Tài liệu Tiểu luận "Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất" - Pdf 95

Tiểu luận "Lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất"

A. LỜI NÓI ĐẦU
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất là qui luật hết sức phổ biến trong công cuộc xây dựng
đất nước của mỗi quốc gia. Sự mâu thuẫn hay phù hợp giữa quan hệ sản xuất
và lực lượng sản xuất đều có ảnh hưởng rất lớn tới nền kinh tế. Sự tổng hoà
mối quan hệ
giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo nên một nền
kinh tế có lực lượng sản xuất phát triển kéo theo một quan hệ sản xuất phát
triển.
Nói cách khác quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và
trình độ của lực lượng sản xuất là một điều kiện tất yếu để phát triển một nền
kinh tế.
Do vậy, nghiên c
ứu về quy luật này sẽ giúp cho mỗi sinh viên chúng
ta, đặc biệt là sinh viên khối kinh tế, có thêm những hiểu biết ban đầu và sâu
sắc hơn về sự phát triển của nước ta cũng như trên thế giới; hiểu được quy

của quy luật này dẫn tới sự thay đổi của phương thức sản xuất và kéo theo
sự thay đổi cua toàn bộ đời sống xã hội.
Với những lý do trên, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất
và trình độ phát triển của lực l
ượng sản xuất có ý nghĩa hết sức to lớn. Tuy
nhiên, việc nắm bắt được quy luật này không phải là đơn giản, nhận biết
được một quan hệ sản xuất có phù hợp với tính chất và trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất hay không hoàn toàn phải phụ thuộc vào thực tiễn
của sản xuất và kinh nghiệm bản thân. Với những chính sách, đường lối và
chủ trương đ
úng đắn, nắm bắt tốt quy luật của Đảng và Nhà nước, nền kinh
tế, đặc biệt là kinh tế nhiều thành phần đã phát triển mạnh mẽ, đưa nước ta
từ một nước nông nghiệp lạc hậu phát triển thành nước sản xuất nông nghiệp
tiên tiến; góp phần đẩy nhanh nền kinh tế nước nhà đi sang một hướng khác,
sánh vai cùng các nước trong khu vực và trên thế giới.

II- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

A/ KHÁI NIỆM VỀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT:
1/ Lực lượng sản xuất:
Để tiến hành sản xuất thì con người phải dùng các yếu tố vật chất và
kỹ thuật nhất định. Tổng thể các nhân tố đó là lực lượng sản xuất. Lực lượng
sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Nghĩa là trong
quá trình thực hiện sản xuất xã hội con người chinh phục tự nhiên bằng các
sức mạnh hiện thực c
ủa mình sức mạnh đó được chủ nghĩa duy vật lịch sử
khái quát trong khái niệm lực lượng sản xuất. Trình độ lực lượng sản xuất
biểu hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người. Lực lượng sản xuất
nói lên năng lực thực tế của con người trong quá trình sản xuất tạo nên của
cải cho xã hội đảm bảo sự phát triển của con ngườ

tất yếu. Như vậy quan hệ sản xuất do con người tạo ra song nó được hình
thành một cách khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của bất kỳ ai. Việc
phải thiết lập các mối quan hệ trong sản xuất tự nó đã là vấn đề có tính quy
luật tất yếu, khách quan của sự vận động xã hội.
Với tính chất là những quan hệ kinh tế khách quan không phụ thuộc
vào ý muốn của con người, quan hệ sản xuất là những quan hệ mang tính vật
chất của đời sống xã hội. Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lượng
sản xuất và là cơ sở của đời sống xã hội.
Quan hệ sản xuất gồm 3 mặt:
- Quan hệ sở hữu về tư liêu sản xuất tức là quan hệ giữa người với tư
liệu sản xuất. Tính chất của quan hệ sản xuất trước hết được quy định bởi
quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất – Biểu hiện thành chế độ sở hữu.
trong hệ thống các quan h
ệ sản xuất thì quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất có
vai trò quyết định đối với các quan hệ xã hội khác.
- Quan hệ tổ chức và quản lý kinh doanh sản xuất: Tức là quan hệ
giưã người với người trong sản xuất và trong trao đổi vật chất của cải. Trong
hệ thống các quan hệ sản xuất các quan hệ về mặt tổ chức quản lý sản xuấ
t
là các quan hệ có khả năng quyết định một cách quy mô tốc độ hiệu quả và
xu hướng mỗi nền sản xuất cụ thể đi ngược lại các quan hệ quản lý và tổ
chức có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế xã
hội.
- Quan hệ phân phối sản xuất sản phẩm: tức là quan hệ chặt chẽ với
nhau cùng m
ục tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu qủa tư liệu sản xuất
để làm cho chúng không ngừng được tăng trưởng, thúc đẩy tái sản xuất mở
rộng nâng cao phúc lợi cho người lao động. Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ
chức quản lý, trong hệ thống quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt phân phối
sản phẩm lao động cũng là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn

giai đoạn của lịch sử loài người thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của
loài người trong giai đoạn đó. Khái niệm trình độ của lực lượng sản xuất nói
lên khả năng của con người thông qua việc sử dụng công cụ lao động thực
hiện quá trình cải biến tự nhiên nhằm đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển
của mình. Trình độ lực lượng sản xuất thể hiện ở: Trình độ công cụ lao
động, trình độ quản lý xã hội trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản
xuất, kinh nghiệm và kỹ năng của con người và trình độ
phân công lao động.
Trên thực tế tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất không tách
biệt nhau
2/ Quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất:
Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là hai mặt của phương thức
sản xuất, sự tác động lẫn nhau giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
biểu hiên mối quan hệ mang tính chất biện chứng. Chính sự thống nhất và
tác động giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất đã hình thành nên quy
luật về sự phù hợp giữ
a quan hệ sản xuất với tính chất và trìng độ phát triển
của lực lượng sản xuất.
Lực lượng sản xuất là nhân tố thường xuyên biến đổi và phát triển.
Ngược lại quan hệ sản xuất thường có tính ổn định trong một thời gian dài.
Sự biến đội của lực lượng sản xuất có nhiều nguyên nhân:
- Bản thân người lao động thì những kỹ năng và kinh nghiệm không
ng
ừng tích luỹ và tăng lên.
- Bản thân tri thức khoa học trí thức công nghệ trở thành lực lượng
sản xuất trực tiếp.
- Sự ổn định của quan hệ sản xuất là nhu cầu khách quan để có thể sản
xuất được.
Chính vì vậy mà sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một giới hạn

ng sản
xuất.
Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực
lượng sản xuất vì nó quyết định mục đích sản xuất, quy định hệ thống quản
lý sản xuất và quản lý xã hội quy định phân phối và phần của cải ít hay
nhiều mà người lao động được hưởng. Do đó nó tạo ra những điề
u kiện hoặc
kích thích hoặc hạn chế sự phát triển của công cụ sản xuất áp dụng thành tựu
khoa học và sản xuất hợp tác phân công lao động.

C/ SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT CỦA CÔNG TY BÊ TÔNG VÀ XÂY
DỰNG VĨNH TUY VÀO SẢN XUẤT:
Trước yêu cầu đổi mới để phát triển , đồng thời nhằm cải thiện điều
kiện sống và làm việc cho CNLĐ, năm 2002, Cty đã đầu tư trên 11 tỉ đồng
để trang bị các dây chuyền sản xuất hiện đại có công suất cao như dây
chuyền bê tông thương phẩm, máy trộn bê tông 120m3/giờ, 10 xe trộn bê
tông th
ương phẩm 6,5m3/xe, dây chuyền sản xuất ống cống li tâm. Cty đầu
tư cho Xí nghiệp Cơ khí Vận tải hệ thống máy cắt dập tôn làm khuôn và hộp
đầu cọc. Hiện tại CTy đã tự sản xuất hộp đầu cọc các loại. Dự kiến năm
2003, CTy sẽ đầu tư thêm một máy trộn bê tông 120m3/giờ và dây chuyền
sản xuất cọc ống bê tông ứng xuất trước.
Trong bộn bề
lo toan cùng chuyên môn nâng cao chất lượng sản phẩm
để khẳng định vị thế, tạo công ăn việc làm cho NLĐ, BCH Công đoàn vẫn
làm tốt chức năng bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng của NLĐ. Công
đoàn phối hợp với chuyên môn thực hiện mọi chế độ chính sách đối với
NLĐ như ký TƯLĐTT, đóng BHXH, BHYT, đảm bảo tiền lương , tiền
thưởng kị
p thời, công bằng. Hàng năm CNLĐ được trang bị BHLĐ, được

quan hệ sản xuất lại thường có tính ổn định song sự ổn định đó chỉ là tạm
thời và cũ
ng cần có sự thay đổi cho phù hợp. Nếu quan hệ sản xuất không có
những sự thay đổi cho phù hợp thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của sản xuất.
Như vậy, trong việc xác lập hoàn thiện, thay đổi quan hệ sản xuất cần
phải căn cứ vào thực trạng của các lực lượng sản xuất hiện có về mặt tính
chất và trình độ của chúng (đây là cơ sở lý luận tr
ực tiếp của việc xác định
cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay của quá trình cải cách
của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay).
2/ GIẢI PHÁP:
Cải tạo xã hội chủ nghĩa phải luôn luôn thấu suốt đặc điểm của quá
trình tiến từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa là quan hệ sản
xuất và lực lượ
ng sản xuất luôn luôn gắn bó với nhau, thúc đẩy nhau cùng
phát triển. Phải coi trọng những hình thức kinh tế trung gian, quá độ từ thấp
lên cao, từ quy mô nhỏ lên quy mô lớn. Trên mỗi bước đi phải đẩy mạnh xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo ra lực lượng sản xuất mới trên cơ sở đó tiếp
tục đưa quan hệ sản xuất lên hình thức, quy mô thích hợp để cho lực lượng
sản xuất phát triển. DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Giáo trình triết học Mác-LêNin (Nhà xuất b
ản Chính trị quốc gia).
- Tạp trí triết học (2002).
-
(1)
Báo Lao Động Thủ đô.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status