BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN M’DRĂK LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC - Pdf 13

LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo trường Đại
học sư phạm Hà Nội, đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học
tập và nghiên cứu thực hiện luận văn này.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS. Phan Trọng Ngọ,
thầy đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình nghiên cứu, thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Đắk Lắk,
lãnh đạo và chuyên viên các phòng trực thuộc Sở, lãnh đạo các trường THPT
tỉnh Đắk Lắk, đã nhận xét cho ý kiến đối với các biện pháp đề xuất của luận
văn. Đặc biệt là lãnh đạo và giáo viên trường THPT Nguyễn Tất Thành,
trường THPT Nguyễn Trường Tộ, đã cung cấp những số liệu liên quan, nhận
xét và cho ý kiến vào các biểu mẫu kịp thời, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
trong quá trình thực hiện luận văn.
Xin chân thành cám ơn Ban Tuyên giáo Huyện ủy,Văn phòng UBND,
phòng Giáo dục và Đào tạo huyện M’drăk, đã cung cấp dữ liệu, giúp đỡ và
động viên tôi; đặc biệt là giáo viên, nhân viên trường THPT Nguyễn Trường
Tộ, đã giúp đỡ tôi trong quá nghiên cứu, hoàn thành luận văn.
Mặc dù tôi đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện luận văn, song khó
tránh khỏi những thiếu sót. Tôi kính mong tiếp tục nhận được những ý kiến
góp ý, chỉ bảo của quý thầy cô giáo, quý cơ quan ban ngành của huyện
M’drăk, các bạn đồng nghiệp trong tỉnh Đắk Lắk và những người quan tâm
để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Đắk Lắk, tháng 12 năm 2012
TÁC GIẢ
Trịnh Công Tiến
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
THPT
THCS

Học sinh
Cán bộ, giáo viên, nhân viên
Sáng kiến kinh nghiệm
Thi đua khen thưởng
Xóa mù chữ
Bổ túc trung học cơ sở
Phổ cập giáo dục tiểu học- xóa mù chữ
Phổ cập giáo dục- trung học cơ sở
Uỷ ban nhân dân
Hội đồng nhân dân
Công nghệ thông tin
Ban chấp hành
Đội ngũ giáo viên
Ban đại diện cha mẹ học sinh
Lao động Tiên tiến
Lao động Xuất sắc
Học sinh
Giáo viên
Nhân viên
HTCĐ
HĐND
DTTS
Học tập cộng đồng
Hội đồng nhân dân
Dân tộc thiểu số
DANH MỤC BẢNG
B ng 2.1: Phát tri n giáo d c m u giáo, m m non c a huy n M’dr kả ể ụ ẫ ầ ủ ệ ă 38
B ng2.2: Phát tri n giáo d c ti u h c c a huy n M’dr kả ể ụ ể ọ ủ ệ ă 39
B ng2.3: Phát tri n giáo d c THCS c a huy n M’dr kả ể ụ ủ ệ ă 40
B ng 2.4: Phát tri n giáo d c THPT c a huy n M’dr kả ể ụ ủ ệ ă 40

ng giáo viên hai tr ngũ ườ 79
B ng 2.24: Trình chính tr v s l ng giáo viên l ng viên ả độ ị à ố ượ à đả 79
c a hai tr ngủ ườ 79
B ng 2.25: Th ng kê công tác nghiên c u khoa h c c a i ng giáo viên ả ố ứ ọ ủ độ ũ
c a hai tr ngủ ườ 80
B ng 2.26: B ng t ng h p kh o sát v th c tr ng phát tri n i ng giáo ả ả ổ ợ ả ề ự ạ ể độ ũ
viên hai tr ng THPT huy n M’dr kườ ệ ă 85
B ng 3.1. K t qu ánh giá tính c n thi t v tính kh thi c a các bi n ả ế ả đ ầ ế à ả ủ ệ
pháp xu t:đề ấ 113
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Bi u 2.1: S l ng giáo viên th c t c a hai tr ng so v i nh m c ể đồ ố ượ ự ế ủ ườ ớ đị ứ
c a Bủ ộ 67
Bi u 2.3: T l nam, n trung bình c a i ng giáo viên hai tr ngể đồ ỉ ệ ữ ủ độ ũ ườ 71
Bi u 2.4: Trình o t o c a i ng giáo viên n m h c 2011- ể đồ độ đà ạ ủ độ ũ ă ọ
2012 76
Bi u 3.1: T l ánh giá v tính c n thi t, tính kh thi c a các bi n ể đồ ỷ ệ đ ề ầ ế ả ủ ệ
pháp 114
DANH MỤC SƠ ĐỒ
S 1.1: Các y u t trong qu n lý nhân l c tr ngơ đồ ế ố ả ự ở ườ 19
S 1.2: M i quan h gi a các khâu c a quá trình phát tri n ơ đồ ố ệ ữ ủ ể 30
i ng giáo viênđộ ũ 30
S 2.1: T ch c b máy Tr ng THPT Nguy n Tr ng Tơ đồ ổ ứ ộ ườ ế ườ ộ 49
S 2.2: T ch c b máy Tr ng THPT Nguy n T t Th nhơ đồ ổ ứ ộ ườ ễ ấ à 60
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: “Con người và
nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục
và đào tạo”. Giáo dục và đào tạo đem đến chất lượng nguồn lực cho xã hội,

trường THPT; việc tuyển dụng đội ngũ giáo viên các trường THPT do Sở Nội
vụ, Sở Giáo dục và Đào tạo Đắk Lắk đảm nhiệm, các trường tiếp nhận đội ngũ
qua các quyết định cấp trên, chính vì thế các trường THPT trực thuộc Sở Giáo
dục và Đào tạo Đắk Lắk không được chủ động trong công tác tổ chức bộ máy,
biên chế để phát triển đội ngũ giáo viên. Thực tế đội ngũ giáo viên tuyển mới
hàng năm chất lượng không cao, cơ cấu đội ngũ không đồng bộ, một số môn
không có giáo viên. Huyện M’drăk là huyện đóng trên địa bàn kinh tế - xã hội
khó khăn, nhiều sinh viên không muốn về địa bàn này công tác, mặc khác một
số sinh viên có hộ khẩu thường trú tại địa phương muốn công tác gắn bó lâu
dài với trường thì xét tuyển viên chức không trúng tuyển. Số sinh viên nơi khác
trúng tuyển về công tác tại địa phương thì không an tâm công tác, lấy kết quả
trúng tuyển làm bàn đạp để sau một thời gian ngắn công tác tại trường thì xin
chuyển công tác đến nơi có điều kiện kinh tế – xã hội tốt hơn.
Chính vì những lý do trên nên một số giáo viên chưa thực sự quan tâm
đến nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ; đạo đức nghề nghiệp và tinh thần trách
nhiệm vì sự nghiệp giáo dục chưa cao. Tinh thần tự học, phát huy tính sáng
tạo, cũng như đầu tư thời gian và công sức nghiên cứu chuyên môn nghiệp vụ
đáp ứng nhiệm vụ được giao còn hạn chế. Việc tham gia theo học các lớp trên
chuẩn nhiều giáo viên không thực sự quan tâm vì họ ngại khó, ngại khổ; tham
gia theo học sợ bị giữ chân lâu dài ở trường không được chuyển công tác đến
nơi khác có điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi hơn (theo quy định của Sở sau
2
khi học xong về công tác tại đơn vị ít nhất 5 năm mới được chuyển công tác
đến nơi khác). Với những lý do trên làm cho chất lượng đội ngũ đội ngũ giáo
viên của các trường THPT huyện M’drăk trong những năm qua chưa thực sự
đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặc ra, làm cho kết quả thực hiện nhiệm vụ của các
trường chưa đạt như mong muốn .
Trong thời gian qua công tác phát triển đội ngũ giáo viên các trường
THPT trên địa bàn huyện M’drăk đã được quan tâm của lãnh đạo nhà trường
và các cấp, song kết quả quả đội ngũ giáo viên các trường THPT huyện

Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên các trường
THPT huyện M’drăk từ năm học 2007- 2008 đến năm học 2011-2012.
Làm rõ tính khả thi các biện pháp đề xuất trong công tác phát triển đội
ngũ giáo viên các trường THPT huyện M’drăk.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ khảo sát thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên và tìm kiếm
các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT huyện M’drăk.
Đề tài sử dụng các số liệu của các trường THPT huyện M’drăk từ năm
học 2007- 2008 đến năm học 2011-2012.
7. Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp giữa các nhóm phương pháp nghiên cứu trong quá trình thực
hiện đề tài:
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận.
Nhóm các phương pháp phân tích, tổng hợp nghiên cứu thực tiễn.
Sử dụng các phương pháp quan sát, điều tra, thống kê, phương pháp
tổng kết kinh nghiệm.
Dùng các phần mềm thống kê để xử lý số liệu.
4
8. Những đóng góp mới của luận văn
Tìm ra các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT
huyện M’drăk, để áp dụng trong thời gian sắp tới cho các trường THPT huyện
M’drăk và có thể áp dụng cho trường THPT các huyện trong tỉnh Đắk Lắk có
đặc điểm tương đồng như huyện M’drăk.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, mục lục và danh mục tài
liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương.
Chương 1. Cơ sở lý luận biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên trường
THPT.
Chương 2. Thực trạng công tác phát triển đội ngũ giáo viên các trường
THPT huyện M’drăk, tỉnh Đắk Lắk từ năm học 2007- 2008 đến năm học

6
trình nghiên cứu trên là cơ sở, định hướng cho việc nghiên cứu phát triển đội
ngũ giáo viên ở các trường THPT huyện M’drăk, tỉnh Đắk Lắk.
1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan
1.2.1. Quản lý
Trong xã hội xuất hiện mối quan hệ giữa con người với con người, xã
hội phát triển ngày càng cao thì mối quan hệ giữa con người với con người
ngày càng phong phú và có nhiều mối liên kết phức tạp. Con người với tư
cách là một cá thể, con người cá thể một mặt vừa có khả năng tự chủ, mặt
khác mối liên hệ giữa các cá thể thành hệ thống xã hội mà không thể đứng
ngoài hệ thống xã hội đó, đặc biệt khi xã hội có giai cấp. Hoạt động quản lý
bắt nguồn từ sự phân công và hợp tác lao động; lao động muốn có kỷ luật, đạt
hiệu quả và năng xuất cao thì đòi hỏi phải có người chỉ huy để điều phối, điều
hành, kiểm tra, đánh giá,v.v Hoạt động quản lí là hoạt động của người lãnh
đạo phối hợp và phát huy hết sức mạnh của các thành viên trong một nhóm,
trong một tổ chức để đạt được kết quả cao nhất mục tiêu đề ra.
Quản lí là một trong những hoạt động lao động quan trọng nhất trong
hoạt động của con người. Quản lí đúng tức là con người đã nhận thức được
các quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn.
Nghiên cứu quản lí giáo dục giúp con người có được những kiến thức cơ bản
nhất, chung nhất đối với các hoạt động quản lí.
Quản lí: theo Tự điển tiếng Việt thông dụng ( Nxb Giáo dục,1998 ) là:
Tổ chức, điều khiển hoạt động của đơn vị, cơ quan; F. W Taylor cho rằng:
Quản lí là biết chính xác điều người khác làm và sau đó thấy họ hoàn thành
công việc một cách tốt nhất và rẽ nhất. H. KoontZ thì khẳng định: Quản lí là
một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá
nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lí
là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được mục
đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất.
7

Nếu nói giáo dục là hiện tượng xã hội vĩnh hằng thì cũng có thể nói
như thế về quản lí giáo dục. Giáo dục xuất hiện nhằm thực hiện cơ chế
truyền kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người, của thế hệ đi trước cho
thế hệ sau và để thế hệ sau có trách nhiệm kế thừa, phát triển nó một cách
sáng tạo, làm cho xã hội và bản thân con người phát triển không ngừng. Để
đạt được mục đích đó, quản lí được coi là nhân tố tổ chức, chỉ đạo việc
thực thi cơ chế nêu trên.
Quản lí giáo dục, trước hết, cũng như quản lí xã hội nói chung; quản
lí giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những
mục đích của mình. Chỉ có con người mới có khả năng khách thể hóa mục
đích, nghĩa là thể hiện nguyên mẫu lí tưởng của tương lai và được biểu hiện
trong mục đích đang ở trạng thái tiềm ẩn sang trạng thái hiện thực. Như đã
biết, mục đích giáo dục cũng chính là mục đích quản lí. Đây cũng là mục
đích có tính khách quan. Nhà quản lí, cùng với đông đảo đội ngũ giáo viên,
các lực lượng xã hội,v.v…; bằng hành động của mình thực hiện hóa mục
đích đó trong hiện thực.
Về thuật ngữ “ quản lí giáo dục ” cũng có nhiều quan niệm khác
nhau. Ở đây chỉ nêu quan niệm được nhiều người sử dụng và coi là phù
hợp. Quản lí giáo dục có hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô. Hãy
thống nhất quy ước: quản lí giáo dục cấp vĩ mô là quản lí một nền/hệ thống
giáo dục; còn quản lí giáo dục cấp vi mô xem như quản lí trường học/tổ
chức giáo dục cơ sở.
Đối với cấp vĩ mô: Quản lí giáo dục được hiểu là những tác động tự
giác ( có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật ) có
chủ thể quản lí đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cao cấp nhất đến
các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu
quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội.
9
Hoặc: Quản lí giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích
của chủ thể quản lí lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính vượt trội/ tính

những nguyên tắc giáo dục. Những nguyên tắc giáo dục là những yêu cầu,
những tiêu chuẩn, những luận điểm cơ bản chỉ đạo việc tổ chức của chủ thể
quản lí giáo dục. Các cơ quan quản lý trong ngành giáo dục, dù ở cấp nào, dù
đảm nhận chức năng nào đều phải có tổ chức và phải hoạt động theo đúng các
nguyên tắc giáo dục; đó là tính khoa học và thực tiễn, tập trung và dân chủ,
kết hợp nhà nước và nhân dân.
Chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý giáo dục phụ thuộc một
phần rất quan trọng vào việc xác định đúng đắn và cụ thể mục tiêu quản lí.
Trong công tác giáo dục, mỗi loại mục tiêu ( lớn - nhỏ, lâu dài - ngắn hạn,
chung – riêng ) đều có vị trí nhất định và tầm quan trọng của nó. Mối quan hệ
giữa chúng là mối quan hệ biện chứng giữa mục đích và phương tiện.
Như vậy, về cơ bản hoạt động quản lí giáo dục cũng giống như mọi
hoạt động quản lí kinh tế - xã hội nói chung, song quản lí giáo dục mang
những đặc điểm đặc thù. Sở dĩ có sự sai khác là do mục tiêu của giáo dục rất
khó xác định rõ ràng, tường minh; sản phẩm của giáo dục là nhân cách con
người, nên rất khó đo lường, đánh giá được; trong giáo dục mối quan hệ giữa
nhà giáo với học sinh là những mối quan hệ rất đặc biệt. Những điểm sai khác
này là cơ sở để xây dựng các thiết chế, các chính sách phù hợp cho công tác
quản lí giáo dục.
Đối với ngành giáo dục đào tạo nói chung và đối với nhà trường nói
riêng, quản lý đội ngũ giáo viên là một trong những nội dung chủ yếu nhất
trong quá trình quản lí nguồn nhân lực. Quá trình phát triển đội ngũ giáo
viên cũng phải thực hiện đầy đủ những nội dung chủ yếu của quá trình phát
triển nguồn nhân lực như: quy hoạch đội ngũ, tuyển chọn, bố trí sử dụng,
11
đào tạo bồi dưỡng, đánh giá kết quả hoạt động, đề bạt bổ nhiệm, thuyên
chuyển.
Điểm đặc biệt trong quản lí đội ngũ giáo viên là quản lý một tập thể
những cán bộ trí thức, có trình độ học vấn và nhân cách phát triển ở mức độ
cao, khả năng nhận thức vấn đề nhanh, có đầy đủ khả năng phân tích và tổng

và giấy thông hành kinh doanh".
Trường học là tổ chức giáo dục, là đơn vị cấu trúc cơ sở của hệ thống
giáo dục quốc dân. Do đó, xét về bản chất, trường học là một tổ chức mang
tính nhà nước- xã hội- sư phạm thể hiện bản chất giai cấp, bản chất xã hội
và bản chất sư phạm. Cho nên một cách khác có thể hiểu:
- Quản lí trường học là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong
phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên
lí giáo dục, để đến mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo
dục, với thế hệ trẻ với từng học sinh. Hoặc:
- Quản lí nhà trường, quản lí giáo dục là hoạt động dạy học có tổ
chức được hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường
phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lí được giáo dục, tức là cụ
thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực,
đáp ứng nhu cầu nhân dân, của đất nước. Hoặc:
- Quản lí nhà trường là hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ
thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của
chủ thể quản lí lên tất cả các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo sự
vận hành tối ưu xã hội- kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học
và giáo dục các thế hệ đang lớn lên. Hoặc:
- Quản lí giáo dục (vi mô) được hiểu là hệ thống tác động tự giác ( có
ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật ) của chủ thể
quản lí đến tập thể giáo viên, cán bộ nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ
13
học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện
có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.
- Cũng có thể định nghĩa quản lí giáo dục (vi mô) thực chất là những
tác động của chủ thể quản lí vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập
thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội
nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu
đào tạo của nhà trường.

Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;
Đạt trình độ chuẩn về chuyên môn sư phạm ( học vấn);
Chuẩn về trình độ nghiệp vụ sư phạm;
Chuẩn về đạo đức tư cách người thầy;
Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp;
Lý lịch bản thân rõ ràng;
1.2.4.2. Đội ngũ
Tuy có nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhưng các định nghĩa đều nêu
rõ: Đội ngũ là một khối đông người được tập hợp và tổ chức thành một lực
lượng để cùng thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp
hoặc không, nhưng cùng chung một mục đích nhất định và cùng tới đích đó.
Người ta thường dùng khái niệm đội ngũ để chỉ các tổ chức xã hội
một cách rộng rãi như: đội ngũ công nhân, đội ngũ Kỹ sư, đội ngũ Bác
sĩ, đội ngũ trí thức,v.v…; đó là một tổ chức gồm nhiều người, tập hợp
thành một lực lượng cùng hoặc không cùng một nghề nghiệp, nhưng
cùng mục đích.
1.2.5. Phát triển
Theo quan điểm duy vật biện chứng, phát triển là một quá trình biến đổi
từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Đó là quá trình tích lũy dần về lượng
15
dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình nảy sinh cái mới trên cơ sở cái cũ, do
sự đấu tranh giữa các mặc đối lập nằm trong bản thân sự vật hiện tượng.
Từ điển tiếng Việt “ Phát triển là biến đổi hoặc làm cho nó biến đổi từ
ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đên cao, đơn giản đến phúc tạp”.
Nhu vậy, mọi sự vật hiện tượng, con người, xã hội, hoặc là biến đổi để
tăng tiến số lượng, thay đổi chất lượng dưới tác động của bên ngoài làm cho
biến đổi tăng tiến được coi là phát triển.
1.2.6. Phát triển đội ngũ
Có nhiều quan điểm vế phát triển đội ngũ, nhưng có thể quy về ba nhóm:
- Phát triển đội ngũ lấy cá nhân đội ngũ làm trọng tâm.

đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường,
toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế- Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội. Hà
Nội, 2006 – tr 14-15).
1.2.7.2. Phát triển nguồn nhân lực:
Phát triển nguồn nhân lực là một thuật ngữ rất quen thuộc và thường được
dùng trong giao tiếp cũng như trong nhiều văn kiện. Tuy nhiên, đây là một thuật
ngữ chưa có định nghĩa thống nhất và thường được hiểu với nhiều mức độ rộng,
hẹp khác nhau.
Với nghĩa hẹp, đó là quá trình giáo dục, đào tạo và đào tạo lại, trang bị
hoặc bổ sung thêm những kiến thức, kĩ năng và thái độ cần thiết để mỗi con
người có cơ hội tìm việc làm, hoặc để hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ mà họ
đang làm.
Ngoài việc phát triển nhân cách và sinh thể/thể lực; cũng như mọi nguồn
tài sản khác, nguồn nhân lực chỉ thực sự khi có được khai thác và sử dụng một
cách có hiệu quả. Do vậy, khái niệm phát triển nguồn nhân lực bao gồm cả yếu
tố sử dụng nguồn nhân lực một cách đúng đắn, tạo môi trường lao động phù hợp
và thuận lợi để mỗi con người lao động có hiệu quả.
17
Điều đặc biệt của nguồn nhân lực là ở chỗ con người lại khai thác, sử
dụng chính con người vì sự phát triển chung của xã hội và của chính con người.
Một điều khác biệt nữa mọi nguồn tài nguyên khác càng bị khai thác, sử dụng,
thì càng cạn kiệt còn nguồn tài nguyên con người; ngược lại, càng khai thác và
sử dụng một cách đúng đắn thì nhân cách của mỗi con người càng được phát
triển trong quá trình lao động sáng tạo; do vậy, nguồn lực về con người lại càng
phát triển.
Bởi vậy, Gary Becker và R. Nonan đã đưa ra khái niệm: “ Phát triển
nguồn nhân lực là làm cho con người trở thành tài sản có giá trị hơn trong sự nỗ
lực chung để cùng nhau chung sống và làm việc”.
Có thể nêu khái niệm về phát triển nguồn nhân lực chư sau: Phát triển
nguồn nhân lực là phát triển nhân cách, sinh thể/thể lực, đồng thời tạo dựng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status