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng chính sách khách hàng vay vốn, sổ tay tín
dụng, quy định về đánh giá, xếp hạng khách hàng vay, đánh giá chất lượng tín dụng và
xử lý các khoản nợ xấu.
+ Mở rộng tín dụng trung và dài hạn ở mức thích hợp, đảm bảo cân đối thời hạn cho vay
với thời hạn của nguồn vốn huy động.
+ Thực hiện đúng quy định về giới hạn cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, chiết khấu,
bao thanh toán đối với một khách hàng và các tỷ lệ an toàn hoạt động kinh doanh.
5. Tài trợ rủi ro:
- Thực hiện nghiêm túc việc phân loại nợ và trích lập dự phòng: tránh tình trạng vì kết quả kinh
doanh mà không tuân thủ chính xác trong phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro. Chủ
động phân loại nợ theo tính chất, khả năng thu hồi nợ của khoản vay, kiên quyết chuyển nợ
quá hạn đối với các trường hợp vi phạm hợp đồng tín dụng có nguy cơ gây ra rủi ro.

là giải pháp cuối cùng sau khi áp dụng mọi biện pháp khác để thu hồi nợ. Một số biện pháp
xử lý rủi ro: gia hạn nợ, xóa, giảm lãi vay, khoanh nợ, xóa nợ.
III. Đề xuất đối với các doanh nghiệp vay vốn và Ngân hàng Nhà nước
- Về phía doanh nghiệp vay vốn: giải quyết hàng tồn kho là vấn đề cấp bách hiện nay. Để xử lý
hàng tồn kho, ngoài việc hạ giá bán (chấp nhận lỗ) để thu hồi vốn về quay vòng thì một hình
thức liên kết giữa các DN, sử dụng các sản phẩm của nhau cũng là cách làm hiện nay. Bên
cạnh đó, việc minh bạch thông tin tài chính, nâng cao khả năng quản trị DN, để tạo niền tin
trong quan hệ tín dụng với ngân hàng.
- Về phía Ngân hàng Nhà nước:
+ Nhanh chóng hoàn thiện khung pháp lý để các ngân hàng có căn cứ thực hiện xếp hạng
tín dụng nội bộ, hướng theo thông lệ quốc tế. Song song với việc xây dựng, hoàn thiện
xếp hạng tín dụng nội bộ, cần có chính sách phát triển các đơn vị xếp hạng tín dụng độc
lập làm cơ sở tham chiếu chung trong công tác xếp hạng tín dụng. Kinh nghiệm của
nhiều nước trong khu vực cho thấy, việc phát triển các tổ chức xếp hạng tín dụng không
do Nhà nước quản lý để hạn chế việc chi phối của tổ chức hay cá nhân làm sai lệch kết
quả xếp hạng là rất quan trọng trong hoạt động tín dụng của ngân hàng.
+ Nhanh chóng xử lý những bất ổn trong nội tại của một số ngân hàng, giám sát dòng tiền
luân chuyển trong nội bộ ngân hàng. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản làm
hệ thống ngân hàng luôn bất ổn, và tích tụ rủi ro hệ thống lớn. Khi giám sát được dòng
TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn [email protected]
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học

22

vốn ra khỏi vòng luẩn quẩn bởi một số ngân hàng, nợ xấu của các ngân hàng thương mại
có điều kiện được xử lý, điểm nghẽn về vốn sẽ được khắc phục, việc tiếp cận vốn của
DN sẽ dễ dàng hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status