Giao nhận hàng không Nguyễn Tùy Anh – A2 QTKDA – K44
2
Luận văn
Biện pháp phát triển dịch vụ
giao nhận vận tải hàng không
tại AA & Logistics
AA đều có những chứng chỉ hành nghề chuyên nghiệp và có một số vị trí đã
đạt được những bằng cấp cao.
AA & Logistics không chỉ cung cấp các dịch vụ vận chuyển đơn
thuần mà hơn thế nữa, AA cung cấp và tư vấn cho khách hang các giải pháp
vận tải hiệu quả và kinh tế.
AA & Logistics có hệ thống đại lý toàn cầu và là thành viên của nhiều
tổ chức hiệp hội chuyên nghiệp nổi tiếng trên thế giới như FIATA, IATA,
APLN, WCA…
2. Lĩnh vực sản xuất kinh doanh:
2.1. Dịch vụ giao nhận hàng hoá bằng đường hàng không:
Giao nhận hàng không Nguyễn Tùy Anh – A2 QTKDA – K44
4
Là đối tác với nhiều hãng hàng không, AA & Logistics là một trong
những công ty hàng đầu Việt Nam về vận chuyển hàng hoá bằng đường
hàng không. AA đã và đang cung cấp nhiều dịch vụ khách nhau: hàng hoá
thông dụng, hàng hoá tươi sống, hàng hoá giá trị cao, hàng hoá nguy
hiểm,… AA là đại lý vận chuyển hàng hoá của 21 hãng hàng không đang
hoạt động tại Việt Nam và là một trong số 10 đại lý lớn nhất của các hang
hàng không.
Để khách hàng có nhiều sự lựa chọn, AA thực hiện dịch vụ vận
chuyển kết hợp đường biển và đường hàng không, trung chuyển qua cảng
Singapore và Dubai, giúp khách hàng vừa viết kiệm chi phí vừa có được
dịch vụ vận chuyển nhanh nhất.
Các dịch vụ cung cấp:
- giao nhận từ kho chủ hàng hoặc sân bay đến sân bay hoặc kho người
nhận
- vận chuyển kết hợp đường biển và đường hàng không
- dịch vụ phát chuyển nhanh
chọn đáng tin cậy của khách hàng để gửi hàng hoá lưu kho. Theo yêu cầu
của khách hàng, AA thực hiện dịch vụ lưu kho bảo quản hàng hoá theo các
hình thức sau:
- tấn / tháng
- m
2
/ tháng
- container / ngày
- thuê bao trọn kho
- dịch vụ Kho ngoại quan
2.4. Dịch vụ đóng gói:
Để đảm bảo việc giao hàng an toàn, đối với tài sản của khách hàng
trên quãng đường dài, cần phải có sự chăm sóc đặc biệt, AA còn cung cấp
them dịch vụ đóng gói tuỳ theo yêu cầu để đảm bảo an toàn cho hàng hoá
trong suốt quá trình vận chuyển từ những đồ nhỏ nhưng giá trị lớn đến
những món hàng cồng kềnh. Đặc biệt, AA thiết kế thùng carton chuyên biệt
để đóng gói những vật dụng gia đình đúng theo quy định của ngành vận
chuyển hàng hải quốc tế.
3. Cơ cấu tổ chức của công ty: Giao nhận hàng không Nguyễn Tùy Anh – A2 QTKDA – K44
6
- Ban giám đốc
+ Giám đốc điều hành
+ Phó giám đốc
+ Kế toán trưởng
nguồn lực mỏng trên thị trường nên khả năng chuyên môn hoá sẽ giảm sút.
AA cần khai thác điểm yếu này của GEMATRANS.
Trong số các công ty giao nhận nước ngoài, đáng chú ý là NISSHIN,
PALNAPINA, đây là những công ty có tiềm lực rất mạnh, lại có uy tín trên
toàn cầu nên sẽ là những đối thủ mạnh không chỉ của AA mà còn là các
công ty giao nhận của Việt Nam nói chung.
Giao nhận hàng không Nguyễn Tùy Anh – A2 QTKDA – K44
7
Ngoài ra trên thị trường là lực lượng rất đông đảo các công ty tư nhân,
thực sự cũng trở thành mối đe doạ với AA do các công ty này rất linh hoạt,
nhanh nhạy, bộ máy quản lý gọn nhẹ, phương thức hoạt động mềm dẻo,
không bị rằng buộc bởi các quy định về tài chính của Nhà nước, đặc biệt là
nhiều nhân viên chủ chốt lại là những người trưởng thành từ những công ty
giao nhận lâu năm nên họ kế thừa được những kinh nghiệm và những mối
quan hệ đã được thiết lập từ trước.
Từ những phân tích trên ta có thể thây, AA đang phải đối đầu với
nhiều đối thủ cạnh tranh rất mạnh trên thị trường.
Giao nhận hàng không Nguyễn Tùy Anh – A2 QTKDA – K44
8
II. Thực trạng giao nhận hàng hoá quốc tế bằng hàng không
tại công ty TNHH giao nhận AA & Logistics
1. Một số vấn đề lý thuyết về dịch vụ giao nhận vận tải hàng hoá bằng hàng
không
1.1. Khái niệm dịch vụ giao nhận bằng hàng không:
Giao nhận vận tải hàng không là một trong những hoạt động nằm
trong khâu lưu thông phân phối hàng hoá, một khâu quan trọng nối liền sản
xuất với tiêu thụ, hai khâu chủ yếu của chu trình tái sản xuất xã hội. Giao
- Nghiên cứu những điều khoản trong tín dụng thư
Giao nhận hàng không Nguyễn Tùy Anh – A2 QTKDA – K44
9
- Đóng gói hàng hoá (trừ việc đóng gói hàng hoá thuộc trách nhiệm của
người gửi hàng trước khi giao cho người giao nhận) có tính đến tuyến
đường, phương thức vận tải, bản chất của hàng hoá, và những quy chế
áp dụng nếu có, ở nước xuất khẩu, nước quá cảnh và nước nhập khẩu.
- Lo liệu việc lưu kho, cân đo, mua bảo hiểm cho hàng hoá khi khách
hàng yêu cầu.
- Vận tải hàng hoá đến cảng, thực hiện việc khai báo hải quan, các thủ
tục chứng từ lien quan và giao hàng cho người chuyên chở.
- Thực hiện việc giao dịch ngoại hối nếu có
- Thanh toán phí và những chi phí khác bao gồm cả tiền cước.
- Nhận vận đơn đã ký của người chuyên chở giao cho người gửi hàng.
- Thu xếp việc chuyển tải trên đường nếu cần thiết.
- Giám sát việc vận tải hàng hoá trên đường gửi tới người nhận hàng
thông qua những mối liên hệ với người chuyên chở và đại lý của
người giao nhận ở nước ngoài.
- Ghi nhận những tổn thất của hàng hoá, nếu có.
- Giúp đỡ người gửi hàng tiến hành khiếu nại với người chuyên chở về
tổn thất hàng hoá, nếu có.
1.3.2. Dịch vụ thay mặt người nhận hàng (người nhập khẩu)
Theo những chỉ dẫn của khách hàng, người giao nhận sẽ:
- Thay mặt người nhận hàng giám sát việc vận tải hàng hoá khi trách
nhiệm vận tải hàng hoá thuộc về người nhận hàng.
- Nhận và kiểm tra tất cả những chứng từ liên quan đến việc vận chuyển
hàng hoá, quan trọng nhất là vận đơn.
- Nhận hàng của người chuyên chở và nếu cần thì thanh toán cước.
- Thu xếp việc khai báo hải quan và trả lệ phí, thuế và những phí khác
lắp thêm những thanh bar ngang hoặc dọc hay những sợi dây có móc để
móc mắc treo vào. Loại container này có những yêu cầu về vệ sinh rất
nghiêm ngặt. Ở nơi đến, quần áo được chuyển trực tiếp từ container vào
cửa hàng để bày bán. Cách này loại bỏ được việc phải chế biến lại quần
áo nếu đóng nhồi trong container, đồng thời tránh được ẩm ướt, bụi bậm.
- Giao nhận hàng triển lãm
Người giao nhận thường được người tổ chức triển lãm hay các đơn vị
tham gia triển lãm giao cho việc chuyên chở hàng đến nơi triển lãm ở
nước ngoài. Đây thường là hàng tạm nhập tái xuất hoặc tạm xuất tái nhậ
nên cũng có những thủ tục riêng trong giao nhận không giống hàng hoá
xuất nhập khẩu thông thường đòi hỏi người giao nhận phải có kinh
nghiệm.
1.3.4. Các dịch vụ khác:
Ngoài những dịch vụ nêu trên, tuỳ thuộc vào yêu cầu của khách hàng,
người giao nhận có thể làm những dịch vụ khác nảy sinh trong quá trình
chuyên chở và cả những dịch vụ đặc biệt như gom hàng, dịch vụ liên quan
đến hàng công trình, công trình chìa khoá trao tay …
Người giao nhận cũng có thể thông báo cho khách hàng của mình về
nhu cầu tiêu dùng, thị trường mới, tình hình cạnh tranh, chiến lược xuất
khẩu, những điều kh oản cần đưa vào hợp đồng mua bán ngoại thương, tóm
lại là tất cả những vấn đề liên quan đến công việc kinh doanh của khách
hàng, cho dù khách hàg có yêu cầu hay không.
1.4. Quy trình giao nhận hàng hoá bằng hàng không:
1.4.1. Giao hàng xuất khẩu:
Giao nhận hàng không Nguyễn Tùy Anh – A2 QTKDA – K44
11
Sau khi ký hợp đồng ngoại thương, người xuất khẩu tiến hành chuẩn
bị hàng hoá và lập một số chứng từ cần thiết về hàng hoá để giao hàng cho
hãng hàng không. Thông thường, họ uỷ thác cho người giao nhận hay đại lý
có trách nhiệm giao hàng tại đích. Nội dung chính của FTC gồm:
Tên, địa chỉ của người uỷ thác;
Tên và địa chỉ của người nhận hàng;
Địa chỉ thông báo;
Phương tiện vận chuyển;
Giao nhận hàng không Nguyễn Tùy Anh – A2 QTKDA – K44
12
Từ/qua;
Nơi hàng đến;
Tên hàng;
Ký mã và số hiệu hàng hoá;
Trọng lượng cả bì;
Thể tích;
Bảo hiểm
Cước phí và kinh phí trả cho;
Nơi và ngày phát hành chứng từ.
- Người giao nhận sẽ cấp biên lai kho hàng cho người xuất khẩu (FWR
– forwarder’s warehouse receipt) nếu hàng được lưu tại kho của người
giao nhận trước khi gửi cho hãng hàng không. FWR gồm những nội
dung chính sau:
Tên và người cung cấp hàng;
Tên người gửi vào kho;
Tên thủ kho;
Tên kho;
Phương tiện vận tải;
Tên hàng;
Trọng lượng cả bì;
Tình trạng bên ngoài của hàng hoá khi nhận và ai nhận;
Mã và số hiệu hàng hoá;
Số hiệu và bao bì;
Tên hàng, chủng loại bao kiện, tên và đặc điểm hàng hoá;
Ký mã hiệu hàng hoá;
Số lượng hàng hoá;
Đơn giá, trị giá;
Người và ngày xin cấp giấy phép;
Xác nhận của hải quan;
Cơ quan duyệt cấp giấy phép ký tên, đóng dấu.
Bản kê chi tiết hàng hoá: là bản khai chi tiết về hàng hoá của
người gửi hàng, nhiều khi người ta dung phiếu đóng gói thay
bản kê khai chi tiết. Nội dung chính của bản khai chi tiết:
Tên và địa chỉ của người gửi hàng;
Tên hàng;
Ký mã hiệu của hàng;
Số kiện hàng;
Trọng lượng toàn bộ;
Trọng lượng tịnh;
Kích thước của hàng hoá;
Mô tả hàng hoá;
Chữ ký của người lập.
Bản lược khai hàng hoá là một bản kê khai tóm tắt về hàng hoá
chuyên chở. Lược khai hàng hoá do người giao nhận lập khi
hàng có nhiều lô hàng sẽ gửi chung một vận đơn (trường hợp
gom hàng). Lược khai hàng hoá bao gồm những nội dung chính
sau:
Tên, địa chỉ người gửi;
Giao nhận hàng không Nguyễn Tùy Anh – A2 QTKDA – K44
14
Tên, địa chỉ người nhận;
Số thứ tự của vận đơn;
Tên hàng
Hoá đơn thương mại
Bản kê khai chi tiết hàng hoá
Giấy chứng nhận xuất xứ
Phiếu đóng gói
Lược khai hàng hoá
Và chứng từ cần thiết khác theo yêu cầu của nước nhập khẩu
Giao nhận hàng không Nguyễn Tùy Anh – A2 QTKDA – K44
15
Người giao nhận sẽ giao lại bản gốc số 3 cho người gửi hàng (MWAB
hoặc HAWB) cùng thông báo thuế và thu tiền cước cùng các khoản chi phí
cần thiết có liên quan.
1.4.2. Nhận hàng nhập khẩu:
Theo sự uỷ thác của người giao nhận nước ngoài hay người nhập
khẩu, người đại lý hay người giao nhận hàng không sẽ tiến hành giao nhận
hàng hoá bằng chứng từ được gửi từ nước xuất khẩu và những chứng từ do
nước nhập khẩu cung cấp.
- Nếu chỉ có trách nhiệm giao hàng cho người nhập khẩu tại kho hay
trạm giao nhận hàng hoá của sân bay thì sau khi được thông báo đã
đến của hãng vận chuyển cấp vận đơn thì:
Người giao nhận trực tiếp lên sân bay nhận bộ hồ sơ gửi kèm
theo hàng hoá (đã trình bày ở phần giao hàng xuất khẩu)
Sau khi thu hồi bản vạn đơn gốc số 2, người giao nhận cùng
người nhập khẩu làm các thủ tục nhận hàng ở sân bay.
Nếu người giao nhận là đại lý gom hàng thì phải nhận lô hàng
nguyên bằng vận đơn chủ sau đó chia hàng và giao cho các chủ
hàng lẻ và thu hồi lại vận đơn gom hàng.
- Nếu người giao nhận có trách nhiệm giao hàng đến đích, thì ngoài
việc thu hồi các bản số 2 của vận đơn chủ hoặc vận đơn gom hàng,
dịch vụ, chứng từ lô hàng sẽ được người phụ trách chứng từ trực tiếp nhận
và kiểm tra. Sau đó, người phụ trách chứng từ sẽ chuyển hồ sơ và thông tin
khách hàng cho Giám sát Bộ phận giao nhận để phân công thực hiện lô
hàng.
Khi đã có thông tin về khách hàng của AA, bộ phận giao nhận dưới sự
phân công của Giám sát bộ phận, sẽ liên lạc trực tiếp với khách hàng để lấy
thông tin về lô hàng, yêu cầu khách hàng fax bản chứng từ để kiểm tra 2
ngày trước ngày hàng đến hoặc 1 ngày trước ngày xuất hàng. Sau đó bộ
phận giao nhận chuyển cho người lập chứng từ Double check và chuẩn bị hồ
sơ.
2.1.2. Tìm hiểu hồ sơ khách hàng
Sau khi kiểm tra chứng từ copy của lô hàng đầy đủ và hợp lệ, nhân
viên giao nhận sẽ yêu cầu người phụ trách chứng từ cùng kiểm tra và lập hồ
sơ.
Đối với những lô hàng có trục trặc về khâu chứng từ hoặc về hàng
hoá, nhân viên giao nhận phải thông báo cho Giám sát bộ phận biết tình
hình, phối hợp với khách hàng khắc phục thiếu sót hoặc tìm cách tháo gỡ.
Khi có khả năng phát sinh chi phí thực hiện lô hàng, giám sát bộ phận sẽ
thông báo với Bộ phận Sales để báo lại giá và cùng khách hàng thống nhất
cách xử lý.
2.1.3. Tiến hành thủ tục cần thiết để giao nhận hàng hoá
Ngay lập tức khi nhận được Thông báo hàng đến hoặc chứng từ hàng
xuất phải đên gặp khách hàng để lấy chứng từ gốc (đối với hàng nhập), hoặc
lấy chữ ký của người có thẩm quyền phía khách hàng (đối với hàng xuất) để
hoàn tất hồ sơ khai báo hải quan. Khi giao nhận chứng từ gốc với khách
hàng phải có Document Delivery Note, hai bên ký nhận và mỗi bên giữ một
bản.
Giao nhận hàng không Nguyễn Tùy Anh – A2 QTKDA – K44
2.1.4. Lên chí phí lô hàng
Chi phí thực hiện lô hàng được áp dụng theo Bảng giá Cost của Công
ty đã được Giám đốc công ty thông qua. Nhân viên giao nhận sử dụng tối đa
kinh nghiệm nghiệp vụ của mình và hạn chế chi phí trong phạm vi bảng giá
nói trên. Những chi phí nào có hoá đơn, nhân viên giao nhận phải xuất trình
đầy đủ, hợp lệ hoặc phải giải trình một cách hợp lý. Nếu không có, khoản
chi phí đó sẽ không được duyệt. Bất kỳ một chi phí phát sinh nào trong quá
trình làm hàng phải được sự đồng ý của Giám đốc bộ phận, do Giám sát bộ
phận duyệt trước và xin ý kiến Giám đốc bộ phận và cũng phải chịu trách
nhiệm giải trình khi thanh toán. Giám sát bộ phận có trách nhiệm nắm rõ
Giao nhận hàng không Nguyễn Tùy Anh – A2 QTKDA – K44
18
tình hành làm hàng của nhân viên và xác nhận được những chi phí phát sinh
đó. Những chi phí phát sinh phải được thông báo kịp thời ch khách hàng
(trường hợp phát sinh từ phía khách hàng) hoặc giám sát bộ phận phải trình
báo lên Giám đốc bộ phận (nếu phát sinh từ phía Công ty AA và Công ty
AA chịu phát sinh đó)
Trước mỗi lô hàng, nhân viên giao nhận phải làm Bản dự chi để trình
Giám sát bộ phận. Giám sát bộ phận được phép ký duyệt Tạm ứng cho nhân
viên giao nhận với số dư nợ tối đa của mỗi lô hàng không vượt quá
5.000.000đ, nếu vượt quá năm triệu đồng sẽ chuyển cho Giám đốc ký duyệt
và phải có chữ ký của Giám sát bộ phận. Thời gian thanh toán tạm ứng là 3
ngày kể từ ngày tạm ứng. Nhân viên giao nhận phải nộp phiếu thanh toán
tạm ứng cho Giám sát bộ phận ký nháy, rồi chuyển cho Giám đốc bộ phận
duyệt ngay khi hoàn tất lô hàng.
2.1.5. Hoàn tất giao - nhận hàng và thủ tục XNK
Khi hoàn tất các thủ tục kê hàng hàng xuất nhập, nhân viên giao nhận
phải báo cho khách hàng biết tình hình để khách hàng yên tâm về thủ tục lô
109,63
118,27
98,25
SLGN toàn công ty 1573570
1602330
1792135
2704103
2226092
Tỷ trọng (%) 26,33
23,22
22,76
17,84
22,19 Qua bảng trên ta thấy rằng trong những năm gần đây, sản lượng giao
nhận năm 2006 đạt mức cao nhất, lên đến gần 500 tấn, tăng gần 20% so với
557296
Chỉ số phát triển (%)
100,2
114,61
95,23
110,5
GTGN toàn công ty 1525026
1383088
1479748
1316127
1480595
Tỷ trọng (%) 30,24
33,41
35,79
38,32
42,16
228157
40,94
Da giày 179641
33,92
176418
34,98
195890
35,15
Thiết bị điện tử 89503
16,90
67481
13,38
77185
13,85
đất nước mà còn đóng góp vào doanh thu của các công ty giao nhận vận tải.
Hơn thế AA lại có được những khách hàng truyền thống là những công ty
may mặc lớn như Vinateximex. Tuy nhiên, do việc kiểm soát và cấp hạn
ngạch hạn chế của Châu Âu và Mỹ trong thời gian gần đây nên tỷ trọng giao
nhận mặt hàng này ở AA có chiều hướng giảm sút.
Bù lại trong những năm qua, công ty ký được nhiều hợp đồng giao
nhận các mặt hàng máy móc thiết bị, linh kiện điện tử… Những loại hàng
này lại đem về doanh thu cao nên tỷ trọng có xu hướng tăng lên.
Các mặt hàng như giày dép da và các sản phẩm từ da luôn giữ vị trí ổn
định. Ngoài ra những mặt hàng khác tuy không đều nhưng tổng đóng góp
cũng tăng lên cùng với việc mở rộng quan hệ bạn hàng của công ty.
2.2.4. Thị trường giao nhận của vận tải hàng không
Các thị trường có lượng hàng giao nhận lớn của AA hiện nay là:
- Khu vực Đông Nam Á: bao gồm một số nước trong khối ASEAN
như Thái Lan, Singapore, Phillipin …
- Khu vực Đông Bắc Á: chủ yếu là Hồng Kông, Trung Quốc, Nhật
Bản.
- Khu vực châu Âu: khối EU
- Khu vực Châu Mỹ: Hoa Kỳ, Canada,…
Ta nhận thấy rằng đây đều là những nước có cảng hàng không lớn.
Nhưng không có nghĩa những nước có cảng hàng không nhỏ, cần phải qua
nhiều cảng chuyển tải thì AA ko nhận hàng. Nhờ vậy thị trường giao nhận
của AA ngày càng được mở rộng.
Giao nhận hàng không Nguyễn Tùy Anh – A2 QTKDA – K44
21
do phía nước ngoài quyết định.
Tuy nhiên đối với hàng xuất, trong thời gian gần đây, nhiều nhà xuất
khẩu Việt Nam đã dần nhận thức được ý nghĩa của việc giành quyền vận tải.
Thêm vào đó, đối với hàng xuất, người giao nhận dễ dàng tiếp cận khác
hàng hơn. Còn đối với hàng nhập, các đại diện hay đại lý của các công ty
nước ngoài do có lợi thế về am hiểu thị trường cùng tiềm lực vốn lớn thường
đưa ra mức cước rất thấp, do đó cho dù các công ty giao nhận Việt Nam có
cố gắng thế nào cũng khó thuyết phục được khách hàng. Nên với hàng nhập,
người giao nhận Việt Nam thường chỉ có nguồn thu từ phí giao nhận từ các
cảng chuyển tải về đến cảng Việt Nam.
Giao nhận hàng không Nguyễn Tùy Anh – A2 QTKDA – K44
22
3.3. Tính thời vụ của hoạt động giao nhận
Hoạt động giao nhận mang tính thời vụ không chỉ là đặc thù của dịch
vụ giao nhận vận tải hàng không mà còn được coi là một tồn tại cầng khắc
phục. Tính thời vụ thể hiện vào mùa hàng không, lượng hàng giao nhận quá
lớn, làm không hết việc. Nhiều khi số chỗ đã đặt trước của các hãng hàng
không hết, công ty buộc phải từ chối hàng. Song đến mùa hàng xuống, khối
lượng giảm, công việc vì thế mà cũng ít đi. Khoảng thời gian hàng nhiều
thường là những tháng giữa năm như tháng 6 đén tháng 8 và những tháng
cuối năm (dịp Lễ Giáng Sinh và Tết Dương Lịch).
Tính thời vụ này khiến cho hoạt động của công ty không ổn đinh, kết
quả kinh doanh theo tháng không đồng đều. Điều này ảnh hưởng trực tiếp
đến việc làm và thu nhập của người lao động. Hơn nữa, trong những khoảng
thời gian mùa hàng xuống, công ty vẫn phải trả lương cho nhân viên, khiến
lợi nhuận bị giảm sút.
Tồn tại này mang tính khách quan, nằm ngoài sự trù liệu của doanh
nghiệp nên để khắc phục không đơn giản, nó cần sự vận động của bản thân
doanh nghiệp, hơn thế nữa là sự tin tưởng, ủng hộ của khách hàng.
ngành nghề.
- Xây dựng, thực hiện cơ chế điều hành kinh doanh, cơ chế giá cả, hoa
hồng, tạo đòn bẩy thúc đẩy kinh doanh, tăng cường công tác quản lý
tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng dịch vụ và khả năng cạnh tranh
trên thị trường nhằm thu hút khách hàng mới, giữ vững khách hàng
truyền thống.
- Đầu tư, tận dụng, khai thác tối đa cơ sở vật chất, kho bãi, đổi mới thiết
bị, phương tiện vận tải bốc xếp để tổ chức tốt dịch vụ giao nhận
- Xây dựng chiến lược kinh doanh cho những năm tiếp theo, trong đó
chú trọng mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ đồng thời đa dạng hoá
các loại hinh dịch vụ trên cơ sở khai thác triệt để những thế mạnh sẵn
có trong kinh doanh.
- Tạo nên mối quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban trong Văn
phòng công ty, giữa văn phòng với chi nhánh và giữa các chi nhánh
với nhau vì lợi ích chung và lợi ích của từng đơn vị.
2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả dịch vụ giao nhận hàng không tại công
ty
2.1. Giải pháp về thị trường:
Trong tình hình cạnh tranh gay gắt trên thị trường giao nhận như hiện
nay, muốn tồn tại và phát triển đồng thời nâng cao thị phần, AA cần phải mở
rộng thị trường giao nhận. Đây là một biện pháp hữu hiệu để đạt được các
mục tiêu về lợi nhuận, mục tiêu củng cố, tăng cường vị thế và mục tiêu an
toàn. Khi thị trường đã được mở rộng thì cho dù một khu vực thị trường nào
đó có biến động cũng sẽ không gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt
động của toàn công ty.
Có 2 hình thức mở rộng thị trường, đó là mở rộng thị trường theo
chiều rộng và mở rộng thị trường theo chiều sâu:
- Mở rộng thị trường theo chiều rộng được hiểu là mở rộng thị trường
hàng cũng nên đảm bảo để hàng được xếp đều, không bị nhàu nát. Nếu chỉ
cần chú ý những chi tiết nhỏ nhặt như thế thì cách nhìn nhận, đánh giá của
khách hàng đối với dịch vụ của công ty sẽ khác hẳn.
Ngoài ra tạo dịch vụ tốt cũng tức là tư vấn cho khách hàng về tình
hình cạnh tranh trên thị trường, tình hình hoạt động ngoại thương, luật pháp
quốc tế. Cung cấp cho khách hàng những thông tin về đối tác xuất nhập
khẩu, đưa ra các lời khuyên về các điều khoản hợp đồng mua bán ngoại
thương, giải thích cụ thể các điều khoản phức tạp để khách hàng không hiểu
sai, dẫn đến tranh cãi khi có tranh chấp xảy ra.
Những dịch vụ bổ sung này mang tính chất như một loại chất xúc tác
duy trì và củng cố quan hệ với khách hàng cũng như nâng cao vị thế của
công ty trong cạnh tranh.
Giao nhận hàng không Nguyễn Tùy Anh – A2 QTKDA – K44
25
2.3. Giải pháp về xúc tiến thương mại
Xúc tiến thương mại là hoạt động vô cùng phong phú. Mọi công ty
đều biết đến tầm quan trọng của hoạt động này nhưng để thực hiện một kế
hoạch xúc tiến hiệu quả là một việc rất khó khăn bởi đa phần các công ty
Việt Nam chưa có nguồn vốn đủ mạnh để theo đuổi chiến lược xúc tiến lâu
dài. Nhưng để phát triển bền vững, AA cần thúc đẩy hoạt động này.
Xúc tiến thương mại với một doanh nghiệp dịch vụ bao gồm các hoạt
động chủ yếu sau: quảng cáo và quan hệ khách hàng mà trong đó quan trọng
là chính sách chăm sóc khách hàng.
Về phương tiện quảng cáo, AA có thể quảng cáo trên báo, làm panô,
áp phích quảng cáo. Đây là các biện pháp dễ dàng mà không quá tốn kém vì
khác với các doanh nghiệp sản xuất, phải đưa ra chiến dịch quảng cáo rầm rộ
khi đưa ra sản phẩm mới, là một doanh nghiệp dịch vụ, AA chỉ cần quảng
cáo thường xuyên mà không cần quá phô trương. Ngoài ra, tăng cường
quảng cáo tại các cơ sở giao dịch cũng là biện pháp thưòng dung đối với một
Bên cạnh đó, việc nâng cao ý thức cho các nhân viên cũng rất quan
trọng, góp phần giúp công ty nâng cao hiệu quả công việc. Đó là tinh thần
trách nhiệm, tư duy sang tạo trong công việc, ý thức tiết kiệm, giữ gìn bảo
vệ tài sản của công ty. Đối với một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ như
AA, tinh thần trách nhiệm, tính mẫn cán trong công việc nên đặc biệt coi
trọng vì khi khách hàng đã tin tưởng giao hàng hoá vào tay người giao nhận,
họ phải được đảm bảo rằng hàng hoá sẽ được an toàn.
2.5. Giải pháp về tổ chức quản lý
Một công ty rất cần có những cán bộ giỏi nhưng làm thế nào để kết
hợp họ thành một tập thể mạnh còn quan trọng hơn. Mà điều này lại phụ
thuộc rất nhiều vào phương thức tổ chức quản lý của công ty. Mỗi công ty
có một mô hình tổ chức riêng và có một phương thức quản lý riêng, phù hợp
với mô hình tổ chức đó. AA tuy đã có rất nhiều cải tiến nhằm từng bước
hoàn thiện mô hình quản lý của mình nhưng phải thẳng thắn thừa nhận rằng,
công ty hoạt động còn cồng kềnh, chưa thực sự tạo được mối liên kết giữa
các chi nhánh, phòng ban. Sự phối hợp hoạt động giữa các bộ phận chưa đạt
hiệu quả mong muốn, không tạo được sức mạnh tập thể của một doanh
nghiệp lớn trong lĩnh vực giao nhận vận tải. Chính vì vậy công ty cần phải
đổi mới hình thức quản lý và mô hình tổ chức cho phù hợp với điều kiện
kinh doanh hiện nay của công ty.
Hiện nay tuy AA đã có phòng chuyên trách về marketing và các
phòng ban chuyên về đường hàng không, đường biển, nhưng chưa phát huy
được hết tác dụng. Đó là do phòng marketing chưa được tạo điều kiện thuận
lợi nhất trong các hoạt động, các phòng ban khi nhận được việc tiến hành
không chu đáo làm mất uy tín của phòng Marketing. Biện pháp trước mắt là
phải chấn chỉnh ngay hoạt động của các phòng ban, mỗi phòng chỉ hoạt
động đúng chức năng của mình. Phòng Thị trường đóng vai trò chủ đạo
trong quan hệ khách hàng, thực hiện việc nghiên cứu dự báo nhu cầu thị
trường, thực hiện chức năng hướng dẫn các phòng ban khác, đồng thời