Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khóa 2004-2005
Công nghệ và Phát triển
Bài đọc
Căn bản về Năng suất yếu tố tổng hợp David Dapice Biên dịch: Phạm Vũ Lửa Hạ
1
Căn bản về Năng suất yếu tố tổng hợp
Chúng ta đều đã quen thuộc với khái niệm năng suất lao động. Ta đem sản lượng
của một nhà máy chia cho số công nhân và có kết quả sản lượng bao nhiêu tấn (ví dụ xi
măng) trên mỗi công nhân mỗi năm. Đôi khi năng suất được tính trên mỗi giờ làm việc,
hoặc tử số được tính ở mức giá không đổi cho nhiều loại sản lượng khác nhau. Ví dụ, một
nhà máy sản xuất nhiều loại hình dạng thép khác nhau không nên dùng sản lượng bao
nhiêu tấn trên mỗi công nhân, mà nên dùng một giá trị không đổi, hay giá trị gia tăng, trên
mỗi công nhân để có thể ước tính chính xác về sản lượng trên mỗi công nhân.
Năng suất lao động là một khái niệm hữu ích nhưng chưa đầy đủ. Thông thường,
chúng ta muốn biết tất cả các nhập lượng tính gộp chung có hiệu quả như thế nào, chứ
không chỉ riêng một nhập lượng. Ví dụ, nếu công nhân có rất ít vốn hay có công nghệ rất
thấp, họ có thể rất lành nghề và làm việc rất siêng năng nhưng vẫn có năng suất lao động
thấp. Để giải quyết vấn đề này, người ta đã đưa ra một khái niệm mở rộng năng suất lao
động sang vốn. (Đôi khi có thể thêm vào những nhập lượng khác, nhưng đây là hai nhập
lượng quan trọng nhất.) Về căn bản, khái niệm tổng năng suất yếu tố (TFP) là một cách đo
lường năng suất của cả vốn lẫn lao động cùng lúc trong một hoạt động cụ thể hay cho cả
nền kinh tế.
Để có được số đo chung cho cả hai nhập lượng, ta cần phải tính trọng số cho
chúng. Trọng số là tỉ lệ đóng góp tương đối của mỗi nhập lượng vào sản xuất. Một hàm
số sản xuất thể hiện mối liên hệ giữa những mức gia tăng của các nhập lượng khác nhau
Niên khóa 2004-2005
Công nghệ và Phát triển
Bài đọc
Căn bản về Năng suất yếu tố tổng hợp David Dapice Biên dịch: Phạm Vũ Lửa Hạ
2
máy sẽ trở nên có hiệu quả hơn, dù trình độ học vấn không thay đổi. Những thay đổi ngắn
hạn về cầu cũng có thể làm thay đổi TFP.
Một số nhà phân tích chỉ ra rằng TFP thực ra là một số đo về sự kém hiểu biết của
chúng ta. Tức là, nó xét đến sản lượng trên mỗi công nhân được giải thích bằng tăng
cường vốn – và bất cứ phần nào khác là TFP. Nhiều yếu tố, bao gồm nhưng không chỉ
riêng công nghệ, có thể thúc đẩy nó. Mức độ cạnh tranh nhiều hơn, lợi ích kinh tế nhờ quy
mô, việc tái phân bổ (nguồn lực), chính sách kinh tế tốt hơn v.v… đều giúp TFP tăng
trưởng. Sản lượng nông nghiệp tăng lên sau Đổi Mới là một ví dụ.
TFP rất quan trọng đối với phát triển kinh tế. Hầu hết các quốc gia nhận thấy rằng
tỉ lệ tăng trưởng dân số và lực lượng lao động chậm lại sau một thời gian, và có giới hạn
đối với lượng vốn có thể đầu tư mà không phải vay mượn nhiều khi có hại. Việc tái phân
bổ lao động cho những công việc có năng suất thấp có thể tiếp diễn trong một thời gian,
nhưng ngay cả điều ấy cũng kết thúc sau một vài thập niên. Vì vậy, nếu một nền kinh tế
biết cách khai thác được ngày càng nhiều hơn từ mỗi chiếc máy hay mỗi công nhân tăng
thêm thông qua công nghệ tốt hơn hay những phương tiện khác, thì sản lượng và thu nhập
sẽ cao hơn mà không cần phải đầu tư nhiều hơn về vốn. Có thể đã có nhận định rằng vốn
con người cũng có lợi tức giảm dần, nhưng đối với một nước như Việt Nam, dường như có
m
ột giai đoạn trong đó TFP có thể tăng 2-4% / năm với chính sách tốt và tiếp tục mở rộng
và cải tiến giáo dục, cùng với việc tiếp tục nâng cấp vốn.
Hầu hết các quốc gia châu Á tăng trưởng nhanh đều có tỉ lệ tăng trưởng TFP ít nhất