Tài liệu Tiểu luận “Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá và vai trò của nó trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta hiện nay” - Pdf 95

Trường……………….
Khoa……………… ………… o0o………… TIỂU LUẬN

“Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá và
vai trò của nó trong sự nghiệp xây
dựng CNXH ở nước ta hiện nay”

1
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT

A. Đặt vấn đề
B. Nội dung
I. tất yếu khách quan và tác dụng của CNH- HĐH
1. Tính tất Tính yếu khách quan
2. Tác dụng của CNH- HĐH
II. Nội dung cơ bản của sự nghiệp CNH- HĐH ở nước ta trong các thời
kỳ
1. Thực chất của vấn đề CNH- HĐH
2. Những yếu tố chủ y

nghiệp lạc hậu chưa có thành tựu nào quan trọng đóng góp cho nền kinh tế quốc
dân. Muốn đưa nền kinh tế đi lên để có thể sánh ngang với các nước trong khu
vực Đông nam á Thái Bình Dương và để trở thành con Rồng kinh tế thì công
nghiệ
p hoá hiện đại hoá phải được coi trọng, đánh giá đùng mức sự cần thiết của
nó trong giai đoạn hiện nay.
Trong quá trình thực hiện CNH- HĐH nền kinh tế nước ta đã đạt được
những thành tựu lớn: Đã xây dựng được một cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định
cho xã hội mới, đã chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ti
ến bộ hơn( tăng tỷ
trọng của các nghành công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu GDP, phát triển nông
nghiệp toàn diện hơn ) Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân
dân. Vậy thế nào là CNH- HĐH? và vai trò của CNH- HĐH ở nước ta trong sự
nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta hiện nay như thế nào?
CNH- HĐH hiểu theo nghĩa chung và khái quát là chuyển một nước có nền
kinh tế lạc hậu thành mộ
t nước công nghiệp hiện đại với trình độ kỹ thuật
và công nghệ tiên tiến, năng suất lao động cao trong các nghành kinh tế
quốc dân.
Trong cuốn sách giáo khoa kinh tế chính trị của Liên Xô(cũ) được dịch
sang tiếng Việt Nam năm 1958 đã đưa ra định nghĩa:” Công nghiệp hoá xã hội
chủ nghĩa là phát triển công nghiệp trước hết là công nghiệp nặng, sự phát triển
ấy cần thiết cho sự tạo nên nền kinh tế
quốc dân trên cơ sở kỹ thuật tiên tiến”.

3
Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khoá VII có đoạn viết:” Công
nghiệp hoá là quá trình biến đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế, xã hội
từ sử dụng sức lao động thủ công la chính sang sử dụng một cách phổ biến sức
lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại,


4
năm trước đây. Về mặt trình độ công nghiệp hoá của nước ta cũng bị tụt hậu so
với họ rất nhiều.Nguyên nhân là do năng suất lao động của ta thấp hơn họ nhiều
lần. Nếu tính theo già mua tương đương thì thu nhập bình quân đầu người hàng
năm của Việt Nam là 1023 trong khi đó Inđônêsia là 2181 Philipin là 2303, Thái
Lan la 3985 Malayxia là 6140. Để tránh khỏi tụt hậu xa hơn nữa, để phát triển
xa hơn nữa trên con đườ
ng đã chọn chúng ta không còn cách nào khác là đẩy
mạnh CNH- HĐH đất nước.
Chính tầm quan trọng to lớn đó của CNH- HĐH là lí do em chọn nội dung
“Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá và vai trò của nó trong sự nghiệp xây
dựng CNXH ở nước ta hiện nay” làm đề tài cho bàI tiểu luận của mình. Thông
qua bàI viết này em hy vọng có thêm hiểu biết kiến thức về CNH- HDH.

5
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I. Tính tất yếu khách quan và tác dụng của sự nghiệp CNH - HĐH
1. Tính tất yếu khách quan
Khi bước vào thời kỳ quá dộ lên CNXH,trong diêu kiện cơ sở vật chất- kỹ
thuật còn ở trình đọ thấp kém, công cụ lao động thô sơ, cơ cấu kinh tế dựa trên
nông nghiệp là chủ yếu, đa số dan cư sống bằng nghề nông nghiệp, cơ c
ấu
nghành nghề trong nông nghiệp cũng đơn giản – cơ bản là độc canh lúa nước.
Nền sản xuất vật chất của xã hội dựa trên sản xuất nhỏ là chủ yếu và mang
nặng tính tự cấp tự túc, tỷ xuất hàng hoá trong nên kinh tế tế thấp. Trong đIêu

Sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế ở
mỗi nước luôn đi đôi với sự
nghiệp bảo vệ, giữ gìn những thành quả mọi mặt đã đạt được. Trong tình hình
phức tạp của bầu không khí chính trị kinh tế hiện nay, các lực lượng phản động
trong nước và ngoài nước luôn tìm mọi cách để cản trở, phá hoại sự nghiệp
phát triển kinh tế nói riêng và sự nghiệp xây dựng xã hội mới ở nước ta nói
chung. Vì vậy chúng ta luôn phả
I tăng cường, củng cố, hiện đại hoá lực lượng
quốc phòng để nó trở thành lực lượng hùng mạnh, có khả năng bảo vệ vững
chắc tổ quốc XHCN, để cùng chung sức với các dân tộc bảo vệ nền hoà bình
thế giới, bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Hiện
đại hoá quốc phòng, tăng sức mạnh vật chấ
t – kỹ thuật cho lực lượng vũ trang,
dành thế chủ động trong mọi biến động chính trị chỉ có thể thực hiện được
trên cơ sở một nền công nghiệp hiện đại và một nền kinh tế phát triển mạnh
vững chắc.
Tóm lại tính tất yếu khách quan của CNH- HDH được bắt nguồn
từ yêu cầu của sự phát triển kinh tế, chính trị xã hội, yêu cầu củ
ng cố an ninh
quốc phòng và yêu cầu của việc mở rộng quan hệ kinh tế với bên ngoàI của đất
nước.
1. Tác dụng của CNH- HDH
Việc thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước có tác dụng về
nhiều mặt.
- CNH- HDH, xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật hiện đại và cơ cấu kinh tế
mới tạo điều kiện biế
n đổi về chất lượng sản xuất, tăng năng suất lao động,
tăng sức chế ngự của con người với thiên nhiên, tăng trưởng kinh tế và phát

7

<1.tr27>
II. Nội dung cơ bản của sự nghiệp CNH- HĐH ở nước ta trong các thời kỳ 8
1. Những yếu tố chủ yếu tác động đến sự nghiệp công nghiệp hoá ở nước ta

Sự nghiệp CNH-HĐH đất nước từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc chiụ tác
động của nhiều yếu tố : khách quan, chủ quan,bên trong, bên ngoài , kinh
tế,chinh trị xã hội, khoa học công nghệ v. .v. Các yếu tố trên diễn ra trong từng
thời kỳ , với tưng quốc gia có khác nhau . Để thuận lợi trong nghiên cứu, ngườ
i
ta thường khái quát thành hai loại: yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài
Các yếu tố bên trong bao gồm: tièm năng kinh tế tự nhiên của quốc
gia(vị trí địa ly, nguồn tài nguyên , khoáng sản trên ,trong lòng đất, tài nguyên
rừng, nguồn đọng vật cùng các nguồn thuỷ hải sản v.v.) tiềm năng kinh tế –xã
hội (lực lượng lao động,truyền thống văn hoá , lịch sử, các nghề thủ công truyền
thống cuả dân tộc năng l
ượng định hướng lãnh đạo của Đảng cầm quyền cùng
sự điêu tiết của nhà nước . Các yếu tố bên ngoài bao gồm: các thành tựu khoa
học- công nghệ thế giới, đường lối đối ngoại của các quốc gia, tất cả những
thành tựu cũng như những xu hướng biến động của nền kinh tế toàn cầu.
Cả yếu tố bên trong lẫn yếu tố bên ngoài đều là đ
iều kiện phát triển kinh tế nói
chung, đồng thời cũng là những điều kiện quyết định nội dung CNH- HĐH nói
riêng của mỗi quốc gia.
Hai yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến nội dung của công nghiệp
hoá là cách mạng khoa học kỹ thuật và quan hệ kinh tế quốc tế.
Về cách mạng khoa học kỹ thuật, đây là yếu tố tác động sâu sắc đế
n nhiều mặt

hàng trăm tỷ phép tính trong một giây. Hiện tại máy tính không chỉ để tính
toán mà là phương tiện cho hầu như tất cả các hoạt động của con người và là
cơ sở thiết yếu của công ngh
ệ thông tin hiện đại.
- Công nghệ thông tin: là lĩnh vực công nghệ phát triển nhanh nhất, thúc
đẩy quá trình chuyển từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin.
Những bước phát triển nhảy vọt của công nghệ thông tin gắn liền với sự hoàn
thiện của máy tính. Một bước nhảy vọt trong công nghệ thông tin những năm
gần đây là sự ra đời của mạng máy tính. Từ cuối những năm 1980 đến đầu
nh
ững năm 1990 mạng máy tính phát triển, nối mọi nơi trên thế giới, làm hình
thành siêu xa lộ thông tin và internet.

10
- Công nghệ vật liệu mới: được hình thành bằng việc sử dụng phương pháp
khoa học để chế tạo vật liệu thay thế cho vật liệu tự nhiên. Nhiếu loại vật liệu
mới với những ưu điểm đặc biệt đã ra đời
- Công nghệ sinh học: đang được dự kiến là công nghệ hàng đầu khi bước vào
thế kỷ XXI.
Trong đ
ó những bộ phận đang được nghiên cứu và ứng dụng nhiều nhất là:
Gen ( hay công nghệ di truyền); công nghệ dung hợp tế bào ( tổng hợp tế bào
từ những tế bào sinh vật có tính di truyền khác nhau); công nghệ gây men (
công nghệ phản ứng sinh vật). Trong đó thành công lớn nhất của các nhà khoa
học là đã vẽ được bản đồ gen của con người vào những ngày đầu của thế kỷ
XXI.
- Công nghệ vũ tr
ụ: bao gồm việc nghiên cứu chế tạo các thiết bị máy móc cho
việc bay vào vũ trụ( như vệ tinh nhân tạo, phi thuyền trở người, phi thuyền đóng
tên lửa) và đang dự kiến lợi dụng những điều kiện đặc biệt của khoảng không vũ

ngưòi lao độ
ng cao hơn trước. Không những thế công nghệ- kỹ thuật mới còn
làm thay đổi cơ cấu lao động. Nghành thứ ba phát triển đã tạo cơ hội kiếm việc
làm cho nhiều người lao động dôi ra trong các ngành khác và số lao động mới
của xã hội.
Ngoài ra cách mạng khoa học- công nghệ trong các nước phát triển còn làm thay
đổi việc phân bố địa bàn sản xuất: Một mặt nó tạo điều kiện mở rộng phạm vi
không gian, phân bố địa bàn hoạt động sản xuất; mặt khác nó hạn chế tác động
của hoàn cảnh tự nhiên đối với việc bổ trí lực lượng sản xuất trong nền kinh tế.
Tác động chung nhất của cách mạng khoa học- công nghệ trong các quốc gia
phát triển là nó làm tăng năng suất lao động xã hội ở các nước tăng lên rất cao.
Thêm nữa, cuộc cách mạng này đã tạo cho mọi quốc gia những c
ơ hội để phát
triển. Như ưu thế về vốn, công nghệ, thị trường thuộc về các nước phát triển.
Vì thế các nước chậm phát triển đang đứng trước những thách thức to lớn.
Khoảng cách chênh lệch giàu- nghèo giữa các nước ngày càng mở rộng, cạnh
tranh kinh tế diễn ra ngày càng gay gắt.
Về quan hệ kinh tế quốc tế trong những năm gần đây kinh tế hàng hoá đã phát
triể
n vượt khỏi phạm vi quốc gia và mở rộng ra phạm vi quốc tế. Sự phát triển
của kinh tế hàng hoá đến trình độ cao- kinh tế thị trường đã làm cho thị trường
thế giới phát triển cả về chiều rộng lẫn chiếu sâu. Từ đó, thị trường thế giới và
kinh tế hàng hoá đà thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phân công lao động quốc tế và

12
sự hợp tác quốc tế cũng như sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế của các
quốc gia cũng tăng lên.Mức độ và phạm vi của quan hệ kinh tế quốc tế đã phát
triển chưa từng thấy trong những năm gần đây.
Việc tham gia và mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế có tác động nhiều mặt đến
quá trình phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp hoá nói riêng c

13
Đường biển dài đã tạo cơ hội cho ngành giao thông vận tải của Việt Nam phát
triển. Bên cạnh nó các hoạt động kinh tế khai thác các tiềm năng của biển như:
đánh bắt, nuôi trồng thuỷ, hải sản, khai thác tài nguyên thiên nhiên vùng thềm
lục địa, du lịch biển có điều kiện phát triển.
+ Về tài nguyên thiên nhiên, đất đai là một loại tài nguyên quan trọng ở
Việt Nam. Số lượng 7 ha đất trồng trọt cùng v
ới khí hậu nhiệt đới, gió mùa, độ
ẩm cao tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành nông, lâm nghiệp phát triển. Tuy
vậy, khí hậu của Việt Nam cũng có mặt khắc nghiệt, gây ra biến cố như bão, lũ
lụt, hạn hán làm ảnh hưởng sâu sắc lên mọi hoạt động kinh tế.
Riêng về khoáng sản, tài nguyên khoáng sản của Việt Nam không giàu
nhưng phong phú. ở Việt Nam hiện đã phát hiện khoảng 100 loại quặ
ng kim loại
và phi kim loại. Tiềm năng này cho phép phát triển các cơ sở khai khoáng, chế
biến và tinh chế rất lớn. Tuy vậy, cùng với tình trạng chưa phát triển của cơ sở
hạ tầng, nhiều mỏ khoáng sản lại nằm ở các vùng heo hút, hiểm trở của đất
nước. Điều đó cũng gây không ít khó khăn cho việc khai thác và vận chuyển
trong quá trình sản xuất- kinh doanh.
+ Về nguồn nhân lực, Việt Nam là n
ước đông dân, bước vào thế kỷ XXI
dân số Việt Nam có trên 80 triệu người(đông dân thứ 2 ở các nước Đông Nam á
và thứ 13 trong số 216 quốc gia trên thế giới). Như vậy, Việt Nam có khoảng 40
triệu lao động tỷ lệ lao động trẻ cao, và chủ yếu tập trung ở các thành phố. Cho
đến cuối thập kỷ 90, lao động trình độ thấp vẫn chiếm tỷ lệ cao( khoảng trên
80%) .
Tình hình nguồn nhân lực nói trên có thu
ận lợi cho phát triển nhiều ngành
kinh tế mới. Đặc biệt lao động trẻ có khả năng tiếp thu công nghệ mới nhanh.
Tuy vậy, chính dân số đông cũng gây khó khăn cho vấn đề cải thiện mức sống,

Trong nền kinh tế ở nước ta hiện nay, kỹ thuật thủ công vẫn chiếm tỷ trọng
l
ớn, do đó về mặt kỹ thuật- công nghệ phải tiến hành cách mạng khoa học- kỹ
thuật. Thực chất của cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật ở nước ta có nội dung
bao hàm của cả ba cuộc cách mạng kỹ thuật mà thế giới đã trải qua.
Cách mạng khoa học- kỹ thuật ở nước ta là một quá trình không thể thực hiện
trong một thời gian ngắn, hay kết thúc ở
ngay chặng đường đầu tiên. Bởi quá
trình đó sẽ thực hiện đổi mới về kỹ thuật- công nghệ. Do những điều kiện đặc
thù của Việt Nam, nên sự đổi mới về kỹ thuật- công nghệ sẽ mang các tính chất
sau: một mặt, sự đổi mới về kỹ thuật công nghệ sẽ được tiến hành tuần tự từ

15
trình độ kỹ thuật thủ công qua các trình độ cao hơn( như kỹ thuật cơ khí) và tiến
tới áp dụng công nghệ hiện đại nhất; mặt khác, sự đổi mới tiến hành có tính
nhảy vọt, cách quãng trong những trường hợp nhất định đối với từng bộ phận
của nền kinh tế. Tức là, trong một số cơ sở và một số lĩnh vực nếu có đủ đ
iều
kiện, có thể áp dụng ngay kỹ thuật tiên tiến nhất, hiện đại nhất, bỏ qua các trình
độ kỹ thuật trung gian.
Hai là: xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lí: Cơ cấu kinh tế- kỹ thuật là tổng thể các
quan hệ kinh tế giữa các ngành, các lĩnh vực và các vùng kinh tế.
Tính chất hợp lí của một cơ cấu kinh tế- kỹ thuật phải bao gồm những vấn đề cơ
bản sau:
- Phản ánh đúng yêu cầu của các quy luật khách quan,trước hết là quy luật kinh
tế.
- Phù hợp với xu hướng tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại.
- Cho phép khai thác tốt các tiềm năng của đất nước, tiềm năng của ngành, của
doanh nghiệp ở cả chiều rộng lẫn chièu sâu.
- Cơ cấu ngành nghề trong quá trình hoạt động phải bổ sung cho nhau, thúc đẩy

ế quan trọng theo hướng khai thác triệt để các
khả năng sản xuất hàng tiêu dùng và hàng suất khẩu.
- Phát triển công nghiệp khai thác, trong đó đẩy mạnh việc thăm dò khai thác
dầu khí và một số loại khoáng sản.
- Phát triển có lựa chọn một số ngánh sản xuất tư liệu sản xuất: hóa
chất, phân bón, vật liệu xây dựng và một số bộ phận thuộc kết cấu hạ tầng c
ủa
nển kinh tế (sân bay, bến cảng, kho tàng ).
- Phat huy năng lực khoa học trong nước và tranh thủ sự hợp tác
quốc tế để phát triển ngành công nghiệp điện tử và tin học
- Xây dựng và phát triển các vùng kinh tế điển hình, từ đó hình thành
các vùng kinh tế chuyên môn hoá.
Với những nội dung cụ thể đặt ra như trên, sự nghiệp CNH- HĐH
đất nước giai đoạn 1991- 2000 đã đạt đượ
c những thành tựu lớn như sau:
Thành tựu nổi bật nhất đó là công nghiệp Việt Nam đã đạt được bước phát
triển vượt trội so với các giai đoạn trước. Từ năm 1991 đến 1998, mức tăng
trung bình hàng năm là 13%, riêng giai đoạn 1991- 1995 là 13,7%. Trong khi
đó giai đoạn 1976- 1980, mức tăng trung bình hàng năm của công nghiệp Việt
Nam là 0.6%, giai đoạn 1986- 1990 là 6.1%. Nếu tính riêng, một số ngành có

17
mức tăng trung bình hàng năm trong giai đoạn 1990- 1998 rất cao. Ví dụ, thép
cuộn: 30.5%, ắc quy và pin: 30%, dầu thô:21.1%.
Sự phát triển của khu vực công nghiệp đã làm tăng tỷ phấn công nghiệp
trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Năm 1990, công nghiệp chiếm 18.8%
GDP, năm 2000, tỷ lệ trên là 34%. Ngoài ra, công nghiệp phát triển đã có tác
động rất lớn đến sự phát triển các ngành khác.
Về cơ cấu ngành có sự thay đổi đáng kể, mộ
t số cơ sở thuộc các ngành công

- Trình độ kỹ thuật- công nghệ của nhiều cơ sở công nghiệp
Việt Nam vẫn ở trình độ thấp. Đánh giá chung, trình độ kỹ thuật- công nghệ
Việt Nam chậm hơn các nước công nghiệp từ 2 đến 3 thế hệ. Công nghệ cấp
thấp, lỗi thời chiế
m 60 đến 70%, trong khi công nghệ hiện đại chỉ chiếm 30
đến 40%. Do vậy mức tiêu hao năng lượng trên đơn vị sản phẩm lớn (gấp 1.2
đến 1.5 lần so với các nước khác trong khu vực), sản phẩm chất lượng kém,
chủng loại đơn điệu và năng lực cạnh tranh còn nhiều hạn chế.
- Thiếu vốn, thiếu đầu vào trung gian. Do thiếu đầu vào, để
hoạt động các cơ sở
công nghiệp phải nhập khẩu sản phẩm sơ chế hoặc bán
thành phẩm, nhưng việc nhập khẩu lại có khó khăn về tài chính. Trong khi đó
nhiều nguồn trong nước vẫn chưa được khai thác và sử dụng có hiệu quả.
- Hạn chế về năng lực chuyên môn và quản lý trong nguồn
nhân lực để thực hiện công nghiệp hoá đất nước theo hướng hội nhập và hiện
đại hoá n
ền kinh tế quốc gia.
- Những bất cập về thể chế, chính sách quản lý của nhà nước.
- Năng lực cạnh tranh của hàng công nghiệp Việt Nam thấp
và sự hạn chế về thị trường tiêu thụ.
Những vấn đề nêu trên đang cần tìm lời giải ở sự nghiệp CNH- HĐH trong
thập kỷ đầu tiên của thiên niên kỷ mới của nước ta
a.
Nội dung CNH- HĐH đất nước giai đoạn 2001- 2010
Sự nghiệp CNH- HĐH đất nước giai đoạn 2001- 2010 nhằm thực hiện chiến
lược phát triển kinh tế- xã hội mười năm, đó là:” Đưa nước ta thoát ra khỏi tình
trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt chất lượng đới sống vật chất, văn hoá,
tinh thần của nhân dân.Tạo nền tảng của đến năm 2020 nước ta cơ bản tr

thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng

2010, công nghiệp Việt Nam s
ẽ chiếm 37- 38% GDP và 40- 41% vào năm
2020. Đặc biệt cơ cấu kinh tế nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trên cả thị
trường trong nước và ngoài nước. Về chi tiết có những điểm đáng chú ý như
sau:
- Phát triển mạnh công nghiệp chế biến (nông sản, thuỷ sản), các ngành may
mặc, da giày.

20
- Tập trung phát triển một số lĩnh vực công nghệ cao: công nghệ thông tin,
phần mềm.
- Xây dựng có chon lọc một số cơ sở công nghiệp nặng then chốt như: năng
lương, hoá chất, luyện kim, cơ khí.
- Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ: thương mại, hàng
không, bưu chính- viễn thông, du lịch, tài chính, ngân hàng Đặc biệt sớm phổ
cập sử dụng tin học và internet trong nền kinh tế và đời s
ống xã hội.
- Tiếp tục xây dựng và từng bước hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng (giao
thông, thông tin, thuỷ lợi, hệ thống cấp thoát nước )
- Phát huy vai trò động lực của các vùng kinh tế trọng diểm,tạo diều kiện cho
các vùng khác phát triển,tăng cường mối liên kết giữa các vùng nhằm giải
quyết tình trạng kém phát triển ở một số vùng và cả nền kinh tế.
III. Nh
ững vấn đề cần giải quyết để tiếp tục thực hiện chiến lược CNh-
HĐH ở Việt Nam
Sự nghiệp CNH- HĐH đất nước để đi đến thành công phụ thuộc vào nhiều vấn
đề.
1. Tạo nguồn vốn tích lũy cho CNH- HĐH
Quá trình CNH- HĐH, quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật việc
phát triển lực lượng sản xu

nguyên ); phát triển các ngành nghề, sử dụng tối đa công suất của máy móc,
thiết bị hiện có, tạo thêm việc làm cho người lao động để tăng sản phẩ
m cho đất
nước trong đó có sản phẩm thặng dư- tiền đề của tích luỹ.
- Khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế phải được coi là đường lối
chiến lược, nhất quán được thể chế hoá bằng pháp luật để mọi cá nhân, mọi tổ
chức có vốn yên tâm mạnh dạn bỏ vốn đầu tư cho sản xuất- kinh doanh.
- Huy động nguồn vốn trong nhân dân: qua kết quả điề
u tra xã hội học vào năm
1994 nguồn vốn trong dân ước tính gần 20 triệu cây vàng và 2 nghìn tỷ đồng
tiền mặt. Để thu hut nguồn tiền nhàn rỗi này phục vụ cho sự nghiệp CNH- HĐH
đất nước, cần mạnh dạn sử dụng các công cụ như cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu
kho bạc nhà nước, các hình thức tiền gửi và cho vay với các mức lãi suất phù
hợp.
- Thực hiện tốt chính sách tiết kiệ
m. Khái niệm tiết kiệm cần được hiểu là tiết
kiệm cả trong sản xuất và tiết kiệm trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế. Như vậy,
có thể thực hiện tiết kiệm bằng việc khắc phục những phong tục, tập quán lạc
hậu; hạn chế những lãng phí từ khâu lập dự án, thiết kế, thi công cũng như trong

22
suốt quá trình hoạt động của các cơ sở kinh tế; chống những thất thoát trong
quản lý kinh tế- xã hội bằng cách nâng cao năng lực quản lý và đấu tranh chống
tham nhũng có hiệu quả; tiết kiệm của cải nhờ tái chế, chắt lọc các đồ thừa, phế
thải
Tăng tỷ lệ vốn ngân sách nhà nước dành cho đầu tư phát triển kinh tế. Muốn
vậy phải thực hiệ
n đổi mới hoạt động thu- chi và quản lý ngân sách, trong đó
đặc biệt mở rộng diện thu thuế và chống thất thu thuế.
Khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng lợi nhuận thu được từ mọi hoạt động

Đối với nước ta, lực lượng nghiên cứu khoa học đều thiếu và có nhiều hạn chế
Sự nghiệp CNH- HĐH cũng như yêu cầu phát triển tiềm năng khoa học của
đất nước, đòi hỏ
i phải tăng cường lực lượng cho nghiên cứu khoa học và đẩy
mạnh nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới.
Để đẩy mạnh việc nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học- công nghệ
có hiệu quả, cần sử dụng các biện pháp căn bản sau:
- Tổ chức và duy trì thường xuyên các phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến
kỹ thuật trong mọi tấng lớp nhân dân, mọi lứa tuổi. T
ạo ra một không khí thi đua
trong nghiên cứu khoa học làm cho quá trình lao động đồng thời là quá trình tìm
tòi sáng tạo những giải pháp kỹ thuật mới.
- Thông tin nhanh chóng, chính xác các thành tựu khoa học- kỹ thuật của trong
nước và quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu cũng như ứng dụng
những thành tựu khoa học công nghệ mới, nâng cao hiệu quả trong nghiên cứu
và ứng dụng khoa học- kỹ thuật.
- Có chính sách và biện pháp khuy
ến khích đối với những cá nhân có thành tích
trong nghiên cứu, tìm tòi sáng tạo; khuyến khích các cơ sở ứng dụng những
thành tựu khoa học công nghệ mới.
- Nhà nước cần dành tỷ lệ ngân sách đầu tư cho nghiên cứu, thử nghiệm, ứng
dụng những thành tựu khoa học- kỹ thuật mới một cách thích đáng.
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế và khoa học công nghệ
3. Làm tốt công tác điều tra cơ
bản, thăm dò địa chất
Đây là công việc cần thiết, thậm chí phải hoàn thành về cơ bản trong giai đoạn
đầu của quá trình công nghiệp hoá đất nước. Bởi vì quá trình công nghiệp hoá
đất nước đổng thời là quá trình xây dựng những cơ sở kinh tế mới, là quá trình
khai thác những tiềm năng để phát triển kinh tế.


trung tâm và mục đích đầu tiên của sự nghiệp công nghiệp để tạo ra sự tăng
trưởng và phát triển cho nền kinh tế. Để có thể tạo ra tốc độ cho sự tăng trưởng
và phát triển kinh tế của một quốc gia đạt được tốc độ cao khi chúng ta giải
quyết tốt và thực hiện đồng bộ cả hai nhân tố của quá trình sản xuất đó. Và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status