Tài liệu Kết quả ban đầu của kỹ thuật chuyển vị xương đe tự thân - Pdf 95

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 8 * Phụ bản của Số 1 * 2004 Nghiên cứu Y học

KẾT QUẢ BAN ĐẦU CỦA KỸ THUẬT CHUYỂN VỊ XƯƠNG ĐE TỰ THÂN
Nguyễn Hoàng Nam*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Báo cáo một số kinh nghiệm bước đầu về kỹ thuật chuyển vò xương đe tự thân.
Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu lại 23 ca VTG mạn tính các loại không cholesteatoma với thời
gian theo dõi sau mổ tối thiểu 1 năm.
Kết quả: khoảng cách giữa đøng khí và đường xương sau mổ dưới 20dB: 21,8%, dưới 30dB: 52,2%,
dưới 40dB: 8,6% và trên 40dB:17,4%.
Kết luận: Kỹ thuật chuyển vò xương đe tự thân theo kiểu ngang có thể phục hồi sức nghe cho bệnh nhân
Từ khóa: Chỉnh hình xương con, Chuyển vò xương đe.
SUMMARY
SHORT-TERM RESULTS OF AUTOLOGOUS INCUS INTERPOSITION TECHNIQUE
Nguyen Hoang Nam * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 8 * Supplement of No 1 * 2004: 100 – 102
Objective: To report our experience in autologous incus interposition technique
Study design: Retrospective chart review. Methos: Data were analysed from 23 cases of chronic
otitis media without cholesteatoma
at lest 1 year follow-up.
Results: Postoperative air-bone gap under 20dB: 21.8%, under 30dB:
52,2%, under 40dB: 8,6% and
over
40dB:17,4%.
Conclusion: Hearing can be increased with autologous incus interposition technique: Ossiculoplasty,
incus interposition.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Phục hồi chuỗi xương con là một thì quan trọng
trong phẫu thuật tạo hình tai giữa nhằm phục hồi sức
nghe cho bệnh nhân. Để phục hồi cành xuống xương
đe bò mất ở các nước phát triển nhiều nhà tai học
thích sử dụng vật liệu tổng hợp như gốm,

Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 8 * Phụ bản của Số 1 * 2004

chỉnh hình xương con
1,2
. Vì vậy, chúng tôi muốn báo
cáo một số kinh nghiệm bước đầu về kỹ thuật chuyển
vò xương đe tự thân của chúng tôi với hy vọng góp
phần nâng cao hiệu quả của phẫu thuâït chỉnh hình
tai giữa ở nước ta.
KẾT QUẢ
Các dạng VTG
Bảng 1: Các dạng VTG
Các dạng VTG Số trường hợp Tỉ lệ %
VTXC 14 60,9
Co lõm thượng nhó 3 13,1
Co lõm sau trên 2 08,6
Xẹp nhó 4 17,4
23 100
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Các trường VTG mạn tính các loại không
cholesteatoma ở bệnh nhâïn trên 15 tuổi có đủ các
tiêu chuẩn sau đây được đưa vào nhóm nghiên cứu:
Khoảng cách giữa đường khí và đường
xương thu được sau mổ
- Gián đoạn cành xuống xương đe nhưng cán búa
và xương bàn đạp còn nguyên
Bảng 2: Khoảng cách giữa đường khí và đường xương
sau mổ

- Mở rộng khuyết sau trên bằng khoan điện hoặc
thìa nạo
BÀN LUẬN
- Giải phóng khớp búa đe
Chúng tôi nhận thấy ở những trường hợp gián
đoạn cành xuống xương đe, thính lực đồ đơn âm
thường biểu diễn một đường thẳng, ít dao động từ
tần số 250Hz đến tần số 4000Hz. Khác với những
trường hợp chỉ có thủng nhó đơn thuần thích lực
đồ đơn âm thường giảm mạnh ở tần số 250 và 500
Hz và giảm ít ở các tần số 2000, 3000 và 4000 Hz.
Điều này cho thấy sự rung động của màng nhó có
vai trò quan trọng ở các tần số dưới 1000 Hz. Nhận
xét này giúp PTV lưu ý đến tổn thương chuỗi xương
con trước mổ khi thấy thích lực đồ đơn âm có dạng
đường thẳng liên tục ở các tần số.
- Xoay và lấy xương đe ra ngoài
Đặt lại xương đe:
- Đặt thân xương đe đè lên chỏm xương bàn
đạp, cành ngắn nằm dưới cán búa và cành dài song
song với cán búa
- Cố đònh: đặt lại dây thừng nhó giữa xương
thành sau ống tai và thân xương đe và chèn
gelfoam xung quanh
- Đặt mảnh ghép dưới cán búa và phủ lên trên
thân xương đe.
Chuyên đề Tai Mũi Họng – Mắt
101
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 8 * Phụ bản của Số 1 * 2004 Nghiên cứu Y học


dính và di động tốt. Do đó chúng tôi thấy không nhất
thiết phải khoan lỗ để gắn vào xương bàn đạp. Chỉ lưu
ý là thân xương đe không được cao hơn cán buá, tốt
nhất là thấp hơn cán buá. Vì nếu cao hơn cán buá
chúng ta vô tình đội màng nhó lên. Khi đó, màng nhó
mới không có độ lõm như tự nhiên và căng hơn bình
thường. Còn nếu thân xương đe thấp hơn cán buá thì
màng nhó mới sẽ có độ lõm. Do đó nếu cần chúng tôi
chủ động mài mỏng thân xương đe vì các nghiên cứu
mới nhất cho thấy khối lượng của vật thay thế không
ảnh hưởng nhiếu đến khẳ năng dẫn truyền âm
3
. Hơn
nữa khi mài mỏng thân xương đe chúng tôi đã làm
nhẵn mặt thân xương đe tiếp xúc với màng nhó góp
phần gia tăng diện tiếp xúc của thân xương đe với
màng nhó. Cuối cùng, khi đã gỡ xương đe ra, chúng ta
cần lưu ý đến dây mặt vì nguy cơ chạm phải dây mặt
là rất cao nếu như ống dây mặt bò nứt (bẩm sinh hoặc
do mô hạt).
KẾT LUẬN
Sử dụng xương đe tự thân theo kỹ thuật ngang là
một giải pháp kinh tế trong hoàn cảnh nước ta hiện
nay nhưng vẫn đảm bảo khẳ năng tăng sức nghe sau
mổ cho bệnh nhân Để kỹ thuật này có hiệu quả đòi
hỏi PTV phải nâng cao kỹ năng phẫu thuật chỉnh
hình tai giữa. Tuy nhiên để có kết luận chính xác hơn
về hiệu quả của kỹ thuâït này chúng tôi thấy cần có
thời gian theo dõi lâu hơn để đánh giá khẳ năng sống
cũng như khẳ năng kết dính chặt chẽ với nhau mà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status