thực trạng dịch vụ ngân hàng quốc tế của các ngân hàng thương mại tại việt nam - Pdf 25

Tiểu luận ngân hàng quốc tế : THỰC TRẠNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC
TẾ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
I. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ:
1. Khái niệm:
Ngân hàng quốc tế đề cập đến các dịch vụ ngân hàng được cung cấp vượt qua bên
ngoài biên giới một quốc gia.
2. Phân loại:
Có hai loại chính của Ngân hàng quốc tế:
 Foreign banking bao gồm các giao dịch với người không cư trú bằng đồng tiền
nội tệ tạo điều kiện cho tài trợ thương mại.
 Eurocurrency banking bao gồm các ngân hàng cung cấp các giao dịch ngoại
hối (huy động và cho vay) với các khách hàng là người cư trú và người không
cư trú.
3. Lược sử về sự phát triển của các giao dịch Ngân hàng quốc tế:
3.1 Đôi nét về lịch sử ngân hàng và dịch vụ ngân hàng :
Lúc đầu kinh doanh tiền tệ do nhà thờ đứng ra tổ chức vì đây là nơi tôn nghiêm
được dân chúng tin tưởng để ký gửi tài sản và vàng bạc. Về sau, do nhận thấy việc
kinh doanh này cũng có nhiều lợi lộc nên nhiều giới nhảy vào kinh doanh tiền tệ.
Những tổ chức này được coi là tiền thân của ngân hàng. Thời kỳ cuối thế kỷ 14
(thời kỳ phục hưng) phần lớn còn mang tính chất gia đình, các tổ chức kinh doanh
tiền tệ phát triển nhanh và mở rộng thêm nhiều nghiệp vụ mới như chi trả bằng
thương phiếu, tổ chức thanh toán bù trừ … chủ yếu là các gia đình ở Pháp, ý, Anh,
Đức. Ngân hàng ra đời sớm nhất ở Venise của Ý năm 1580. Đầu thế kỷ 17 (thời kỳ
cận đại) xuất hiện một số tổ chức kinh doanh tiền tệ lớn, sở hữu tư nhân được coi là
khởi điểm của kỷ nguyên ngân hàng hiện đại như ngân hàng Amsterdam (Hà Lan),
ngân hàng Hamburg (Đức) Châu âu.
Nhóm 3 – NH Đêm 4, K21 Page 1
Tiểu luận ngân hàng quốc tế : THỰC TRẠNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC
TẾ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
+ Đầu thế kỷ 15 của thế kỷ này, hoạt động ngân hàng còn độc lập chưa tạo ra hệ
thống chịu sự ràng buộc lẫn nhau, chức năng hoạt động của các ngân hàng hầu như

Tiểu luận ngân hàng quốc tế : THỰC TRẠNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC
TẾ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
Trong vòng năm thế kỷ, từ thế kỷ thứ V tới thế kỷ thứ X, nhiều hoạt động mới
được áp dụng và đạt được những bước tiến mới về nghiệp vụ ngân hàng như :
(a) Ngân hàng bắt đầu ghi chép và theo dõi hoạt động của thân chủ qua số hiệu
tài khoản.
(b) Ngân hàng áp dụng phương pháp bù trừ. Những chủ nợ của cùng một loại
tiền hay tài sản thì được thanh toán chuyển nhượng lẫn nhau trong mua bán giữa
họ ở cùng một ngân hàng và kể cả đối tác ở ngân hàng khác, và nợ đáo hạn được
bù trừ.
(c) Nghiệp vụ chuyển ngân, tức là nghiệp vụ chuyển tiền từ nơi này sang nơi
khác, cũng được áp dụng.
(d) Ngân hàng cũng làm nghiệp vụ bảo lãnh, là biểu hiện ban đầu của hình thức
chấp nhận các thương phiếu trong nghiệp vụ ngân hàng hiện đại.
(e) Ngân hàng đã áp dụng chiết khấu thương phiếu.
iii) Giai đoạn thứ ba:
Ngân hàng đánh dấu sự phát triển vào giai đoạn thứ ba với việc mạnh dạn cho vay
tiền, tạo ra các khoản tiển mới trong lưu thông. Ngân hàng từ lâu đã phát hành các
chứng thư (như Séc ngày nay) khi có người gửi vào ngân hàng bằng tiền vàng hoặc
tiền đúc – 100 tiền ngân hàng thay cho 100 tiền vàng đúc. Tuy nhiên vào cuối thế kỷ
thứ 17, khi chứng thư được chấp nhận rộng rãi và nhu cầu tăng đột ngột, một số ngân
hàng đã phát hành các chứng thư tự do (không có tiền vàng bảo đảm) và tiền ngân
hàng ra đời. Tuy nhiên, tiền ngân hàng (Bank notes) chỉ được lưu hành rộng rãi từ đầu
thế kỷ thứ 20, sau khi nhà nước độc quyền phát hành giấy bạc pháp định. Ngày nay
do sự phát triển về kinh tế, đặc biệt là khoa học công nghệ, dịch vụ ngân hàng đã phát
triển về mọi mặt và ra đời những loại sử dụng công nghệ cao như thanh toán bằng thẻ
điện tử, ứng dụng mạng SWIFT,…
Do sự đa dạng của dịch vụ ngân hàng nên không thể có định nghĩa cụ thể, thống
nhất về dịch vụ ngân hàng. Hiểu nôm na, dịch vụ ngân hàng nói chung là tất cả những
việc mà ngân hàng thường làm trong khuôn khổ nghề nghiệp của họ

hàng quốc tế lần thứ hai.
Bên cạnh làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng ồ ạt của các nước tư bàn, còn có
một làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng thứ ba của các nước đang phát triển diễn
ra bình lặng và cuối thập kỷ 70.
Làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng thứ tư bắt đầu bằng sự kiện ra đời đạo luật
nhất thể hóa Châu Âu ban hành vào năm 1986, trong đó Cộng đồng Châu Âu xóa bỏ
mọi rào chắn đối với luồng vốn quốc tế. Điều này tạo điều kiện cho dịch vụ ngân
Nhóm 3 – NH Đêm 4, K21 Page 4
Tiểu luận ngân hàng quốc tế : THỰC TRẠNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC
TẾ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
hàng quốc tế phát triển mạnh mẽ về chất lượng và số lượng và vì vậy các nghiệp vụ
ngân hàng quốc tế mang tính toàn cầu hóa.
4. Đặc điểm của các dịch vụ ngân hàng quốc tế:
Mặc dù ngày nay dịch vụ ngân hàng quốc tế của ngân hàng thương mại phát triển
đa dạng về hình thức cũng như nội dung, tuy nhiên sau khi nghiên cứu về học thuật
cũng như quá trình vận động phát triển của nó, chúng ta rút ra những đặc điểm
chung như sau:
- Xu thế gia tăng nhanh hơn mức tăng tiềm lực sản xuất: Như đã trình bày trong
phần lịch
sử
phát triển, ngày nay xu thế quốc tế hoá hoạt động ngân hàng đang diễn
ra mạnh mẽ. Trong lĩnh
vự
c
kinh
doanh và sản xuất hàng hoá cũng diễn ra xu thế
toàn cầu hoá nhưng thực tế cho thấy mức độ thấp hơn của thị trường tài chính.
Hàng ngày, lượng tiền tệ lưu chuyển trên thị trường tài chính thế giới cao gấp 30 lần
khối lượng hàng hoá lưu chuyển trên phạm vi toàn cầu. Đối với các nước đang phát
triển, chỉ trong 8 năm (1990-1997), dòng vốn đầu tư tư nhân đổ vào tăng hơn 5

càng cao lợi nhuận càng lớn nên các ngân hàng vẫn phát triển hoạt
động

kinh
doanh quốc tế để có cơ hội và tiềm năng phát triển lâu dài.
- Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế chịu ảnh hưởng nhiều bởi luật
pháp quốc tế và
thông lệ quốc tế: Đặc điểm này do tính quốc tế của dịch vụ
ngân hàng quốc tế
quyết định. Do sự phức tạp trong môi trường hoạt động kinh doanh quốc tế, do
sự không thống nhất về luật pháp giữa các quốc gia, do trình độ phát triển không
đồng đều mà đòi hỏi
phả
i

luật pháp quốc tế, thông lệ quốc tế tạo điều kiện
thuận lợi và an toàn cho các ngân hàng thực hiện dịch vụ ngân hàng quốc tế.
5. Giới thiệu các dịch vụ Ngân hàng quốc tế:
Phần này sẽ cung cấp tổng quan về các loại dịch vụ khác nhau mà Ngân hàng quốc
tế cung cấp. Hầu hết các dịch vụ này được thiết kế để phục vụ cho nhu cầu của các
Công ty quốc tế lớn.
- Dịch vụ chuyển tiền và quản lý tiền mặt.
- Tín dụng quốc tế: Ngân hàng quốc tế cung cấp các khoản vay cho các khách hàng
quốc tế của họ đối bằng một số loại tiền nhất định với các điều kiện khác nhau (cố
định hoặc thả nổi lãi suất, bảo đảm hoặc không có bảo đảm) đối với các kỳ hạn khác
nhau.
- Cho vay hợp vốn: Hai hoặc nhiều ngân hàng cùng cho vay đối với một doanh
nghiệp.
- Các giao dịch ngoại hối và tài trợ thương mại.
- Phát hành trái phiếu.

doanh tạo tiền đề thực hiện đầu tư kinh doanh sau này.
Ví dụ: Rủi ro tín dụng tương quan với một số biến quốc gia cụ thể. Trong một
cuộc suy thoái, số lượng các khoản nợ xấu sẽ tăng mạnh. Ngân hàng quốc tế đa dạng
hóa thu nhập của họ nếu họ cho vay đối với khách hàng ở các nền kinh tế khác nhau
và chu kỳ kinh doanh trong các nền kinh tế này là không hoàn toàn đồng bộ.
III. HỆ THỐNG NGÂN HÀNG QUỐC TẾ NGÀY NAY:
1. Các hình thức tổ chức Ngân hàng quốc tế:
Như chúng ta đã biết, nét đặc trưng để phân biệt dịch vụ ngân hàng quốc tế với
dịch vụ ngân hàng trong nước đó là tính quốc tế. Xét về mặt
không gian thì khoảng
cách địa lý giữa các đối tác là lớn, vượt ngoài phạm vi
biên giới quốc gia. Chính vì
vậy ngân hàng thương mại ngoài trụ sở chính còn phải sử dụng nhiều hình thức khác
như :
Văn phòng đại diện: là đơn vị dịch vụ nhỏ do ngân hàng mẹ thành lập ở nước
ngoài nhằm trợ giúp cho các công ty trong nước kinh doanh ở nước ngoài, là đối tác
nước ngoài của ngân hàng mẹ, trong việc quan hệ với các ngân hàng đại lý. Các văn
phòng này thường có ít nhân viên, không nhận tiền gửi, và chủ yếu thực hiện các công
việc chuẩn bị cơ bản cho các khoản vay đối với người đi vay từ trụ sở chính, phát
Nhóm 3 – NH Đêm 4, K21 Page 7
Tiểu luận ngân hàng quốc tế : THỰC TRẠNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC
TẾ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
triển hoạt động kinh doanh…Việc thiết lập văn phòng đại diện ở nước ngoài thường
là bước đầu tiên trong quá trình phát triển hoạt động kinh doanh ở nước ngoài.
Chi nhánh ngân vỏ bọc: là các văn phòng nước ngoài được thiết lập nhằm tham
gia vào các thị trường tiền tệ châu Âu để dành các khoản nợ đồng đô la châu Âu hay
thực hiện các khoản vay ngân hàng nước ngoài. Chúng nằm chủ yếu ở những nơi có
nền tài chính chủ yếu, như Bahamas, nơi chúng hoạt động mà không phải chịu thuế;
họ không quan tâm đến công việc kinh doanh ở địa phương. Loại hình này xuất hiện
nhiều ở Mỹ.

Ngân hàng liên doanh: Đây là hình thức ngân hàng góp vốn để kinh doanh giữa
một hoặc nhiều ngân hàng nước ngoài với một hoặc nhiều ngân hàng địa phương hoạt
động theo khuôn khổ của pháp luật địa phương. Cũng giống như ngân hàng con ở
nước ngoài, ngân hàng liên doanh định chế độc lập đối với ngân hàng mẹ, hạch toán
độc lập, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Nhược điểm lớn nhất của ngân
hàng liên doanh là sự khó khăn trong quản lý.
Liên minh ngân hàng: Đây là hình thức liên minh tạm thời giữa các ngân hàng.
Các ngân hàng của các quốc gia khác nhau cùng nhau tham gia hoạt động cho vay
quốc tế. Nét đặc trưng chính của liên minh là cùng nhau thực hiện các nghiệp vụ đặc
biệt và phân chia thị trường theo vùng địa lý. Trên thực tế, liên minh thường hoạt
động tại các trung tâm tài chính và hoạt động của họ chủ yếu diễn ra trên thị trường
tài chính và tiền tệ quốc tế.
Các câu lạc bộ ngân hàng: Đây là một hình thức hợp tác ngân hàng lâu dài có
nguồn gốc từ việc cùng tham gia vào một liên kết nào đó. Thành viên của câu lạc bộ
là các ngân hàng của các nước khác nhau cùng nhau góp vốn kinh doanh mà không
có bất cứ một thủ tục pháp lý sáp nhập nào. Các hình thức của câu lạc bộ ngân hàng
được phát triển mạnh mẽ vào đầu thập niên 1970.
Cơ chế ngân hàng hải ngoại (International Banking Facilities -IBF): Vào tháng
12 năm 1981, các IBF được cục dự trữ liên bang Mỹ uỷ quyền cấp phép cho các ngân
hàng và các tổ chức tiền gửi khác thực hiện hoạt động ngân hàng quốc tế trong nước
Mỹ trên cơ sở giống như các chi nhánh và các ngân hàng trực thuộc nước ngoài của
các ngân hàng Mỹ. Khi cấp phép cho các IBF, ý đồ chính của Fed là nhằm thu họat
động này trở lại Mỹ. IBF tạo ra cho các ngân hàng môi trường tương đối tự do giống
như môi trường các chi nhánh và ngân hàng trực thuộc của họ đã gặp ở nước ngoài.
Không có các quy định dự trữ hay các hạn chế lãi suất nào đối với tiền gửi của người
nước ngoài, không phải bảo hiểm cho các khoản tiền gửi và tránh được những đánh
giá liên quan đến bảo hiểm. Phần lớn các tài sản của IBF bao gồm các khoản cho vay
đối với các doanh nghiệp, chính phủ và ngân hàng trung ương nước ngoài với mục
đích sử dụng ngoài nước Mỹ. Nguồn vốn của họ là từ các khoản vay liên ngân hàng
của các tổ chức quốc tế , các chính phủ và các cơ quan nước ngoài.

qua, London đã bị mất đi phần nào những gì làm cho nó có thể thu hút các ngân hàng
quốc tế.Tuy nhiên, vẫn còn những yếu tố khác so với các quy định lỏng lẻo về cho
vay bằng ngoại tệ mà làm cho London hấp dẫn đối với các ngân hàng quốc tế. Những
yếu tố này là việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh cũng như vị trí địa lý của nó giữa Mỹ
và châu Á, tạo điều kiện kinh doanh tại các thị trường vốn quốc tế qua các múi giờ
khác nhau.
The top 30 banks in the world based ranked according to Market Capitalisation
in 2012
All banks have been ranked by total Market Capitalisation in US$ in 2012.
Rank
2012
Bank
Market Capitalisation (Billion US$)
2012 2011 2010 2009 2008 2003
1
Industrial & Commercial
Bank of China (ICBC)
241.7 224.2 234.1 269.4 174.2 249.8
2 China Construction Bank 196.6 167.9 223.0 201.8 128.6 171.3
3 Wells Fargo & Co 161.4 150.9 181.0 199.7 118.0 119.6
4 HSBC Holdings 151.6 135.7 166.5 171.5 115.5 99.7
5 Agricultural Bank of China 142.4 131.1 163.4 154.4 98.5 86.3
6 JP Morgan Chase 141.7 123.0 140.6 138.4 98.3 80.0
7 Bank of China 129.5 121.7 138.1 137.0 75.3 74.6
8 Itau Unibanco 88.9 76.9 135.7 130.7 71.0 61.6
9 Citigroup 87.4 76.1 135.2 95.4 70.4 57.4
10 Commonwealth 83.3 75.6 98.3 94.6 45.4 57.3
11 Royal Bank Canada 77.3 71.3 89.3 90.4 44.4 55.9
12 Bank of America 72.5 71.2 81.3 76.8 43.9 55.7
13 Toronto-Dominion Bank 71.2 66.0 77.3 76.1 41.2 51.3

Nhóm 3 – NH Đêm 4, K21 Page 13
Tiểu luận ngân hàng quốc tế : THỰC TRẠNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC
TẾ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
Theo số liệu của BIS (Bank for International Settlements) về sự phát triển thị phần của các
trung tâm ngân hàng lớn nhất trong các hoạt động giữa các nước. Trong Q2 năm 2007, các
ngân hàng ở Vương quốc Anh đã nắm giữ 20,4% tài sản ngân hàng quốc tế, và 22,8% các
khoản nợ ngân hàng quốc tế, chủ yếu là do các khoản tiền gửi quốc tế. Trung tâm ngân hàng
lớn nhất tiếp theo là Hoa Kỳ, có thị phần nợ là 12,6% lớn hơn giá trị tài sản quốc tế là 9,2%,
phản ánh việc cho kinh tế trong nước Mỹ vay lại . Thị phần của các ngân hàng ở Nhật Bản
tăng đáng kể trong những năm 1980, nhưng đảo ngược ngay sau đó, các ngân hàng bị suy
yếu do khủng hoảng tài chính vừa xảy ra từ thị trường quốc tế. Với các ngân hàng ở Đức,
Pháp, quần đảo Cayman và Thụy Sĩ dao động trong khoảng từ 3-10% thị phần.
Ngân hàng quốc tế đang phải đối mặt với ba xu hướng ngành công nghiệp có ảnh
hưởng sâu sắc tới hoạt động và chiến lược của các ngân hàng. Đó là:
 Bãi bỏ quy định.
 Đổi mới tài chính.
Nhóm 3 – NH Đêm 4, K21 Page 14
Tiểu luận ngân hàng quốc tế : THỰC TRẠNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC
TẾ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
 Toàn cầu hóa.
Những xu hướng này không nên xem xét tách biệt, mà nên liên kết lại và có thể được
xem như là bổ trợ lẫn nhau.
Bãi bỏ quy định
Bãi bỏ quy định của cả hai thị trường tài chính và các ngân hàng có tốc độ tăng trong
25 năm qua. Bãi bỏ quy định chủ yếu hướng tới các hoạt động cạnh tranh của các
ngân hàng, đồng thời tăng cường đi sâu giám sát hệ thống tài chính một cách tổng thể.
Về bản chất, bãi bỏ quy định đã cho ngân hàng sự tự do thương mại và mang lại nhiều
cơ hội cho ngân hàng quốc tế. Mathew và Thompson (2008) chỉ ra ba giai đoạn của
bãi bỏ quy định ngân hàng quốc tế:
 Giai đoạn đầu tiên đã được chỉ đạo bãi bỏ các kiểm soát định lượng như Quy

tiền gửi không kỳ hạn tại thời điểm đó. Kết quả của việc lãi suất biến đổi dựa
trên việc cho vay và tiền gửi (thực thế là dựa trên cung và cầu của việc cho
vay) là một sự gia tăng lớn trong bảng cân đối kế toán của các ngân hàng cho
vay trong nước và quốc tế.
 Các hình thức khác nhau của công nghệ quản lý tiền mặt (bao gồm cả chuyển
khoản điện tử, máy rút tiền và thẻ ghi nợ) đã giảm đáng kể các chi phí quản lý
tiền mặt cho các ngân hàng.Kết quả là, các rào cản gia nhập cho các ngân hàng
mới đã được hạ xuống tạo ra sự tranh đua tăng đáng kể trong quá trình này.
Toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa của các ngân hàng quốc tế đã lặp lại sự tăng trưởng trong thương mại
quốc tế và sự tăng trưởng trong các tập đoàn đa quốc gia nói chung. Ví dụ, sự tăng
trưởng của các công ty đa quốc gia của Mỹ và mở rộng sang châu Âu đã làm tăng nhu
cầu đối với dịch vụ ngân hàng quốc tế của các doanh nghiệp này.
Tăng cường động lực thúc đẩy toàn cầu hóa của các ngân hàng đến từ sự hội nhập
(EU, NAFTA) cũng như các tổ chức như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) làm
thúc đẩy tự do thương mại.
 Nhiều nhà bình luận đã cho rằng không phải bãi bỏ quy định hay toàn cầu hóa,
mà sự thay đổi tỷ lệ lãi suất là nhân tố chính góp phần vào sự phát triển của hoạt
động ngân hàng quốc tế.
 Bằng cách dựa vào cung cầu tín dụng (có nghĩa là, có thể điều chỉnh giá (lãi
suất) của tín dụng), các ngân hàng có thể thu hút nhiều khách hàng hơn. Ngân
hàng quốc tế có thể cung cấp dịch vụ ngân hàng cho các cư dân bên ngoài đất
nước của họ. Lần đầu tiên, các ngân hàng đã có thể cạnh tranh với nhau trên cơ sở
Nhóm 3 – NH Đêm 4, K21 Page 16
Tiểu luận ngân hàng quốc tế : THỰC TRẠNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC
TẾ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
lãi suất. Tuy nhiên, cho vay với mức lãi suất cao hơn thường liên quan đến nguy
cơ cao hơn.
IV. Vai trò của Ngân hàng Quốc tế
Cùng với sự phát triển của Thương mại hóa toàn cầu và các công ty đa quốc gia, sự

với một doanh nghiệp. Nợ gốc thường vượt quá 50 triệu USD. Khoản tiền vay lớn
như vậy sẽ là quá rủi ro bảo lãnh bởi một người cho vay. Bên cạnh thu nhập lãi, ngân
hàng quốc tế sẽ cho vay hợp vốn. Lãi suất áp dụng thường là lãi suất LIBOR.
+ Thực hiện các giao dịch ngoại hối và tài trợ thương mại. Tài trợ thương mại là
dịch vụ truyền thống của ngân hàng quốc tế trong nhiều thế kỷ và có tầm quan trọng
lớn đối với thương mại quốc tế. Ví dụ, một thư tín dụng là một bảo lãnh của ngân
hàng trả cho người bán ( người xuất khẩu) số tiền sau khi người mua (nhập khẩu) đã
nhận được hàng hoá. Người mua, do đó, không cần phải chuyển tiền ra nước ngoài
mà không bảo đảm rằng hàng hóa được chuyển giao hay chưa.
+ Phát hành trái phiếu. Lúc này ngân hàng đóng vai trò là trung gian giữa người
phát hành trái phiếu và người mua, với tư cách là người bảo lãnh phát hành trái phiếu.
Ngân hàng quốc tế mua những trái phiếu mới phát hành của công ty va bán chúng ra
thị trường.
+ Với vai trò là nhà bảo lãnh phát hành và trung gian trên thị trường tài chính. Các
công ty phát hành cổ phiếu đến thị trường vốn. Ngân hàng quốc tế tạo điều kiện cho
tiến trình này.
- Cung cấp giá trị bảo hộ cho các công ty thông qua dịch vụ quản lý rủi ro tỷ
giá, lãi suất…bằng cách sử dụng hợp đồng giao sau, hợp đồng quyền chọn…
- Tài trợ cho những nước có cán cân thanh toán thâm hụt:
Làn sóng toàn cầu hóa ngày càng lan rộng đặc trưng bởi xu hướng tự do hóa thương
mại và tự do hóa tài chính đã làm dòng chu chuyển vốn ngày càng trở nên mạnh mẽ
và tác động to lớn đến nền kinh tế các quốc gia. Để đo lường dòng chu chuyển vốn
người ta sử dụng cán cân thanh toán quốc tế như là một “ bảng kiểm tra sức khỏe tổng
quát” của một nền kinh tế. Ngân hàng quốc tế tạo điều kiện dễ dàng cho việc hợp tác
giữa các quốc gia trong giao dịch quốc tế, có một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ
một số nước có cán cân thanh toán thâm hụt và khủng hoảng nợ quốc tế.
V. THỰC TRẠNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM:
1. Dịch vụ ngân hàng đại lý:
Quan hệ đại lý có vai trò rất quan trọng đối với nghiệp vụ ngân hàng ngày nay. Để

VN đã sẵn sàng chấp nhận thanh toán các thẻ mang thương hiệu Visa, MasterCard,
Amerrican Express, JCB, Dinners Club, CUP và DiscoverCard là các thương hiệu thẻ
hàng đầu và phổ biến nhất thế giới hiện nay.
3. Dịch vụ thanh toán quốc tế:
Nhóm 3 – NH Đêm 4, K21 Page 19
Tiểu luận ngân hàng quốc tế : THỰC TRẠNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC
TẾ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
SWIFT Việt Nam được thành lập vào năm 1996, sau khi 6 ngân hàng đầu tiên của
Việt Nam bao gồm: NHNN, Vietcombank, BIDV, Agribank, Vietinbank, Eximbank
trở thành thành viên của SWIFT vào tháng 3/1995.
Hiện nay, cộng đồng SWIFT Việt Nam bao gồm NHNN và khoảng 80 NHTM
tham gia, đăng ký 88 mã SWIFT, trong đó có 44 mã SWIFT của NHTM cổ phần, 43
mã SWIFT của các ngân hàng nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Theo thống kê của SWIFT, Việt Nam đứng thứ 63 trong tổng số 212 nước trên thế
giới về lưu lượng với số lượng 15 nghìn điện/ngày, đạt mức tăng trưởng gần
13%/năm. Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực Đông Nam Á thì Việt Nam mới
đứng ở vị trí thứ 6 về lưu lượng, trong khi số Ngân hàng đứng thứ 2, chỉ sau
Singapore.
Các phương thức thanh toán quốc tế mà các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam
cung cấp: phương thức chuyển tiền, phương thức nhờ thu, phương thức tín dụng
chứng từ.
4. Các dịch vụ ngân hàng quốc tế khác:
Các dịch vụ ngân hàng khác, như: bao thanh toán - Factoring, quyền chọn tiền tệ -
option, hoán đổi lãi suất, cũng được nhiều ngân hàng thương mại giới thiệu cho
khách hàng. Hiện nay, Hiệp hội Bao thanh toán quốc tế có 200 thành viên ở 60 quốc
gia thì Việt Nam có 11 ngân hàng đã được cấp phép thực hiện dịch vụ bao thanh toán,
bao gồm 4 ngân hàng thương mại trong nước: Vietcombank, ACB, Sacombank,
Techcombank và 7 chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.
Dịch vụ quản lý vốn trên tài khoản của khách hàng đã được Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam triển khai đối với Tổng công ty Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status