Vấn đề tham gia vốn quốc tế vào các ngân hàng thương mại tại việt nam - Pdf 95

TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học

Nhóm 2 – Ngân hàng ngày 2 – K21
VẤN ĐỀ THAM GIA VỐN QUỐC TẾ VÀO CÁC NHTM TẠI VIỆT NAM 1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ VIỆC THAM
GIA VỐN QUỐC TẾ VÀO CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 2
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của các ngân hàng thương mại Việt Nam 2
1.2. Các hình thức tham gia của dòng vốn quốc tế vào ngân hàng thương mại Việt Nam 2
1.3. Các khung pháp lý liên quan đến các ngân hàng thương mại Việt Nam 3
1.3.1 Khung pháp lý về việc thành lập và hoạt động đối với các ngân hàng thương mại Việt
Nam 3
1.3.2 Khung pháp lý liên quan đến việc tham gia của dòng vốn quốc tế vào các ngân hàng
thương mại Việt Nam 3
1.4. Bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới 4
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC THAM GIA VỐN QUỐC TẾ VÀO CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 6
2.1. Tình hình hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam 6
2.2. Tình hình về việc tham gia vốn quốc tế vào các ngân hàng thương mại Việt Nam. 7
2.2.1 Quá trình chu chuyển các luồng vốn nước ngoài vào hệ thống ngân hàng thương mại Việt
Nam 7
2.2.2 Những thuận lợi và khó khăn đối với nhà đầu tư nước ngoài 9
2.3. Những vấn đề phát sinh từ việc tham gia của các dòng vốn quốc tế 10
2.3.1. Những tác động tích cực 10
2.3.2. Những tác động tiêu cực 11
CHƯƠNG III: NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆC THAM GIA VỐN QUỐC TẾ
VÀO CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 12
3.1. Giải pháp 12

Việt Nam”.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
- Phân tích thực trạng về việc tham gia vốn quốc tế vào các ngân hàng thương mại Việt Nam.
- Từ đó đưa ra các giải pháp cho việc thu hút và kiểm soát vốn đầu tư nước ngoài này.
3. Phạm vi nghiên cứu: Các ngân hàng thương mại Việt Nam.
4. Kết cấu đề tài: Gồm 3 chương
Chương 1: Tổng quan về hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam và việc tham gia vốn quốc tế vào
các ngân hàng thương mại Việt Nam
Chương 2: Thực trạng về việc tham gia vốn quốc tế vào các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Chương 3: Những giải pháp và kiến nghị đối vơi việc tham gia vốn quốc tế vào các ngân hàng
thương mại tại Việt Nam
TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học

Nhóm 2 – Ngân hàng ngày 2 – K21
VẤN ĐỀ THAM GIA VỐN QUỐC TẾ VÀO CÁC NHTM TẠI VIỆT NAM 3
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ VIỆC THAM
GIA VỐN QUỐC TẾ VÀO CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, hệ thống tiền tệ, tín dụng ngân hàng được thiết lập và bảo hộ
bởi thực dân Pháp thông qua Ngân hàng Đông Dương. Lúc này, Ngân hàng Đông Dương vừa đóng
vai trò là ngân hàng Trung ương trên toàn cõi Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia), vừa là
ngân hàng thương mại.
Tại Đại hội Đảng lần thứ hai vào tháng 02/1951 đã đề ra và sau đó, ngày 06 tháng 05 năm 1951, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam – Ngân hàng
của Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.
Theo Thông tư số 20/VP-TH ngày 21/01/1960 của Tổng giám đốc Ngân hàng Quốc gia ký thừa ủy
quyền Thủ Tướng chính phủ, Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Nhà

tại của tổ chức tín dụng bị sáp nhập.
TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học

Nhóm 2 – Ngân hàng ngày 2 – K21
VẤN ĐỀ THAM GIA VỐN QUỐC TẾ VÀO CÁC NHTM TẠI VIỆT NAM 4
o Mua lại tổ chức tín dụng là hình thức một tổ chức tín dụng (sau đây gọi là tổ chức tín
dụng mua lại) mua toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của tổ chức
tín dụng khác (tổ chức tín dụng bị mua lại). Sau khi mua lại, tổ chức tín dụng bị mua
lại trở thành công ty trực thuộc của tổ chức tín dụng mua lại.
- Các hình thức đầu tư trực tiếp khác.
1.2.2 Các hình thức đầu tư gián tiếp:
- Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác. Tại Việt Nam, giới hạn sở hữu
cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại các ngân hàng được quy định tại Nghị định số
69/2007/NĐ-CP ngày 20/04/2007 và Thông tư số 07/2007/TT-NHNN ngày 29/11/2007. Pháp
luật Việt Nam quy định tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài (bao gồm cả
cổ đông nước ngoài hiện hữu) và người có liên quan tối đa bằng 30% vốn điều lệ của một
ngân hàng, trong đó có tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông chiến lược nước ngoài và người có
liên quan của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài đó không vượt quá 15% vốn điều lệ (trừ
trường hợp được Thủ tướng Chính phủ cho phép, nhưng không vượt quá 20% vốn điều lệ).
- Thông qua quỹ đầu tư chứng khoán
- Thông qua các định chế tài chính trung gian khác.
1.3. Các khung pháp lý liên quan đến các ngân hàng thương mại Việt Nam
1.3.1 Khung pháp lý về việc thành lập và hoạt động đối với các ngân hàng thương mại
Việt Nam
- Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã được sửa đổi, thông qua ngày 16/06/2010, số
46/2010/QH12.
- Luật Các tổ chức tín dụng đã được sửa đổi, thông qua ngày 16/06/2010, số 47/2010/QH12.
- Nghị định số 59/2009/ND-CP về tổ chức và hoạt động của các ngân hàng thương mại trong

Nam.
o Mức sở hữu cổ phần của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và người có liên quan của nhà
đầu tư chiến lược nước ngoài đó không vượt quá 15% vốn điều lệ của một ngân hàng
Việt Nam.
o Trường hợp đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ căn cứ đề nghị của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam, quyết định mức sở hữu cổ phần của một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và
người có liên quan của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài đó vượt quá 15%, nhưng không
được vượt quá 20% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam.
o Trường hợp tổ chức tín dụng nước ngoài nắm giữ trái phiếu chuyển đổi, khi chuyển đổi
trái phiếu sang cổ phiếu phải đảm bảo tỷ lệ sở hữu cổ phần theo quy định tại khoản 1,
khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều này.
o Tổng mức sở hữu cổ phần của các tổ chức tín dụng nước ngoài tại một ngân hàng thương
mại nhà nước được cổ phần hoá như tổng mức sở hữu cổ phần của các ngân hàng Việt
Nam tại ngân hàng thương mại nhà nước đó. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
hướng dẫn thực hiện quy định này.
o Ngân hàng Việt Nam quyết định tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại ngân
hàng nhưng không vượt quá các tỷ lệ quy định tại Điều này.
1.4. Bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới
1.4.1. Các nước phát triển
Mở cửa hội nhập quốc tế ngành ngân hàng diễn ra sau khi các nước đã phát triển một hệ thống tài
chính – ngân hàng ở mức độ nhất định. Hội nhập quốc tế đối với các nước này là một lựa chọn chính
sách nhằm phân bổ hiệu quả hơn các nguồn lực và tăng cường khả năng tăng trưởng nền kinh tế
thông qua các hình thức khuyến khích cạnh tranh. Các nước phát triển tiến hành hội nhập quốc tế với
các đặc điểm như sau: Các thị trường vốn tương đối phát triển và thường được tự do hoá trước khi
mở cửa hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng thương mại quốc doanh thường được tổng công ty hoá
trước khi tư nhân hoá. Đối với một số ngân hàng vẫn thuộc sở hữu nhà nước, chính phủ sẽ thành lập
một pháp nhân độc lập thay mặt chính phủ đóng vai trò cổ đông. Quá trình tư nhân hoá các ngân
hàng thuộc sở hữu nhà nước không cần các đối tác chiến lược vì đa số các ngân hàng ở các nước
phát triển đã có đủ nội lực để hoạt động theo sở hữu tư nhân.
1.4.2. Các nước châu Á sau khủng hoảng tài chính

các chương trình cải cách cơ cấu kinh tế hiệu quả hơn.
1.4.4. Trung Quốc sử dụng các cam kết WTO để hội nhập quốc tế
Trung Quốc là trường hợp điển hình thực hiện hội nhập quốc tế khu vực ngân hàng thông qua các
cam kết trong quá trình đàm phán gia nhập WTO.Tiến trình hội nhập quốc tế của Trung Quốc được
tiến hành từng bước và được hỗ trợ bằng các chương trình cải cách nhằm củng cố khu vực ngân hàng
và các khu vực tài chính khác, đồng thời với quá trình cải cách khu vực doanh nghiệp Nhà nước.
Phương pháp hội nhập quốc t ế trong lĩnh vực ngân hàng của Trung Quốc bao gồm tự do hoá các hạn
chế đối với sự tham gia và hoạt động của các ngân hàng nước ngoài thông qua việc cho phép thành
lập “ mới” các ngân hàng 100% vốn nước ngoài và cho phép mua các cổ phần thiểu số mang tính
chất đối tác chiến lược trong các ngân hàng thương mại quốc doanh trung bình hoặc lớn hơn nhưng
không được quyền chi phối. Các ngân hàng thương mại quốc doanh lớn sẽ thu hút các luồng vốn
quốc tế thông qua việc phát hành cổ phiếu lần đầu trên các thị trường quốc tế và có thể bán cho các
đối tác chiến lược. Quá trình cải cách này được tiếnhành đồng thời với các biện pháp tăng cường
công tác thanh tra, giám sát (thiết lập một cơ quan thanh tra ngân hàng độc lập) nhằm phát triển các
thị trường vốn, cải thiện các công cụ và điều hành chính sách kinh tế vĩ mô.
TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học

Nhóm 2 – Ngân hàng ngày 2 – K21
VẤN ĐỀ THAM GIA VỐN QUỐC TẾ VÀO CÁC NHTM TẠI VIỆT NAM 7
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG VỀ VIỆC THAM GIA VỐN QUỐC TẾ VÀO CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
2.1. Tình hình hoạt động kinh doanh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Trong những năm qua, hệ thống ngân hàng TMCP ở Việt Nam không ngừng gia tăng số lượng và
ngày một phát triển. Cho đến nay, các ngân hàng TMCP đã đạt được một số thành tựu. Bên cạnh đó,
trong giai đoạn nền kinh tế đang khó khăn, các ngân hàng cũng đang đứng trước nguy cơ phải sáp
nhập, hợp nhất do nợ xấu gia tăng, thanh khoản giảm,…
2.1.1. Những thành tựu

tư kinh doanh bất động sản, chứng khoán
2.1.1.4. Hoạt động huy động nguồn vốn của các NHTM tăng trưởng mạnh góp phần mở
rộng hoạt động đầu tư và cho vay
- Hệ thống ngân hàng đã huy động và cung cấp một lượng vốn khá lớn cho nền kinh tế. Tốc độ
tăng trưởng huy động vốn qua các năm ở mức 22 - 47%.
TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học

Nhóm 2 – Ngân hàng ngày 2 – K21
VẤN ĐỀ THAM GIA VỐN QUỐC TẾ VÀO CÁC NHTM TẠI VIỆT NAM 8
- Từ tăng trưởng trong huy động vốn đã góp phần mở rộng hoạt động đầu tư và cho vay. Mức
huy động vốn cao, góp phần vào hoạt động kinh doanh của các ngân hàng ngày càng hiệu
quả.
2.1.1.5. Các sản phẩm, dịch vụ ngày càng đa dạng
- Bên cạnh những sản phẩm truyền thống như tiền gửi và cho vay, đã xuất hiện nhiều sản phẩm
mới có nhiều tiện ích cho khách hàng như: tăng tiện ích của tài khoản cá nhân, phát triển dịch
vụ thẻ, phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại như internet banking, phone banking…
- Hoạt động huy động vốn ngày càng đa dạng hơn về hình thức để người gửi tiền có nhiều lựa
chọn có lợi cho mình nhất. Ngoài các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm với lãi suất cố định truyền
thống, các ngân hàng còn đưa ra các sản phẩm tiền gửi được hưởng lãi suất biến động theo tỷ
lệ lạm phát, đảm bảo giá trị theo vàng, được bù chênh lệch tỷ giá… Đặc biệt, dịch vụ thanh
toán thẻ đã có sự phát triển bùng nổ. Nhiều sản phẩm thẻ đa tiện ích đã được giới thiệu tới
khách hàng và thanh toán bằng thẻ ATM đã trở nên khá phổ biến tại các tỉnh, thành phố lớn.
2.1.2. Những thách thức
2.1.2.1. Rủi ro nợ xấu ngày càng gia tăng
- Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống NHTM đã giảm mạnh khoảng trên 50% kể từ năm 2002 đến 2007,
tuy nhiên sau đó lại tăng mạnh ở các năm 2008, 2009. Trong ba năm trở lại đây, tình trạng nợ
xấu của các ngân hàng đang có xu hướng gia tăng
2.1.2.2. Thách thức trong đảm bảo tỷ lệ hệ số an toàn vốn (CAR)

Nhóm 2 – Ngân hàng ngày 2 – K21
VẤN ĐỀ THAM GIA VỐN QUỐC TẾ VÀO CÁC NHTM TẠI VIỆT NAM 9
TT
NHTMCP Việt
Nam
Ngân hàng nước
ngoài
Ngày công
bố
Tỷ lệ sở
hữu
Tổng tài sản
(Nghìn tỷ)
1
Techcombank
HSBC
07/08/2008
20%
51,8
2
SeABank
Societe Generale S.A
(Pháp)
18/08/2008
15%
19,6
3
VP Bank
OCBC (Singapore)
04/08/2008

UOB (Singapore)
25/01/2007
10%
17,6
9
Phương Đông
BNP Paris (Pháp)
17/11/2006
10%
10,7
10
Sacombank
ANZ Bank
24/3/2005
10%
75,0
Dù phạm vi hoạt động chưa rộng, 6 tháng đầu năm 2008, khối ngân hàng ngoại đã đạt tốc độ tăng
trưởng tài sản có và dư nợ tương ứng khoảng 33% và gần 50% so với mức tăng chung toàn hệ thống
ngân hàng tương ứng là 8% và gần 20%. Khối ngân hàng này tuy chỉ chiếm 9,3% tổng dư nợ cho
vay (cả VND và USD), nhưng chiếm tới 29,5%/tổng dư nợ cho vay bằng USD của toàn hệ thống
ngân hàng. Căn cứ vào tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao, các luồng chu chuyển vốn quốc tế, thanh
toán quốc tế và lượng khách du lịch quốc tế vào Việt Nam ngày càng tăng, nhiều chuyên gia tài
chính cho rằng áp lực của các ngân hàng nước ngoài đối với các ngân hàng trong nước thời gian tới
thực sự không nhỏ.
Gần đây ta cũng thấy vào ngày 27/12/2012, Vietinbank đã bán 20% cổ phần cho cổ đông chiến lược
là Bank of Tokyo – Mitsubishi UFJ (BTMU), là thương vụ giao dịch lớn nhất từ trước đến nay trong
ngành ngân hàng, thu về cho Vietinbank 743 triệu USD, làm vốn điều lệ Vietinbank tăng từ 26.217 tỉ
đồng lên 32.661 tỉ đồng. Mặc dù vốn ngoại đổ vào ngân hàng nội đã từ những năm 2006-2008, khá
nhiều ngân hàng trong nước đã thu hút được vốn từ các ngân hàng, tập đoàn tài chính nước ngoài
như Citi bank, ANZ, HSBC,… Nhưng đến năm 2012 khi kinh tế thế giới và Việt Nam khó khăn,

tế. Như VietinBank đã thành công định giá trái phiếu quốc tế $250 triệu 8.00% thông thường, không
có tài sản bảo đảm, đáo hạn năm 2017. Với VietinBank, trái phiếu phát hành là trái phiếu không
chuyển đổi, còn đối với một số doanh nghiệp đã phát hành trái phiếu chuyển đổi với lãi suất thấp hơn
như CTCP Vincom chỉ với mức lãi suất 5% một năm. Từ đó ta thấy các DN hoạt động sản xuất kinh
doanh tại VN đã có lợi thế hơn VietinBank khi phát hành nợ bằng trái phiếu chuyển đổi. Họ có các
dự án đầu tư có khả năng hấp dẫn với những nhà đầu tư quốc tế, trong khi, VietinBank lại không dễ
dàng phát hành trái phiếu chuyển đổi, nhất là chuyển đổi thành cổ phiếu do những hạn chế về
“room” của nhà đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực kinh doanh tiền tệ - ngân hàng.
Một số NHTMCP khác cũng muốn tăng nguồn vốn nước ngoài thông qua việc phát hành trái phiếu
như Vietcombank, tại ĐHCĐ thường niên 2012 vào ngày 02/04 đã có tờ trình ĐHĐCĐ phát hành 1
tỷ USD trái phiếu với kỳ hạn 10 năm. Hoạt động ngoại hối là một lợi thế có vai trò quan trọng đối
với các ngân hàng. Việc gia tăng nguồn vốn trung và dài hạn thông qua phát hành trái phiếu quốc tế
giúp cân đối nguồn vốn cho các khoản tín dụng trung dài hạn đã cho vay cũng như cam kết giải ngân
tín dụng trung dài hạn ngoại tệ mà các ngân hàng đã cam kết với khách hàng.
Phát hành trái phiếu quốc tế cung góp phần đa dạng hóa các hình thức huy động vốn ngoại tệ dài hạn
bên cạnh việc vay vốn từ các tổ chức, ngân hàng quốc tế, phát hành trái phiếu ngoại tệ trong nước,…
qua đó nâng cao uy tín, năng lực cạnh tranh của NHTMCPVN.
2.2.2. Những thuận lợi và khó khăn đối với nhà đầu tư nước ngoài
2.2.2.1. Thuận lợi
- Môi trường pháp lý và thể chế kinh tế thị trường của nước ta tiếp tục được hoàn thiện hơn và
phù hợp với khu vực và thế giới. Các văn bản pháp lý cơ bản hướng dẫn thực thi Luật Đầu tư
và Luật Doanh nghiệp đang được tiến hành rà soát và sẽ được sửa đổi như Nghị định số
108/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư,
Nghị định số 88/2006/NĐ-CP về đăng ký kinh doanh. Bên cạnh đó các bộ, ngành và địa
phương cũng đang tích cực triển khai các giải pháp để tiếp tục thu hút và nâng cao hiệu quả
của ĐTNN theo Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 07/04/2009 của Chính phủ. Những sửa đổi
này sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam
cũng như tiếp tục góp phần đáng kể cải thiện môi trường đầu tư của Việt Nam để thu hút
ĐTNN.
- Với các đối tác nước ngoài, họ có thể tận dụng mạng lưới sẵn có, cơ sở vật chất kỹ thuật,

dạng hóa vốn sở hữu của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Cụ thể:
2.3.1.1. Tác động nâng cao năng lực tài chính
- Nhận các dòng vốn quốc tế vào ngân hàng là cách nhanh nhất để gia tăng dòng vốn mới vào
hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, đẩy nhanh việc thực hiện đảm bảo tỷ lệ an toàn
vốn theo quy định. Năng lực tài chính vững mạnh sẽ góp phần giúp các ngân hàng đẩy lùi rủi
ro thanh khoản, tăng tính ổn định và bền vững trong hoạt động ngân hàng.
- Khi tỷ lệ bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài được nâng lên thì thặng dư nguồn vốn thu
về của các ngân hàng trong nước sẽ cao hơn, chính điều này sẽ tác động tích cực đến nhà đầu
tư tham gia mua cổ phiếu của các ngân hàng thương mại cổ phần trong nước. Từ đó các đối
tác chiến lược nước ngoài sẽ có tăng thêm tiềm lực hợp tác với thị trường tài chính – ngân
hàng của Việt Nam.
- Hiện nay nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam là vấn đề lớn của nền kinh tế. Để giải
quyết cần phải có nguồn tiền lớn trong khi ngân sách hạn hẹp, các nhà đầu tư trong nước
cũng cạn kiệt. Vì vậy, sự tham gia của dòng vốn từ nước ngoài sẽ góp thêm nguồn lực tài
chính để giải quyết được những vấn đề nợ xấu.
2.3.1.2. Tác động nâng cao năng lực quản trị
- Góp vốn vào các ngân hàng thương mại Việt Nam, với kinh nghiệm quản trị, công nghệ tiên
tiến và hỗ trợ vốn từ tập đoàn mẹ, cộng với mạng lưới có sẵn của các ngân hàng trong nước,
các nhà đầu tư nước ngoài hoàn toàn có thể xoay chuyển tình thế để biến các ngân hàng hoạt
động kém hiệu quả thành các ngân hàng hoạt động hiệu quả, đưa ngân hàng nhỏ thoát khỏi
tình trạng yếu kém, nâng hạng tín dụng, tạo ra và gia tăng lợi nhuận. Sự tham gia của các
dòng vốn quốc tế vào các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ đem lại chiến lược phát triển,
và tăng tính cạnh tranh, năng lực cho ngân hàng trong nước.
- Đây cũng là cách nhanh nhất để áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong quản trị doanh nghiệp
và quản lý rủi ro với các ngân hàng trong nước, nhờ vào những yếu tố này sẽ giúp cho các
ngân hàng trong nước phát triển và hoàn thiện một cách nhanh chóng, khắc phục được những
điểm yếu trong quá trình phát triển và hội nhập.
2.3.1.3. Tác động đa dạng hóa vốn sở hữu tại các ngân hàng
TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn

www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học

Nhóm 2 – Ngân hàng ngày 2 – K21
VẤN ĐỀ THAM GIA VỐN QUỐC TẾ VÀO CÁC NHTM TẠI VIỆT NAM 13
CHƯƠNG 3:
NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆC THAM GIA VỐN QUỐC TẾ VÀO
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
3.1. Giải pháp
3.1.1. Giải pháp về thu hút vốn nước ngoài
Nới tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và người có liên
quan của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài:
- Theo Hiệp định WTO của Việt Nam, điều 7.3.6 - mở cửa dịch vụ ngân hàng - ghi rõ: Việt
Nam vẫn được giữ hạn chế về mua cổ phần trong ngân hàng Việt Nam (không quá 30%).
- Nghị định 69/2007/NĐ-CP quy định Về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của ngân
hàng thương mại Việt Nam đã nêu: Tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài
(bao gồm cả cổ đông nước ngoài hiện hữu) và người có liên quan của các nhà đầu tư nước
ngoài đó không vượt quá 30% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam. Mức sở hữu cổ phần
của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và người có liên quan của nhà đầu tư chiến lược nước
ngoài đó không vượt quá 15% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam. Hiện nay, nhà đầu
tư nước ngoài đang kỳ vọng ngân hàng nhà nước sẽ nới tỷ lệ này lên.
Giải pháp trên không những giúp ngân hàng trong nước có thể tăng vốn mà còn làm cho các nhà đầu
tư nước ngoài mạnh dạn đầu tư hơn đối với các ngân hàng trong nước, hơn thế nữa sẽ giúp tái cơ cấu
được các ngân hàng yếu kém.
Hoàn thiện pháp luật về mua lại và sáp nhập ngân hàng thương mại Việt Nam nhằm thu hút các nhà
đầu tư có cơ sở pháp lý khi tiến hành mua bán sáp nhập ngân hàng thương mại Việt Nam.
Ngoài ra, để thu hút vốn từ nhà đầu tư nước ngoài, bản thân những ngân hàng thương mại trong nước
phải phát triển bền vững, đủ sức hấp dẫn đầu tư:
- Nâng cao năng lực quản trị ngân hàng tách bạch rõ và thực hiện đầy đủ hai chức năng: quản
trị điều hành và quản lý kinh doanh

- Luật Cạnh tranh hiện nay cấm các hoạt động mua lại và sáp nhập có thể dẫn tới việc một
doanh nghiệp có mức tập trung kinh tế lớn hơn 50% trên thị trường liên quan. Trong trường
hợp một doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng (có nhiều thị trường khác nhau), thì tùy
theo các cách tính khác nhau có thể dẫn đến kết quả là doanh nghiệp đó có thể bị coi là có
“tập trung kinh tế” trên 50% hoặc có thể dưới.
- Còn tồn tại tình trạng không thống nhất về cơ sở tính toán mức độ tập trung trong ngân hàng
giữa Luật Cạnh tranh và Nghị định số 69/2007/NĐ-CP. Luật Cạnh tranh quy định giới hạn
mức độ tập trung trong lĩnh vực ngân hàng dựa trên thị phần, trong khi Nghị định số
69/2007/NĐ-CP lại quy định giới hạn về mức độ tập trung trong lĩnh vực ngân hàng căn cứ
trên vốn điều lệ.
- Những khoảng trống trong pháp lý còn thể hiện ở việc chưa có nghị định về hoạt động mua
lại và sáp nhập doanh nghiệp, chưa có văn bản hướng dẫn các thủ tục, quy trình mua lại và
sáp nhập rõ ràng, cụ thể gây khó khăn trong xác lập các giao dịch, địa vị mỗi bên mua - bán,
hậu quả pháp lý sau khi tiến hành hoạt động mua lại và sáp nhập… Ngoài ra, thẩm quyền
quản lý của các đơn vị chủ quản đối với từng loại hình doanh nghiệp cũng khác nhau. Hiện
tại, các hoạt động mua lại và sáp nhập liên quan đến các doanh nghiệp niêm yết do Uỷ ban
Chứng khoán Nhà nước quản lý, liên quan tới đầu tư trực tiếp nước ngoài thuộc thẩm quyền
của Bộ Kế hoạch và đầu tư.
- Thêm vào đó, các cơ quan nhà nước cũng chưa thống nhất được hoạt động mua lại và sáp
nhập doanh nghiệp là đầu tư trực tiếp hay gián tiếp, điều kiện nào để chuyển hoá từ đầu tư
trực tiếp thành đầu tư gián tiếp và ngược lại. Nếu mỗi cơ quan nhìn nhận mua lại và sáp nhập
dưới góc độ riêng thì không thể xây dựng được cơ chế, chính sách thống nhất nhằm tạo ra
một môi trường thuận lợi cho hoạt động này
Do đó, NHNN và chính phủ cần :
- Một là, xây dựng tập trung và có hệ thống đối với quy định của pháp luật về hoạt động mua
lại và sáp nhập ngân hàng thương mại với hoạt động mua lại, sáp nhập, hợp nhất và đầu tư
mua cổ phần để trở thành cổ đông chiến lược trong Luật Các tổ chức tín dụng với tư cách là
đạo luật điều chỉnh chuyên ngành, theo đó cần có các định nghĩa, khái niệm, hình thức, điều
kiện, quy trình và hợp đồng mua lại và sáp nhập ngân hàng cụ thể. Đồng thời, với tư cách là
một hình thức tập trung kinh tế bị điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật cạnh tranh, các

Nam niêm yết ở nước ngoài; tổ chức tín dụng nước ngoài hoặc nhà đầu tư nước ngoài tham gia mua
vốn tại hai ngân hàng Việt Nam trở lên.
3.2. Kiến nghị
3.2.1. Kiến nghị đối với Chính phủ
- Chính phủ cần tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, giảm lạm phát, ổn định tỷ giá và lãi suất. Đây
là điều kiện tiên quyết giúp cho doanh nghiệp trong nước ổn định kinh doanh, cũng như cải
thiện môi trường kinh doanh hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài.
o Đổi mới và hoàn thiện đồng bộ các chính sách và cơ chế quản lý tài chính – tín dụng
o Kiểm soát lượng tiền cung ứng, đổi mới chính sách lãi suất và tỷ giá, phát triển thị
trường tài chính
- Thành lập ủy ban nâng cao tín nhiệm tín dụng quốc gia với nhiệm vụ đưa ra những giải pháp
cụ thể nâng dần độ tín nhiệm tín dụng quốc tế của Việt Nam.
- Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về luật đầu tư nước ngoài và các văn bản
dưới luật
- Đổi mới và hoàn thiện chính sách tiền tệ, cần có nhiều chế độ, chính sách ưu đãi cho những
đối tác đầu tư chiến lược của Việt Nam (như: Hàn Quốc, Nhật Bản).
- Cần mạnh mẽ hơn trong quá trình tái cơ cấu, bao gồm việc xử lý nợ xấu và tái cấu trúc hệ
thống Ngân hàng thương mại lành mạnh phát triển bền vững; đây là kênh chứng minh và hấp
dẫn các nhà đầu tư nước ngoài chuyển tiền vào đầu tư tại Việt Nam. Thực hiện nghiêm công
khai, minh bạch công bố thông tin; thực hiện tuân thủ những chuẩn mực quốc tế trong hệ
thống ngân hàng thương mại.
- Hợp tác với các nước quốc tế trong việc tập trung quản lý sử dụng có hiệu quả nguồn vốn
ODA. Thông qua đó giữ được nguồn cam kết và giải ngân nguồn vốn ODA cho Việt Nam.
- Xây dựng một đội ngũ cán bộ có năng lực: tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là nhiệm
vụ hàng đầu của công tác quản lý nhà nước. Trước hết, trong liên doanh các cán bộ bên Việt
Nam là người đại diện cho quyền lợi phía Việt Nam nên họ phải là những người có đủ năng
lực chuyên môn, trình độ ngoại ngữ.
3.2.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước
- NHNN cần mạnh mẽ và quyết liệt hơn trong vấn đề tái cơ cấu hệ thống ngân hàng: Các
vấn đề nội tại của hệ thống ngân hàng Việt Nam và độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng quốc

hình thành các tập đoàn tài chính ngân hàng quy mô lớn.
o Tiến hành sáp nhập các NHTMCP nhỏ thành ngân hàng quy mô lớn để phát huy được
lợi ích kinh tế nhờ quy mô, đồng thời tận dụng được những thế mạnh hiện có của bản
thân các ngân hàng này về mạng lưới cũng như hệ thống các khách hàng lâu năm.
- Tăng cường công tác thanh tra, giám sát hệ thống ngân hàng: Thời gian qua công tác
thanh tra, giám sát của NHNN đối với việc tham gia góp vốn của các ngân hàng, tổ chức tài
chính quốc tế vào các NHTM Việt Nam đã có sự đổi mới về phương thức tổ chức, chỉ đạo
thực hiện, đã đem lại sự cải thiện rõ rệt về chất lượng và hiệu quả góp phần nâng cao hiệu lực
quản lý Nhà nước, từng bước lập lại kỷ cương trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, đồng thời hỗ
trợ tích cực cho quá trình cơ cấu lại các TCTD. Tuy nhiên, xét về một vài khía cạnh nào đó,
công tác này vẫn còn tồn tại không ít hạn chế. Do đó, trong thời gian tới, NHNN cần thiết đẩy
mạnh hơn nữa công tác thanh tra toàn diện, thực trạng tài chính, hoạt động và những yếu
kém, hạn chế của TCTD, đặc biệt là các TCTD có sự tham gia góp vốn quốc tế, để những
phát hiện và kiến nghị của Thanh tra, giám sát ngân hàng thực sự góp phần quan trọng trong
việc hoàn thiện các quy định, chính sách quản lý đối với lĩnh vực ngân hàng.
3.2.3. Kiến nghị đối với các cơ quan khác
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cần quy định chăt chẽ doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán
công bố thông tin rõ ràng, minh bạch. Đặc biệt, cần có biện pháp xử lý nghiêm, phạt nặng những đơn
vị không chấp hành. Mục đích chính là tạo luồng dư luận cho các nhà đầu tư nước ngoài tham gia
mua cổ phần các Ngân hàng Việt Nam. Thực hiện chính sách nới "room" để kích sóng ngoại, dù giá
CP NH hiện nay khá thấp nhưng với các quy định hiện nay cũng khó để tạo được một trào lưu mới
thu hút vốn ngoại vào các NH nội. Muốn thực hiện điều này, phải tăng "room" cho đối tác ngoại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status