Tài liệu Chuyển định dạng video_XviDsetting_1.01 Fix - Pdf 95

Cách thiết lập thông số cho XviD 1.1x
Bài viết này được thực hiện với XviD 1.1.0 beta 2 và VirtualDub 1.6.11(build
23774).Bạn có thể thay VirtualDub bằng bất cứ chương trình “convert video to mp4”
nào cho phép chọn codec (nhưng tôi khuyên bạn nên dùng VirtualDub hay
VirtualDubMod để có thể tự do chỉnh sửa).

Muốn dùng codec cho VirtualDub,trên thanh công cụ của VirtualDub chọn video.
Chọn một trong 3 mức compress:
-Fast recompress
-Normal recompress
-Full processing mode
(không chọn Direct stream copy)

Chọn Compression(Ctrl+P)
Chọn XviD mpeg4 codec Click vào configure ở bên phải

Cửa sổ XviD Configuration hiện ra với rất nhiều tùy chọn.Có thể nói,XviD là codec
cho phép tinh chỉnh rất nhiều tới phương thức làm việc với hình ảnh.Nếu bạn mới
dùng codec này có thể sẽ thấy hơi hoang mang không bỉết nên làm như thế

quantization type.AS đạt tới độ
phân giải 720x576x30(frame) ở
bitrate cao 8 mbit/s(so sánh với
bitrate tối đa cho DVD chuẩn là
9,8 mbit/s)

DXN-profile này được cho là
tương đương với các cấp độ của
DivX Certified-là profile chuẩn để
chắc chắn rằng file xuất ra sẽ
tương thích với các thiết bị phát
hình hỗ trợ giải mp4(ví dụ như
đầu DVD mpeg-4,máy chơi mp4
cầm tay,điện thoại di động hỗ trợ
mpeg-4…)

Unrestricted – đúng như tên gọi-
profile này không có bất kỳ 1 giới
hạn nào cả.Và những file được convert ở profile này không được đảm bảo là sẽ tương
thích với các thiết bị chơi mp4 chuyên dụng.

Tóm lại,khi chọn profile bạn nên nhớ rằng:mức profile càng cao,càng sử dụng được
nhiều công cụ hơn,chất lượng thu được càng tốt,độ tương thích với thiết bị chuyên
dụng càng kém.Cho nhu cầu nén phim DVD ra đĩa CD,tôi khuyên bạn nên chọn AS @
L5 cho nhu cầu nén film hàng ngày.

Profile
Chọn more… cửa sổ chi tiết về profile hiện ra.

Quantization type,chọn H.263 nếu bạn có ý định nén một bộ phim có độ dài trung

qua
ntizer
khác nhau cho
mỗi macroblock-hay dễ hiểu hơn
là 16x16 block (tính năng mà
DivX không có).Khi gặp những
phần quá tối hoặc quá
sáng,adaptive quantization(lumi-masking) sẽ nén những phần đó với tỷ lệ nén cao
hơn các phần có màu bình thường mà mắt người dễ nhận biết hơn.Và bởi vì có những
chi tiết đã được nén mạnh nên một số lượng bitrate sẽ được tiết kiệm và dành cho
các phần hình ảnh khác,do đó chất lượng video thu được ở những phần mà người
xem hay chú ý là cao hơn.
Mặc dù vậy,đôi khi những phần mất chi tiết đó sẽ làm cho việc theo dõi hình ảnh trở
nên khó khăn(khó chịu?!) hơn và làm mất đi những chi tiết quan trọng(không phải
phần hình ảnh quá tối hay quá sáng nào cũng là “đồ bỏ”).Vì vậy tùy chọn này là
không nên đối với những video có bitrate cao(khoảng trên 1500 kbit/s).

Interlaced Encoding Nếu file video xuất ra được chọn là dạng interlace thì check vào
ô này sẽ cải thiện hiệu năng trong quá trình encode.

Quarter pixel(qpel) được biết đến là như là “quarter pixel motion estimation”-một
nâng cấp của “motion estimation”.Tính năng này giúp đánh giá chuyển động chính
xác hơn(trên ¼ pixel thay vì 1 pixel)và đặc biệt có tác dụng với hình ảnh ở độ phân
giải thấp.Chỉ một số thiết bị chơi mp4 có hỗ trợ qpel.

Global Motion Compensation(GMC)-giúp cho hình ảnh thể hiện tốt hơn khi tạm
dừng và quan sát gần cũng như có khả năng cải thiện chất lượng hình ảnh nếu tỷ lệ
khung hình được định dạng kích cỡ quá chênh lệch so với tỉ lệ khung hình gốc.Có vẻ
như tính năng này rất ít khi được sử dụng(ngay cả tôi cũng vậy).Hiện tại tôi chưa
biết loại thiết bị nào có thể chơi được mp4 sử dụng GMC,một khi bạn đã check vào

nó(trước và sau).B-frame cũng được dự đoán(predict) bới 2 frame này.Bởi vì có sự
liên kết,tham khảo với cả 2 frame trước và sau nên tên của loại frame này là
"Bidirectional-frame" hay frame 2 chiều.

Cách hoạt động
:đầu tiên ta có một nhóm picture(GOP-Group of pictures),ở đầu mỗi
nhóm này là một I-frame lưu đầy đủ giữ liệu của một hình ảnh.Các P-frame và B-
frame đứng sau I-frame này và lưu các giữ liệu thể hiện sự khác nhau giữa các frame
đứng trước hay sau chúng,mặt khác chúng cũng liên kết với I-frame trong nhóm để
tìm thông tin cần thiết.

Ví dụ:ta có 1 GOP như sau:
IBBPBBBPBBBPBBP,trong GOP này,I sẽ là frame đứng đầu
nhóm và P sẽ là frame kết thúc nhóm,sau P chắc chắn sẽ là một I-frame để bắt đầu
GOP tiếp theo.Cụ thể hơn,nếu ta có một đoạn film quay cảnh một chiếc xe hơi đang
di chuyển từ phải qua trái,đầu tiên,I-frame sẽ lưu lại đầy đủ hình ảnh của chiếc xe
khi nó ở bên phải,sau đó,các B hay P frame thay vì tiếp tục lưu những hình ảnh hoàn
chỉnh của chiếc xe sẽ chỉ nhận ra những điểm khác ở thời điểm xảy ra frame đó với
I-frame đầu nhóm,rốt cuộc hình ảnh chiếc xe khi nó ở bên trái màn hình thực chất ra
không phải là một hình ảnh theo đúng nghĩa,frame ở vị trí đó sẽ chỉ làm nhiệm vụ là
di chuyển chiếc xe từ phía bên phải qua bằng cách chỉ ra tọa độ để đặt chiếc xe vào
đó(trên thực tế mọi việc diễn ra phúc tạp hơn)

Với cách phân chia như vậy,I-frame là frame có dung lượng lớn nhất(thường là gấp
hơn 5 lần so với B-frame với các setting và matrix tôi hay sử dụng),P-frame có dung
lượng lớn hơn B-frame nhưng đa số vẫn nhỏ hơn so với I-frame.Trong một file
mpeg,số lượng I-frame là ít nhất,chúng đóng vai trò là hình ảnh đầu tiên mỗi khi
chuyển cảnh,nhiều hơn là P-frame và nhiều nhất là b-frame.Khi kéo thanh trượt trên
chương trình playback mpeg,những hình ảnh mà chúng ta có thể truy cập tới chính là
những I-frame,đó cũng là một lý do loại frame này được gọi là key frame.

file mpeg có thể chỉnh sửa được(trái
ngược với một fiel mpeg dùng open GOP
sẽ không thể chỉnh sửa được).

Level

Ta chuyển qua Tab level,ở đây không có
gì để bạn chỉnh sửa ngoài việc chọn
level(công việc mà chúng ta đã làm ngay
từ đầu).Đây có thể coi là phần tham khảo
thêm để bạn thực sự hiểu rõ mỗi profile @
level sẽ tương ứng với những “cấu hình”
nào cho file tạo thành. Aspect Ratio(AR)

Pixel AR :
XviD theo mặc định sẽ giữ tỉ lệ pixel là 1:1(ngang x dọc) để đảm bảo tương
thích.Điều đó có nghĩa là pixel mặc định của XviD sẽ là hình vuông.Ta cũng có thể
chỉnh pixel AR tương ứng với tỷ lệ của
file gốc.

Display AR :có thể hiểu đây là tỷ lệ
khung hình,hay tỉ lệ giữa chiều dài và
chiều rộng.
Ở một số codec,chiều dài phải chia hết

có chất lượng tạm chấp nhận được…vậy thì bạn rất thích hợp để chọn Single
pass.Đặc điểm của single pass là bạn chỉ encode một lần,sau đó thu được kết quả
ngay,và chất lượng thu được thì không thể coi là tốt đặc biệt là ở bitrate thấp.

-Bạn có một chiếc máy tính với khả năng xử lý không tồi,bạn đặc biệt yêu thích video
chất lượng cao và sẵn sàng dành nhiều thời gian cho sở thích này,chắc chắn bạn phải
encode Twopass rồi.So với single pass thì loại encode này sẽ lấy đi của bạn khoảng
thời gian gần gấp đôi cho cùng một file encode,chất lượng thu được thì rất tốt vì
ngoài một bước dựng hình(pass 2) ta đã có thêm một bước phân tích(pass 1)

Vậy bình thường nên chọn type nào?dĩ nhiên tôi sẽ khuyên bạn luôn encode 2
pass,bởi vì bạn chỉ encode một lần thôi trong khi video đó bạn chắc chắn sẽ xem
nhiều hơn một lần,vì vậy đã làm thì phải đến nơi đến chốn.Nhưng hãy suy nghĩ lại
nếu bạn có một chiếc máy tính quá yếu.Tưởng tượng rằng processor của bạn có tốc
độ 500 Mhz và bạn chỉ có 64MB RAM,encode một bộ film dài khoảng 2 tiếng chắc
chắn sẽ ngốn của bạn khoảng 10 giờ/1pass,vậy là nếu bạn dùng 2 pass,bạn sẽ mất
cả ngày trời bật máy chạy liên tục mà không làm được gì cả ngoài việc chờ đợi nó
nén xong film(thật là cực hình)…
Tuy nhiên,hãy kiên nhẫn đọc đến phần cuối cùng,tôi sẽ mách cho bạn vài thủ thuật
để sự việc trở nên đơn giản hơn.

Cách setting cho các pass
Single pass
Không cần phải bận tâm về những setting với dạng encode này lắm,một khi ban đã
chọn single pass,không thể hy vọng sẽ thu được chất lượng cao trừ khi bạn nâng
bitrate lên đáng kể.
Chất lượng hình ảnh sẽ được quyết định qua Target bitrate hay Target Quantizer
Từ khi bắt đầu tới giờ,chúng ta đã nói nhiều về thuật ngữ Quantizer,vậy nó là
gì?Thực ra câu hỏi này rất khó trả lời ngắn gọn,nhất là khi để hiểu trọn vẹn nó cần
phải trải qua một khóa học căn bản khá dài.Nhưng hãy hiểu đơn giản rằng Quantizer

quantizer
là 2).Những thông tin về các
frame sẽ được 1
st
pass ghi lại dưới một
file log dạng txt và bạn có thể quyết
định đường dẫn tới file này.
Không đánh dấu Full quality first pass ,nó không hề cải thiện chất lượng file ở 2
nd

pass.
Đánh dấu Discard first pass,nếu không 1
st
pass sẽ ghi thêm một file mp4 vô dụng và
làm chậm quá trình encode.

Twopass 2
nd
pass

Lấy thông tin từ file log của 1
st

pass,tiến hành so sánh đồng thời
encode file video.Đối với phần thiết lập
thông số cho file xuất,ta vẫn có Target
bitrate như ở Single pass nhưng


Max overflow improvement và Max overflow degradation thể hiện codec có thể đền
bù bao nhiêu phần trăm overflow / underflow khi tăng hoặc giảm kích cỡ của các khu
vực trong file video.Giá trị đuợc nhập càng cao,quá trình thực hiện overflow /
underflow càng diễn ra nhanh,nhưng cũng đồng nghĩa với việc sẽ không có bitrate
được lưu trữ lại để cung cấp cho những frame có thể cần tới nó.Phần trăm được set
càng lớn sẽ càng làm sai lệch khích thước của file xuất ra so với tính toán ban đầu.
Overflow control strength chỉ định phần trăm phân phối overflow / frame trong giới
hạn của overflow improvement/degradation tối đa nói ở trên.

Những thông số này sẽ thông báo cho bộ điều khiển bitrate biết cường độ giảm
bitrate so với quantizer1(mức q có chất lượng hoàn hảo).Giá trị càng cao nghĩa là
chất lượng bitrate của file xuất càng gần với q1+kích thước file càng lớn.

Overflow và Underflow ở đây được hiểu là sự vượt quá hay giảm đi của bitrate trong
một khung hình.
Curve compression
High bitrate scene degradation cho phép nhập phần trăm bitrate giảm cho những
cảnh nhiều chuyển động.
Low bitrate scenes improvement cho phép nhập phần trăm bitrate tăng cho những
cảnh ít chuyển động
Bình thường,2 thông số này được đặt ở 0%

Advanced Option

Nhấn OK để trở lại cửa sổ config đầu tiên,tìm tới nút Advanced Option
Đây là phần không kém phần quan trọng.

Motion
Thiết lập sự đánh giá chuyển động cho quá trình encode.

trắng,không nên đánh dấu vào đây mà hãy tìm tới lựa chọn “Greyscale”.

- Turbo ;-).Tối ưu hóa về tốc độ cho các thuật toán dò chuyển động,vì vậy tốc độ sẽ
được cải thiện.Thường xuyên sử dụng tùy chọn này.

Other

- Frame drop ratio.Tỉ lệ frame sẽ bị loại bỏ.Đừng dùng nó nếu bạn muốn encode
hoàn chỉnh 1 file video

-Maximum I-frame interval.Số frame (khác I) tối đa tồn tại giữa 2 keyframe,thường
set là 300,tức là nếu sau 300 frame mà không xuất hiện một I-frame nào,quá trình
encode sẽ tự động chèn 1 I-frame vào.Nếu bạn biết video của mình có fps là bao
nhiêu,bạn có thể tham khảo các thông số dưới đây:
NTSC FILM (23.976 fps) set: 240
PAL (25 fps) set: 250
NTSC (29.970 fps) set: 300
-Cartoon mode (trong hình minh họa không có).Dùng khi bạn encode phim hoạt
hình.Lưu ý đây là dành cho phim hoạt hình của Mỹ,CG,không phải là anime,vì vậy
nếu xử lý anime,bạn không cần sử
dụng mode này.

Quantization

-Quantizer restrictions.
Giới hạn của quantizer cho từng loại
frame.Các ô để nhạp thông số đều rất
dễ hiểu,bạn có thể chỉnh được biên độ
quantizer cho cả 3 loại frame I,B,P.



FourCC used-4CC
Bạn sẽ cần lưu ý thêm về vấn đề này vì nó liên tới quá trình playback sau này.4CC
là 4 ký tự đại diện cho codec dùng cho một file mp4.Với mỗi 4CC sẽ lại có một cách
giải mã khác nhau để có thể playback được file video tương ứng.bạn có thể đổi 4CC
XviD thành DivX hay DX50 để tương thích với bộ giải mã của mình. Zone Options

Bạn nghĩ sao nếu trong bộ film của bạn có thêm phần credit ở cuối và chúng thật
sự không quan trọng lắm để bạn encode bình đẳng như phần movie chính.Sẽ có lúc
bạn có nhu cầu điều chỉnh chất lượng của phần credit này khác đi so với tổng thể của
bộ film(để tiết kiệm thêm không gian đĩa cho việc khác chẳng hạn).Đây là lúc chúng
ta cần tới Zone Options.

Nhấn vào nút Zone options
để cửa sổ mới hiện ra

Hãy xác định frame bắt đầu cho
đoạn film mà bạn muốn thao tác
riêng bằng cách nhập thông số
vào ô start frame #.Ta có thể
tính số frame bằng cách lấy thời
gian(tính bằng giây) nhân với fps
của bộ file
video(23.97,25,29.7…)

Rate control

Khi thiết lập xong,chọn OK,khi
quay trở lại màn hình chính bạn sẽ
thấy các thông số trong ô Zones
thay đổi.bạn có thể tạo hay xóa
nhiều Zones cùng một lúc bằng
cách dùng Add hay Remove để
quản lý chúng.

Chọn OK để hoàn thành việc configure cho XviD.

Một số điều nên biết khi encode XviD mp4. Chỉ với một máy tính với processor hỗ trợ 2 tập lệnh MMX và SSE và môt ổ cứng đủ
lớn là bạn đã có thể encode video được rồi(nếu encode DVD thì bạn cần thêm một
DVD-rom nữa).Hai điều kiện quan trọng hàng đầu trong một máy tính dùng để

dụng được trên Windows thì còn thua xa. Vài gợi ý nhỏ để việc encode trở nên dễ chịu hơn:

-Ổ cứng phải trong tình trạng còn đủ chỗ trống và không bị phân mảng.Cụ thể bạn
nên dành riêng một phân cho việc lưu giữ các file dùng cho encode và dung lượng
phân vùng đó càng lớn càng tốt,lý tưởng nếu bạn có thể dành riêng một ổ cứng vài
trăm GB.
-Phải chắc chắn file nguồn dùng để encode nằm trên ổ cứng.Sẽ cực kỳ tai hại khi bạn
encode thẳng từ ổ đĩa quang hay các thiết bị lưu trữ sử giao diện có tốc độ
thấp.Không những những thiết bị đó sẽ bị tổn hại sau nhiều giờ làm việc liên tục(đặc
biệt là các ổ đĩa quang CD-rom,DVD-rom…) mà tốc độ encode của bạn cũng sẽ bị
chậm lại vì tình trạng thắt cổ chai.
-Nên tắt bớt những ứng dụng không thực sự cần thiết trong quá trình encode.Ví dụ
như các chương trình quét virus,các ứng dụng tự động trên system tray(tôi không
bao giờ dùng những chức năng trên sys tray ngoại trừ 1 vài trường hợp đặc
biệt),điều này sẽ giúp bạn tiết kiệm khá nhiều bộ nhớ hệ thống và có thể là cả CPU
usage.
-Nên tạo nhiều job rồi encode cùng một lúc,như vậy sẽ tránh tình trạng phải tinh
chỉnh nhiều lần tại nhiều thời điểm khác nhau(dễ gây ra chờ đợi,chán nản nếu thời
gian quá dài)
-Đặc biệt nếu bạn sở hữu một PC không thuộc loại tiên tiến hiện nay nhưng vẫn
muốn chạy đa nhiệm trong quá trình encode có thể kéo dài tới hàng chục tiếng đồng
hồ,hãy tham khảo phương pháp sau:
+Nếu muốn chạy đa nhiệm và không muốn quá trình encode ảnh hưởng tới
performance của ứng dụng sẽ sử dụng,hãy bật task manager lên(click chuột phải lên
taskbar rồi chọn task manager),tìm đến chương trình đang làm nhiệm vụ
encode,bạn sẽ thấy nó ngốn nhiều RAM và bắt CPU phải làm việc với công suất tối
đa.Bây giờ click chuột phải vào ứng dụng tốn tài nguyên đó,chọn Set Priority,chọn

vào chức năng này,ding
lượng của phân vùng lưu
hệ điều hành của bạn sẽ
bị lấy đi một phần bằng
với dộ lớn bộ nhớ mở rộng
(RAM) của máy tính(như
của tôi là 384MB vì hiện
nay PC của tôi đang cài
384MB RAM).
Khi muốn tắt máy,bạn
chọn Start/Turn Off
Computer ,khi cửa sổ
Turn Off Computer hiện
ra,hãy giữ nút SHIFT,tùy
chọn Stand by sẽ trở
thành tùy chọn
Hibernate,nhấn vào đấy
để tắt máy,mọi dữ liệu
trên RAM của bạn sẽ
không bị mất mà được lưu
lại trong file hiberfil.sys,và
lần sau khởi động
máy,RAM sẽ lại được nạp
những dữ liệu này để khôi
phục nguyên trạng những
gì đang xảy ra trước khi hibernate.
Lưu ý là khi muốn hibernate thay vì tắt máy,bạn không nên có những can thiệp sâu
Vào hệ thống như chỉnh sửa registry,cài đặt và tháo cài đặt phần mềm vì những
hành động đó có thể sẽ làm máy của bạn restart,và thế là bạn mất tất cả những gì
đang có.


© by denise


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status