Tài liệu Đề án “Quỹ đầu tư chứng khoán và thực trạng của các quỹ đầu tư tại Việt Nam hiện nay” - Pdf 95


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA

^]
ĐỀ ÁN “Quỹ đầu tư chứng khoán và
thực trạng của các quỹ đầu tư
tại Việt Nam hiện nay”

Lời mở đầu.
Trước xu thế phát triển và hội nhập kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ như
hiện nay thì nhu cầu về vốn để đẩy mạnh phát triển kinh tế , tránh tụt hậu là
vấn đề cần thiết đối với mỗi nước . Để huy động vốn một cách tối đa , ngoài
sự góp mặt của ngân hàng còn có một số tổ chức phi ngân hàng khác điển hình
là quỹ đầu tư (Q
ĐT) , một định chế tài chính trung gian tham gia hoạt động
kinh doanh trên thị trường đặc biệt là trên thị trường chứng khoán (TTCK) .
Tính đến nay thì thị trường chứng khoán ở Việt Nam đã hoạt động được
hơn 3 năm. Qua báo cáo tổng kết về sư hoạt động của TTCK, chúng ta có thể
nhận thấy sự không ổn định của TTCK, giá cả chứng khoán và chỉ số chứng
khoán luôn biến động. Và một trong những nguyên nhân
đó là thiếu vắng các
tổ chức đầu tư chuyên nghiệp như các QĐT. Mặt khác, các báo cáo, chuyên đề
ít đề cập đến QĐT chứng khoán, khái niệm QĐT chứng khoán vẫn còn xa lạ

Thứ ba, TTCK Việt Nam mớ
i ở giai đoạn sơ khai , chưa cho phép một
mức giao dịch năng động chứng khoán chỉ đầu tư do quỹ phát hành . Việc rút
vốn của các nhà đầu tư ra khỏi quỹ này nếu không được mua bán cổ phần trực
tiếp vói nhau thì phải thực hiện ở các sở giao dịch nước ngoài .
Nói tóm lại , các quỹ đầu tư do người nước ngoài thành lập vào hoạt động
đầu tư vào thị trường Vi
ệt Nam vùă giúp cho phát triển , vừa tạo ra bước khởi
động cho ngành quỹ , gíp Việt Nam học tập kinh nghiệm quản lí quỹ đầu tư.
Đặc điểm của 5 quỹ thành lập sớm nhất ở Việt Nam :
Đây đều là những quỹ tư nhân và hoạt động dưới hình thức quỹ đóng .
Cách thức hoàn vốn của các quỹ là khác nhau , có thể hoàn vốn vào một thời
điểm ấn định , ho
ặc cho phép chiết khấu sau mỗi thời hạn nhất định …Chính
sách hoàn vốn của các quỹ được tóm tắt như sau :
Mục đích của các quỹ thường là tăng trưởng vốn trong dài hạn .
Phương thức đầu tư đa dạng : Các quỹ không chỉ đầu tư bằng cách mua cổ
phiếu của các công ty mà có thể đưa vào Việt Nam dưới các khoản vay nợ .
Một số quỹ còn tập trung để có
được cổ phiếu kiểm soát của các công ty .
Phương thức đầu tư của các quỹ :
Khi đầu tư vào Việt Nam , các quỹ đầu tư nước ngoài tận dụng được
những thuận lợi sau :
Thứ nhất , chính phủ Việt Nam đã có những chính sách ủng hộ quỹ đầu tư
; các Bộ , các ngành đã phối hợp để ban hành qui chế hoạt động cho sự hoạt
động của quỹ , đặc biệt là cỉa cách pháp luật , chính sãh ưu đãi đầu tư .
Thứ hai, các tổ chức ( ngân hàng , b
ảo hiểm , tổng công ty Nhà nước) và
các cá nhân có thu nhập cao có nhu cầu đầu tư ,
Thứ ba, trong thời gian qua , Việt Nam đẫ đẩy mạnh cổ phần hoá doanh

lưu hành , và không được đầu tư quá 10% tổng giá trị tài sản của quỹ vào
chứng khoán đang lưu hành của một tổ chức phát hành”.
Và khoản 3 điều 14 qui định : “ Công ty quản lí quỹ không được dùng vốn
và tài sản của các quỹ do mình quản lí mua 49% tổng giá trị chứng khoán
đang lưu hành của một tổ chức phát hành hoặc một công ty không niêm yết”.
Nếu so sánh những điều này theo đ
iều kiện hiện nay , hầu hết các doanh
nghiệp có mức vốn dưới 10 tỷ đồng dẫn đến tỷ lệ vốn mà công ty đầu tư vào
một doanh nghiệp trên tổng nguồn vốn của quỹ là quá thấp và cũng lí do trên
mà doanh nghiệp đầu tư vào nhiều doanh nghiệp khác nhau . Kết quả chi phí
quản lí khá cao , hầu hết các công ty đều chưa có lãi .
Thông tin sơ lược về các quỹ đầu tư nước ngoài hoạt độ
ng ở Việt nam
Quỹ Beta
Quỹ này được quản lý ở Việt nam bởi nhân viên kế toán người Anh và
một luật sư người Mỹ .Kể từ khi ra đời vào năm 1993, quỹ đã có một số thay
đổivề các nhà quản lý cao cấp .Quỹ có một số nhà quản trị là những chuyên
gia tư vấn hàng đầu của Việt Nam về đầu tư và luật pháp . Mục tiêu hiện tại
của quỹ
là chỉ đầu tư vào các công ty do người người nước ngoài quản lý .Beta
Fund không xem xét việc đầu tư vào các công ty đang trong quá trình khởi
nghiệp và các công ty trong nước . Dường như quỹ này sẽ không tăng cường
đầu tư vào các công ty liên doanh có vốn nước ngoài nữa , vì diễn biến vừa
qua là không tích cực . Giám đốc quỹ Beta cho rằng các động cơ của một đối
tác công nghiệp nước ngoài không phù hợp với động cơ của một tổ chức do
Nhà nướ
c Việt Nam sở hữu . Giải pháp đầu tư Beta tiến hành trong thời gian
qua là chớp thời cơ . Một khi một khoản đầu tư được coi là hấp dẫn thì dường
như sẽ xuất hiện một giải pháp thẩm định khá chi tiết theo mô hinh Anh – Mỹ
. Theo những dấu hiệu gần đây nhất , Beta Fund đang có một sự thay đổi quan

năm tới là phải huy động được nhiều vốn hơ
n .
Quỹ Vietnam Enterprise Investments Ltd ( Dragon Capital )
Dragon Capital , tổ chức sử dụng quỹ , được quản lí bởi 3 người Việt Nam
và 3 chuyên gia chính người Anh ở Việt Nam . Ba người Anh này đã có kinh
nghiệm trên thị trường chứng khoán phổ thông ở châu Âu và châu á . Dragon
đã thể hiện một động lực kinh doanh lớn trong việc thiết lập các giao dịch, ví
dụ họ đã dàn xếp đầu tư vào trái phiếu có thể chuyển đổi đầu tiên ở Việt Nam .
2.3.2 Đánh giá tình hình ho
ạt động của các quỹ đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam .
Trong quá trình hoạt động , hầu hết các quỹ đầu tư đều không đạt được
mục đích ban đầu mà họ đề ra . Chỉ duy nhất Dragon Capital có vốn huy động
tăng và là quỹ hoạt động thành công nhất tại Việt Nam , đầu tư vào nhiều lĩnh
vực khác nhau và đã mang lại những kết quả nhất định . Ta có thể xem xét qua
về tình hình hoạt động của các quỹ đầu tư nước ngoài thông qua bảng tổng kết
sau:
Nhiều quỹ đã không đạt được những thành công như mong muốn là bởi
vì:
Thứ nhất , hành lang pháp luật của Việt Nam đang được xúc tiến và cải tổ
nhưng thực tế nhiều năm qua cho thấy , nó luôn không theo kịp nhịp đập của
thị trường . Điều đó càng rõ nét đối với m
ột thị trường có tính chất hoàn toàn
mới mẻ như TTCK . Cách đây 8 năm , đại bộ phận người dân Việt Nam hầu
như còn chưa biết đến hai từ “Chứng khoán” . Thuần tuý đầu tư rài chính , các
quỹ đầu tư nêu trên phải làm một công việc đầy khó khăn : “ Cung tạo cầu “.
Đó thực sự là một sự chấp nhận thử thách và tham vọng đón trước thời cơ . Họ
có tầ
m nhìn xa nhưng lại không nhận được sự hậu thuẫn đầy đủ từ phía Nhà
nước . Thiếu điều kiện thiết yếu đó cộng thêm một cái nhìn dè chừng khi họ ở

Thứ ba, lỗi cũng không hoàn toàn từ phía bên ngoài , chiến lược hoạt động
trong thời gian đầu cũng có nhiều điểm không tương thích với môi trường
kinh tế Việt Nam . Hầu hết các quỹ chỉ tập trung tìm kiếm các dự án có qui mô
lớn , trong khi thực tế vốn trung bình của mọt dự án tại Việt Nam chỉ vào
kho
ảng 10 triệu đô la Mỹ . Hơn thế , ngoài yêu cầu về qui mô , các quỹ còn
đòi hỏi khá khắt khe về tỉ suất lợi nhuận của các dự án . Với chiến lược này
thời gian đầu các quỹ đã tự trói buộc thị trường đầu tư của chính mình .
Những khó khăn trên cộng với nhiều khó khăn khác đã làm 2 trong số 6
quỹ đầu tư ban đầu không đủ kiên nhẫn đi hết chặng đường và phải chuyển
hướng sang các thị trường khác .
2.4 Vài nét về công ty quản lí quý chứng khoán đầu tiên tại Việt Nam
Thoả mãn sự mong đợi của các nhà đầu tư , ngày 15/7/2003 công ty quản
lí quỹ đầu tư chứng khoán đầu tiên tại Việt Nam mang tên công ty liên doanh
quản lí quỹ đầu tư ch
ứng khoán Việt Nam ( Viet Fund Management – VFM )
chính thức ra đời theo giấy phép số 01/ GPĐT- UBCKNN với số vốn pháp
định ban đầu là 8 tỷ đồng do ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần Sài Gòn
Thương Tín ( Sacombank) đóng góp 70% và công ty Dragon Capital đóng góp
30% . VFM có trụ sở chính đặt tại thành phố Hồ Chí Minh .
Theo ông Trần Thanh Tân , tổng giám đốc của VFM cho biết : “ Trong
giai đoạn đầu đi vào hoạt động , VFM đặt mục tiêu huy động từ 100 đến 150
tỷ đồng từ các tổ chứ
c tài chính , các cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư vò
lĩnh vực chứng khoán . Theo đánh giá của chúng tôi , đây là giai đoạn tốt nhất
cho việc đầu tư mang tính ổn định và lâu dài , vì những cơ hội trên TTCK Việt
Nam không phải lúc nào cũng sẵn có”.
Tại Việt Nam , trong khi lượng tiền gửi tiết kiệm đang gia tăng nhanh
chóng thì các cơ hội đầu tư cho nhà đầu tư trong nước vẫn còn hạn chế . Việc
hình thành và đi vào ho

phù hợp vì bản thân qui mô của thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường
tài chính nói chung còn nhỏ , các công cụ tài chính chưa nhiều và đa dạng .
Trong môi trường pháp lí chưa hoàn thiện như hiện nay , việc phát triển quỹ
đầu tư qui mô nhỏ sẽ giúp các cơ quan quản lí kiểm soát
được hoạt động của
định chế đạc biệt này , bảo vệ được quyền lợi của các nhà đầu tư tham gia góp
tiền vào quĩ . Thông qua hoạt động thực tế của các định chế này, các cơ quan
Nhà nước có cơ sở để đưa ra các chính sách để đưa ra các chính sách định
hướng về mặt vĩ mô mang tính khả thi cũng như điều chỉnh khung pháp lí phù
hợp với hoạt động kinh doanh thự
c tế , nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ
chức này .
Mở rộng dần phạm vi hoạt động của công ty quản lí quỹ và đa dạng hoá
mục tiêu đầu tư cucả các Quỹ .
Các tổ chức hoạt động đầu tư chuyên nghiệp , ngoài hoạt động qủn lí các
quỹ do mình lập ra , có thể tận dụng các đội ngũ chuyên gia phân tích thực
hiện quản lí danh mục đầu tư , nhận uỷ thác đầu tư tài sản của khách hàng là
các tổ hcức kinh tế hoặc cá nhân có nhu cầu . Việc mở rộng hoạt động kinh
doanh cho các công ty quản lí danh mục đầu tư sẽ giúp cho các công ty quản lí
quỹ nâng cao hơn hoạ
t động đầu tư chuyên nghiệp của mình , đồng thời có thể
trnag trải chi phí hoạt động của công ty .
Đối với các quỹ đầu tư , việc định hướng chính sách đầu tư cho các quỹ
trong từng thời kì cụ thể là việc cần thiết nhằm tạo ra các tiêu chí hoạt động
đầu tư của các quỹ , giúp cho người đầu tư định hướng và đưa ra quyết định
chấp nhận đượ
c . Trong điều kiện quy mô thị trường chứng khoán như hiện
nay còn nhỏ , cần thiết hướng dẫn các quỹ đầu tư đầu tiên xây dựng các chính
sách đầu tư phù hợp với qui mô và định hướng phát triển trên thị trường , chủ
yếu tập trung lập các quỹ cổ phiếu và quỹ cân đối . Sau đó trên cơ sở thực tiễn

đáng kể cho sự hình thành và phát triển của TTCK đầu tiên tại Việt Nam . Vì
được xây dựng trên cơ sở lí thuyết nên một số qui định chưa được phù hợp với
thực tế hoạt
động cũng là điều không tránh khỏi . Vì vậy sau thời gian 3 năm
thị trường chứng khoán Việt Nam hoạt động , cần có sự điều chỉnh văn bản
pháp lí cho phù hợp để không những tạo sự phát triển ổn định và bền vững cho
thị trường chứng khoán mà còn là cơ sở để các quỹ đầu tư phát triển hơn .
Các qui định cần sửa đổi bổ sung hoặc đư
a vào trong nghị định 48 /1998/
CP- NĐ :
Định nghĩa quỹ đầu tư chứng khoán .
Định nghĩa quỹ đầu tư chứng khoán hiện nay đang bị bó buộc trong phạm
vi quá hạn , là một trong những trở ngại cho việc hình thành các quỹ . Đặc biệt
là thuật ngữ “ chứng khoán” , nếu hiểu theo phạm vi điều chỉnh trong nghị
định chỉ có các chứng khoán niêm yết . Và thực tế số lượng chứng khoán đượ
c
niêm yết trên TTCK thì cón khiêm tốn . Vì vậy cần sửa đổi :
Liên quan đến thuật ngữ chứng khoán là gì , cần thiết đưa ra chỉnh sửa
khái niệm về tổ chức phát hành theo nghĩa rộng hơn .
Về tỉ lệ đầu tư tối thiểu 60% vốn và tài sản của quỹ vào chứng khoán :
thực tế , việc quy định những tỉ lệ cụ thể này hoàn toàn mang tính chủ quan
của các cơ quan quản lí Nhà nước . Tuy nhiên ở các nước trên thế giới qui
định tỉ lệ cụ thể này hoàn toàn phụ thuộc vào việc xác định vai trò của quỹ đầu
tư trong từng nền kinh tế cụ thể cũ
ng như các định hướng , chính sách vĩ mô
của Nhà nước đối với sự phát triển của quỹ đầu tư . Vì vậy , em cho rằng tỉ lệ
60% là không cần sủa đổi nếu khái niệm chứng khoán được hiểu theo nghĩa
rộng đối với chứng khoán niêm yết và không niêm yết .
-
3.2.1.2 Chú trọng và đẩy mạnh việc đào tạo cơ bản đội ngũ cán bộ quản lí

nước cần trợ giúp hàng hoá chứng khoán cho sự hoạt động của quỹ đầu
tư . Sự trợ giúp được thực hiện bằng cách khi tiến hành cổ phần hoá
doanh nghiệp Nhà nước , Nhà nước nên dành ưu tiên mua cổ phiếu bán
ra bên ngoài . Hiện nay, cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước thường
dành một tỉ lệ 15%-20% số cổ phiếu phát hành để bán ra bên ngoài .
Thực tế cho thấy rằng nh
ững doanh nghiệp cổ phần hoà làm ăn tốt thì
các nhà đầu tư riêng lẻ là công chúng khó có thể mua được cổ phiếu của
các doanh nghiệp này . Vì thế việc dành ưu tiên mua cho các quỹ đầu tư
vừa tạo điều kiện cho các quỹ đầu tư hoạt động lại vừa thực hiện phổ
biến rộng rãi cổ phiếu của các doanh nghiệp cổ phần hoá cho công
chúng qua việc họ mua chứng chỉ qu
ỹ đầu tư của quỹ .
-Thực hiện chính sach ưu đãi về thuế đối với hoạt dộng đầu tư
chứng khoán của quỹ đầu tư .
Quỹ đầu tư là một hình thức đầu tư còn còn rất mới mẻ , chắc
chắn rằng khi thành lập và những năm đầu mới đi vào hoạt động sẽ gặp
nhiều khó khăn . Do vậy vi
ệc thực hiện ưu đãi về thuế đối với hoạt động
đầu tư chứng khoán của quỹ là việc hỗ trợ hết sức quan trọng và cần
thiết của Nhà nước đối với sự hoạt động và phát triển của quỹ đầu tư
chứng khoán . Việc ưu đãi về thuế nên theo hướng như sau :
+ Không thu thuế giá trị gia tăng đối với ho
ạt động kinh doanh
chứng khoán của Quỹ tối thiểu thời gian 5 năm đầu .
+ Thực hiệ ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với Quỹ .
Miễn thuế trong thời gian 3 năm đầu hoạt động và giảm thuế 50% cho
3-5 năm thiếp theo .
Nhà nước cần có những chính sách thuế ưu đãi hơn đối với các
quỹ đầu tư chứng khoán vì lẽ những năm đầu mới đi vào hoạt động ,

- Mở cửa hơn nữa TTCK cho các nhà đầu tư có tổ
chức , đặc biệt khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài , các
quỹ đầu tư trong nước tham gia . Đặc biệt là cần đơn giản hoá
về thủ tục và nâng cao tỉ lệ được phép tham gia của nước ngoài
.
- Nâng cao ư
u đãi cho các tổ chức tham gia thị trường
, loại bỏ thuế chênh lệch lãi vốn cho các tổ chức giao dịch
chứng khoán .
- Nghiên cứu , đề xuất biện pháp niêm yết bắt buộc
đối với các công ty cổ phần hoá có vốn điều lệ trên 10 tỷ và có
trên 100 cổ đông bên ngoài và các chứng khoán nợ giá trị lớn
hơn 250 tỷ .
- Phát hành các chứng khoán nợ dài hạn hơn , hấp dẫn

n niêm yết các chứng khoán nợ có thời hạn lớn hơn 12 tháng
và các trái phiếu công trình .
KẾT LUẬN
Trong những năm vừa qua , nền kinh tế nước ta phát triển tương dối ổn
định . Năm 2003 , GDP đạt 7,04% , tỷ lệ đói nghèo giảm từ 20% xuống còn
10% ,điều đó chứng tỏ sự đúng đắn trong đường lối chiến lược mà Đảng đề ra
. Và để đ
áp ứng nhu cầu về vốn cho những năm tiếp theo , một trong những
chiến lược đã được Đảng đề cập trong văn kiện đã thông qua tại Đại hội Đảng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status