TRƯỜNG……………
D E
Đề án “Một số giải pháp thúc đẩy
sự hoạt động thị trường
chứng khoán Việt Nam”
ng 100 tỷ đồng. Mặt khác, các DN có nhu cầu mở rộng sản
xuất kinh doanh nhưng huy động vốn lại chủ yếu từ vay vốn ngắn hạn ngân
hàng, lượng vốn vay lại không được đáp ứng đầy đủ. Từ những khó khăn đó,
TTCH với tư cách là kênh huy động vốn dài hạn sẽ tháo gỡ được những khó
khăn trên.
Hiện nay, ngoài sự quan trọng và cần thiết, TTCK cũng là vấn đề
thời sự,
nóng bỏng trong nền kinh tế Việt Nam. Đây cũng là vấn đề khá mới mẻ đối với
người Việt Nam.Với tư cách là một sinh viên-một nhà đầu tư tương lai, em rất
quan tâm tới vấn đề này.Vì vậy, em cũng mạnh dạn viết đề tài “Một số giải
pháp thúc đẩy sự hoạt động thị trường chứng khoán Việt Nam”. Do trình độ
và thời gian có hạ
n, nên không thể tránh được những sai sót, em rất mong nhận
được ý kiến của cô giáo TS- Lê Thị Anh Vân, người đã hướng dẫn em hoàn
thành đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Đề án môn học Thị trường chứng khoán NỘI DUNG
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
I. KHÁI NIỆM VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1. Khái niệm về chứng khoán.
Chứng khoán là những giấy tờ có giá trị, được xác nhận quyền sở hữu hợp
pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát
TTCK dài hạn
(trên một năm)
TTCK ngắn hạn
(dưới một năm)
Thị trường
tiền tệ
TTC
K
Đề án môn học Thị trường chứng khoán II. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1. Thời kỳ phôi thai (từ giữa thế kỷ 15 đến năm 1929).
Trong thời kỳ này, thị trường chứng khoán hưng thịnh nhất vào thế kỷ
19. Nhưng đến giữa thế kỷ 19, nó đã bắt đầu thể hiện các mặt tiêu cực, như
những cuộc khủng hoảng có tính chu kỳ, đỉnh cao là đầu thế kỷ 20-được kết
thúc bằng cuộc khủng hoảng nền kinh tế toàn c
ầu (1929-1933).
Các đặc điểm nổi bật thời kỳ này:
Việc hình thành thị trường chứng khoán và sở giao dịch chứng khoán là
mang tính chất tự phát, Nhà nước không can thiệp vào mà thừa nhận vai trò
tất yếu của nó trong nền kinh tế.
Thị trường chứng khoán ở thời kỳ này là thuộc về tầng lớp thương gia,
mang nhiều tính chất đầu cơ.
Hoạt động của th
ị trường chứng khoán dựa trên cơ sở tính chất hiệp hội
ngành nghề với các qui định tự đặt ra.
2. Thời kỳ phục hưng (1930-1970).
Thời kỳ này nhà nước bắt đầu can thiệp vào thị trường chứng khoán và
thị trường chứng khoán là nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trong cuộc khủng
Vốn huy động từ bên ngoài bao gồm vốn vay tín dụng của các tổ chức tài
chính và phát hành cổ phiêú, trái phiếu.
Ưu điểm của phát hành trái phiêú, cổ phiếu đối với dân chúng là họ dễ
dàng đầu tư vào b
ất cứ DN nào họ muốn hoặc mua bán kiếm lợi. Còn đối với
các DN là họ không phải trả lãi suất hàng tháng và không phải trả nợ gốc khi bị
thua kỗ.
Do tính chất của chu kỳ kinh doanh nên vốn tạm thời nhàn rỗi trong các
DN là rất lớn, bên cạnh, còn có một lượng vốn lớn nằm rải rác trong dân chưa
được huy động. Tất cả những tiềm năng này sẽ được phát huy hiệu quả nếu có
th
ị trường chứng khoán .Vì thị trường chứng khoán với cơ sở pháp lý hoàn
chỉnh và bộ má quản lý hữu hiệu, với sự phổ biến và hướng dẫn rộng rãi ,
người dân sẽ dễ dàng sử dụng nguồn tiết kiệm của họ hơn. Đây là tác nhân kích
thích ý thức tiết kiệm và tạo thói quen đầu tư trong công chúng.
Ngoài ra, trong xã hội cồn có các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi như: quỹ
b
ảo hiểm, quỹ phúc lợi tập thể…một phần vốn của quỹ này được gửi vào Nhân
hàng để thực hiện vệc thanh toán, phần còn lại, những người quản lý quỹ luôn
tự hỏi làm thế nào cho vốn của họ có khả năng sinh lãi nhiều nhất và vừa an
toàn vừa có tính tạm thời…và thị trường chứng khoán có khả năng đáp ứng yêu
cầu này.
Tóm lại,thị trường ch
ứng khoán có chức năng thu hút mọi nguồn vốn
nhàn rỗi trong xã hội để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô
doanh nghiệp góp phần giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp.
1.2. Chức năng điều tiết các nguồn vốn.
Phải thừa nhận rằng, một DN không phải lúc nào cũng thiếu hoặc thừa
vốn. Thừa hay thiếu là phụ thuộc vào tính chất c
ủa chu kỳ kinh doanh.Khi cần
ưng thông qua
những chức năng của nó thì có những vai trò sau:
2.1. Tạo vốn cho nền kinh tế quốc dân.
Do có thị trường chứng khoán nên việc đầu tư các nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi dễ dàng hơn. Từ việc nguồn vốn bị ứng đọng từ nhiều nơi, không có
khả năng sinh lời, cho đến khi có thị trường chứng khoán việc đầu tư, tích luỹ
vốn sôi động và dồ
i dào hẳn lên. Thông qua đó nền kinh tế tăng trưởng mạnh
mẽ, công ăn việc làm được giải quyết, thất nghiệp giảm. Bên cạnh, thị trường
chứng khoán như một trung tâm thu gom mọi nguồn vốn từ dân chúng, như
một nam châm cực mạnh hút các nguồn vốn từ nước ngoài. Ngoài ra còn giúp
Nhà nước giải quyết vấn đề thiếu hụt ngân sách, có thêm vốn xây dựng hạ tầng
cơ sở.
2.2. T
ạo điều kiện cho các doanh nghiệp sử dụng vốn linh hoạt và có
hiệu quả hơn.
Khi DN cần vốn để mở rộng qui mô sản xuất họ có thể phát hành chứng
khoán, vào thị trường để huy động vốn. Đây là phương thức tài trợ vốn qua
phát hành và lúc đó nguồn vốn của DN tăng lên. Lúc này rủi ro đối với doanh
nghiệp là rất nhỏ vì những cổ đông của họ
đã gánh đỡ thay. Một điều thuận lợi
nữa, khi DN chưa có cơ hội sản xuất kinh doanh, các DN có thể dự trữ chứng
khoán như là một tài sản kinh doanh và các chứng khoán đó sẽ được chuyển
nhượng thành tiền khi cần thiết thông qua thị trường chứng khoán. Ngoài ra,
khi DN niêm yết trên thị trường chứng khoán, có nghĩa là đã có chữ tín đối với
Đề án môn học Thị trường chứng khoán công chúng đầu tư. Như vậy các công ty chứng khoán sẽ là tác nhân kích thích
giúp DN tạo vốn nhanh chóng hơn.
ẫn đến sự sụp đỏ của thị trường chứng khoán .
2. Thị trường chứng khoán làm cho mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt hơn.
Do sự tập trung tư bản làm cho một số người ngày càng giàu có, khống
chế nhiều chứng khoán hơn và có thể trở thành cổ đông lớn nhấn chìm những
cổ đông nhỏ khác , dẫn đến khống chế thị trường, lũng đoạn giá cả
và phá hoại
sự ổn định của thị trường chứng khoán. Trong khi đó nhiều người bị thôn tính
trở nên nghèo hơn, gây nên mâu thuẫn xã hội ngày thêm gay gắt.
Đề án môn học Thị trường chứng khoán 3. Thị trường chứng khoán làm cho nền kinh tế dễ mất ổn định.
Khi nền kinh tế rơi vào tình trạng không ổn định, sản xuất trì trệ, thị
trường tiêu điều, vay vốn khó khăn doanh nghiệp và ngân hàng bị phá sản. Lúc
này giá cả của thị trường chứng khoán bị đảo lộn nghiêm trọng, đầu cơ điên
cuồng, gây nên khủng hoảng kinh tế.
V. CƠ CẤU TỔ CHỨC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1. Uỷ ban chứng khoán quốc gia (UBCKQG)
UBCKQG là cơ quan Nhà nước điều hành hoạt động thị trường chứng
khoán. UBCKQG ở các nước khác nhau có các cách thức tổ chức và hoạt động
khác nhau nhưng về bản chất là cơ quan có chức năng đặt ra các qui định thị
trường, khuôn khổ pháp lý cho thị trường chứng khoán. Nó cũng là cơ quan
điều hành cao nhất, kiểm tra, giám sát các hoạt động thị trường. Trong
UBCKQG, các thành viên của Chính phủ chiếm số
đông và giữ các chức vụ
chủ yếu.
2. Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK).
SGDCK có thể có tên là Trung tâm giao dịch chứng khoán với nghĩa hẹp
hơn. SGDCK được tổ chức dưới dạng công ty cổ phần hoặc công ty trách
nhiệm hữu hạn và hoạt động vói mục đích phi lợi nhuận. Đây là trung tâm đầu
khoán từ các nhà đầu tư tới những DN phát hành chứng khoán tại thị trường
thứ cấp. Mặt khác, các TGTC gồm vốn từ
dân chúng nhỏ lẻ tạo ra nguồn vốn
lớn, có thời hạn dài để mua chứng khoán từ các nhà phát hành-các DN cần vốn
lớn. Mặt khác, các TGTC cũng là người đứng ra bảo lãnh phát hành cho các
DN cần phát hành và đem bán lại cho các nhà đầu tư , hay TGTC là bạn hàng
của cả hai bên (nhà đầu tư ,DN) trong hoạt động chứng khoán.
Đối với các nhà đầu tư , không phải ai cũng có kiến thức và kinh nghiệm
về đầu tư chứng khoán. Qua các TGTC họ có thể mua đượ
c những loại chứng
khoán có chất lượng cao, rủi ro thấp. Đối với các đơn vị phát hành, việc gia
nhập thị trường chứng khoán thông qua huy động vốn từ thị trường này đòi hỏi
phải sự tư vấn hỗ trợ từ phía các TGTC.
6. Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán .
Với sự tham gia đa dạng của các TGTC trên thị trường chứng khoán, cần
thiết phải có một tổ chức
đứng ra định chế, điều hành và giám sát ngoài cơ
quan nhà nước. Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức tự định
chế, có tính hiệp hội được thành lập ở hầu hết các nước và nhiệm vụ là đặt ra
qui định nghề nghiệp bọc các tổ chức TGTC phải tuân theo, cao hơn là bảo vệ
các nhà đầu tư. Ngoài ra, còn có nhiệm vụ tập hợp thị trường, không để tình
trạng xé lẻ và kinh doanh lộn x
ộn trên thị trường mà phải theo trình tự, địa
điểm, phương thức về nghề nghiệp do hiêp hội đặt ra.
VI. HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN .
Hoạt động của thị trường chứng khoán có thể chia làm 3 loại hoạt động
chủ yếu: Các nghiệp vụ chủ yếu của thị trường chứng khoán, các nghiệp vụ liên
quan và các nghiệp vụ kỹ thuật.
1. Các nghiệp vụ trực tiếp của thị trường chứng khoán.
1.1. Phát hành chứng khoán:
khoán nào đó với giá đưa ra đến với người mua loại chứng khoán đó với giá đó.
Trên thị trường có rất nhiều cung và cầu về chứng khoán, nhưng để họ gặp
nhau ở một mức giá, với một khố
i lượng cụ thể là công việc rất khó khăn đối
với mỗi cá nhân cần mua và bán. Để giảm bớt chi phí này, các nhà môi giới là
người nắm chắc được những ai cần mua và cần bán với số lượng và giá cả cụ
thể. Từ đó, họ làm trung gian để môi giới, liên hệ cho những người này gặp
nhau và để bù đắp cho việc dàn xếp này, người môi giới chứng khoán được
hưởng một khoản phí hay là hoa hồ
ng trong môi giới giao dịch.
1.4. Nghiệp vu kinh doanh chứng khoán.
Đây là nghiệp vụ của các công ty chứng khoán tiến hành giao dịch mua
bán chứng khoán bằng tài khoản của mình và tự gánh chịu rủi ro. Chỉ có công
ty chứng khoán mới được phép thực hiện nghiệp vụ này.
Mục đích của nghiệp vụ này là thu lợi nhuận và làm ổn định thị trường.
Tại thời điểm thị trường đang lên cơn sốt về giá chứ
ng khoán, ngoài các biện
pháp khác, thì công ty chứng khoán tham gia bán chứng khoán để bình ổn giá
cả, nhằm giảm sự căng thẳng của thị trường cũng như để kiếm lời. Trong
những thời điểm suy giảm, giá chứng khoán giảm thì các công ty chứng khoán
mua vào để tăng sự sôi động của thị trường. Vì vậy công ty chứng khoán là lực
lượng dự bị làm đối trọng với các áp lực thị trường.
Đề án môn học Thị trường chứng khoán 2. Các nghiệp vụ khác liên quan.
2.1. Nghiệp vụ tín thác đầu tư chứng khoán.
Đây là việc các cá nhân, tổ chức cùng gom vốn và thành lập một công ty
hoặc dưới dạng các quỹ và họ uỷ thác quyền sử dụng vốn cho hội đồng quản trị
công ty tín thác đầu tư hoặc uỷ ban quản lý tín thác đầu tư. Số lượng vốn góp
hồng thu được, kích thích các nghiệp vụ khác hoạt động và nhằm tạo sự sôi
động, sự phong phú về cầu hàng hoá chứng khoán.
3. Các yếu tố kỹ thuật nghiệp vụ.
3.1. Phân tích chỉ số chứng khoán.
Đó là việc sử dụng các công thức toán học để tính toán và xác định độ
biến động của giá cả chứng khoán dựa trên tiêu chuẩ
n và điều kiện thị trường
nhất định. Đòi hỏi là các chuyên gia về chứng khoán, có đầy đủ thông tin chính
Đề án môn học Thị trường chứng khoán xác về thị trường, có các kỹ thuật thiết bị tiên tiến và đòi hỏi phải nghiên cứu
thường xuyên, liên tục, sâu sắc để đưa các số liệu chính xác về các chỉ số
chứng khoán và tình hình thị trường.
Vai trò:
+ Cung cấp cho nhà đầu tư những thông tin trung thực nhất về tình hình
thị trường và có các quyết định đầu tư đúng đắn.
+ Giúp các cơ quan chứng khoán Nhà nước xác định được các giới hạn
biến động từ đó có thể đưa ra các chính sách phù hợp.
+ Giúp các nhà đầu tư chứng khoán đối phó với những thay đổi của thị
trường hiện tại cũng như trong tương lai.
3.2. Xác định giá chứng khoán.
Bao gồm việc xác định giá phát hành và giá bán trên thị trường. Nghiệp
vụ này ảnh hưởng đến khả năng hấp đẫn đối với nhà đầu tư cũng như khả năng
thu hút vố
n của doanh nghiệp. Đó là việc tính toán yếu tố có lợi nhuận chứng
khoán tạo ra và các yếu tố rủi ro của chứng khoán đó. Ngoài ra, để mua chứng
khoán trên thị trường, các nhà đầu tư, các tổ chức môi giới, kinh doanh và tư
vấn đầu tư chứng khoán cũng phải xác định được mức giá cụ thể mua được
Bảng: Tốc độ tăng trưởng GDP và lạm phát. Đơn vị: %
Năm 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Tốc độ tăng GDP 5,96 8,65 8,07 8,84 9,54 9,34 8,15 5,83 4.99 6,7
Tốc độ lạm phát 67,5 17,5 5,2 14,4 12,7 4,5 3,6 9,2 0,1 -
Để đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước đòi hỏi phải có một nguồn vốn lớn.
Nghị quyết Đại hội VIII đã đề ra cho giai đoạn 1996-2000 đòi hỏi một nguồn
vốn 40-45 tỷ USD, bình quân mỗi năm phải đạt 8 tỷ USD để thúc đẩy CNH-
HĐH nhằm từng bước tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý, góp phần chống nguy cơ tụt
hậu xa hơ
n về kinh tế với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.
2. Nhu cầu về vốn trung hạn và dài hạn cho các doanh nghiệp Việt Nam là
rất lớn.
Về quy mô vốn: Qua điều tra gần đây với 273 DN thì có khoảng 50 % có
số vốn chủ sở hữu trên 10 tỷ đồng và hầu hết là các DN Nhà nước.
Về cơ cấu vốn: Đối với khối DNNN thì tỷ lệ vốn vay trên tổng vốn kinh
doanh th
ường chiếm trên 70 %. Tỷ lệ vốn Nhà nước chiếm trên 30 % trong
tổng số vốn. Còn các công ty cổ phần có tỷ trọng phần vốn tự có trong tổng số
Đề án môn học Thị trường chứng khoán vốn kinh doanh cao hơn (60%). Tuy nhiên, họ cũng gặp khó khăn trong vấn đề
vay Ngân hàng.
Về tình hình huy động vốn của các DN: Mục đích huy động vốn chủ yếu
vào bổ sung vốn lưu động và đổi mới công nghệ. Mà nguồn vay vốn chủ yếu
lại từ vay vốn ngắn hạn Ngân hàng, và lượng vay lại không được đáp ứng đầy
đủ. Do vậy, hiệu quả của đồng vốn vay phục v
ụ sản xuất kinh doanh của các
DN bị hạn chế nhiều. Một xu hướng khá phổ biến là huy động vốn trong nội bộ
DN thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu.
Như vậy, việc thiết lập thị trường chứng khoán ở Việt Nam là hết sức
cần thiết, nó có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc huy động vốn đầu tư phát
triển kinh tế xã hội và đặc biệt là tạo điều kiện thuận lợi cho các luồng vốn ở
trong và ngoài nước lưu chuyển thông suốt, góp phần tích cực vào việc đáp ứng
nhu cầu về vốn nền kinh tế.
Đề án môn học Thị trường chứng khoán II. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT
TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1. Thuận lợi.
Thứ nhất, nước ta có một hệ thống chính trị ổn định. Thu nhập của dân
cư gần đây được cải thiện rõ rệt. Uy tín của Đảng, Nhà nước đối với nhân dân
ngày càng cao. Đây là tiền đề vững chắc mà mọi nền kinh tế đều cần đến thể
hiện thông qua mối liên hệ biên chứng giữa chính trị và kinh tế.
Thứ hai, nền kinh tế nướ
c ta đã thoát ra khỏi khủng hoảng, tăng trưởng
cao và liên tục trong những năm gần đây. Đây là tiền đề quan trọng cho các DN
làm ăn có hiệu quả và có đủ điều kiện tham gia niêm yết chứng khoán. Mức
tăng trưởng cao sẽ góp phần tăng mức tiết kiệm, đầu tư trên cơ sở đó tăng mức
cầu về chứng khoán trên thị trường.
Thứ ba, Đảng và Chính phủ
ta đã có tầm nhìn đúng đắn và quan tâm thoả
đáng về thị trường chứng khoán. Như đưa ra chính sách đa dạng hoá các hình
thức sở hữu, cải cách hệ thống tài chính, cải cách Ngân hàng, cải cách hệ thống
các DNNN. Cụ thể ngày 28/11/1996 Uỷ ban chứng khoán Nhà nước được ra
đời và đến ngày 20/7/2000 thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức đi vào
hoạt động.
Thứ tư, đối với lĩnh vực tài chính Ngân hàng, trong những năm c
ải cách
Cuối cùng, một yếu tố thuận lợi khác quan trọng đó là Việt Nam là nước
phát triển sau nên có thể tranh thủ học hỏi kinh nghiệm các nước đi trước. Nhờ
chính sách kinh tế mở cửa, hội nhập với bên ngoài, làm cho quan hệ kinh tế
trong nước cũng như quan hệ kinh tế đối ngoại ngày càng thu được những kết
quả rất đ
áng khích lệ. Bên cạnh đó, cũng có sự giúp đỡ nhiệt tình và hiệu quả
của các quốc gia, các tổ chức quốc tế. Những yếu tố này đã có những tác động
tích cực đến việc hình thành và phát triển thị trường chứng khoán ở nước ta.
2. Những khó khăn và thách thức.
Đã nói đến thị trường thì phải nói đến hàng hoá cho thị trường đó. Song,
trên thực tế hàng hoá thị trường chứng khoán Việt Nam còn nghèo nàn v
ề số
lượng và chủng loại, những công ty cổ phần đủ điều kiện tham gia niêm yết tại
trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) còn hạn chế.
Hiện nay, có khoảng 43 công ty cổ phần có đủ điều kiện niêm yết chứng
khoán trên trung tâm giao dịch chứng khoán. Nếu so sánh với tổng số công ty
cổ phần hiện có (tính đến thời điểm 19/7/2000 là khoảng 630 công ty) thì con
số này khá khiêm tốn (chiếm khoảng 6 %). Trên thực tế
rất ít các công ty đã
niêm yết chứng khoán tại trung tâm giao dịch chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh
tính đến cuối tháng 9/2000, mới chỉ có 4 công ty tham gia niêm yết.
Hệ thống kiểm toán của nước ta tuy đã được hình thành và phát triển
từng bước, nhưng vẫn chưa thể đáp ứng được nhu cầu của thị trường chứng
khoán kể cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt là khi qui mô của thị trường
ch
ứng khoán được mở rộng.
Hiện nay, trên phạm vi cả nước có hơn 20 000 DN nếu chỉ cần 1/10 số
DN này đăng ký phát hành và cần đến kiểm toán, thì khả năng hiện tại của
ngành kiểm toán trong nước (trong cả nước có 19 công ty kiểm toán độc lập
nước nước ngoài) thì sẽ cần bao nhiêu thời gian để hình thành công việc này?
phí không nhỏ, khó có thể đáp ứng trong điều kiện hoàn cảnh hiện nay.
Thứ ba, Nhà nước đã ban hành nhi
ều chính sách ưu đãi, như các công ty
chứng khoán , các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ được miễn thuế
thu nhập DN thêm một năm và được giảm 50 % trong 2 năm tiếp theo. Tuy
nhiên những ưu đãi này vẫn không thể hạn chế được những thua lỗ của họ.
Thứ tư, khi thành lập thị trường chứng khoán, mong muốn của các nhà
quản lý là mở rộng kênh huy động vốn dài hạn cho phát triển kinh tế. Tuy
nhiên, qua 3 tháng hoạt độ
ng mới chỉ có 4 công ty niêm yết. Một số công ty
chưa niêm yết khi được hỏi lý do đều trả lời rằng, nếu có nhu cầu vốn thì vay
vốn của Ngân hàng rẻ hơn.
Qua phân tích những mâu thuẫn trên để thấy rằng con đường ổn định và
phát triển thị trường chứng khoán theo đúng nghĩa của nó là không hề bằng
phẳng.
III. NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ HÌNH THÀNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
1. Điều kiện kinh tế.
Đây là nền tảng đảm bảo cho thị trường chứng khoán hoạt động và được
quyết định lớn bởi các chính sách kinh tế của Nhà nước. Hiến pháp 1992 xác
định “Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát
Đề án môn học Thị trường chứng khoán triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với các hình thức đa dạng dựa trên
chế độ sở hưũ toàn dân, sở hữu tập thể và tư nhân.”
Hiện nay Việt Nam có khoảng hàng nghìn DN các loại, cá khoảng 700
DN đã được cổ phần hoá. Trong những DN đã cổ phần hoá có rất nhiều DN có
khả năng phát hành và niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Thứ nhất là, xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho sự phát triển thị trường
chứng khoán. Tức phải xây d
ựng hệ thống giao dịch, hệ thống xử lý dữ liệu, hệ
thống thông tin và hệ thống thanh toán bù trừ, lưu trữ chứng khoán với mô hình
và mức độ tự động hoá ban đầu thích hợp.
Thứ hai là, các tổ chức hoạt động trên thị trường chứng khoán. Đây là
yếu tố có ý nghĩa rất quan trọng. Các tổ chức như các công ty bảo lãnh phát
hành chứng khoán, các công ty môi giới, các công ty tư vấn, các quỹ đầu t
ư.
Đề án môn học Thị trường chứng khoán Ngoài cần phát triển các nhà đầu tư cá tổ chức. Đây là các chủ thể chiếm tỷ
trọng lớn trong việc phát triển cầu thị trường.
IV. QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ CHO SỰ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
1. Khuôn khổ pháp lý.
Đầu năm 1990, việc nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận và phân tích các
điều kiện ra đời cho thị trường chứng khoán Việt Nam đã được thực hiện. Trên
cơ sở đó một số bản đề án hình thành thị trường chứng khoán Việt Nam đã
được xây dựng và trình Chính phủ xem xét. Năm 1994 ban chỉ đạo soạn thảo
pháp lệnh về thị trường chứng khoán bao gồm đại diện c
ủa Bộ tài chính, Ngân
hàng Nhà nước, Bộ tư pháp…đã được thành lập để thống nhất đầu mối, triển
khai xây dựng đề án về thị trường chứng khoán và soạn thảo một số văn bản
pháp qui liên quan.
1.1. Thành lập Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN)
UBCKNN được thành lập từ ngày 28/11/1996, là cơ quan thuộc Chính
phủ, có chức năng tổ chức và quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường
chứng khoán.
Vụ quản lý phát hành
chứng khoán
Vụ quan hệ quốc tế
V
ụ
t
ổ
c
h
ức
c
án
bộ
v
à
Chủ tịch
Phó chủ tịch
Đề án môn học Thị trường chứng khoán Sơ đồ: TTCK Việt Nam và các tổ chức liên hệ.
Ngườ
i tiết
kiệm
Nhà
đầu
tư
Doanh
nghiệp
Quỹ
đầu tư
Quỹ
bảo
hiểm
Quỹ
tương
hỗ
Kho
bạc
Nhà
nước
Chính
quyền
địa
p
hươn
Trung tâm thông tin
- Thông tin
- Thanh toán
- Quản l
ý
Trên đây là quy chế phát hành chứng khoán ra công chúng. Để cho các
công ty cổ phần tận dụng hết khả năng và cơ hội huy động vốn thì ngoài luật
DN hiện hành cần hoàn thiện luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán
để thị trường chứng khoán hoạt động có hiệu quả.
1.3. Ph
ương thức và quy mô hoạt động của thị trường giao dịch chứng
khoán Việt Nam.
Công ty phát hành
chứng khoán (CP,TP
Chứng chỉ đầu tư,
chứn
g
khoán khác
Hồ sơ xin cấp
giấy phép PHCK
UBCKNN
Phát
hành
CP
Lần
đầu
CP
Phát
hành
TP
Công bố
việc PH
(≤5 ngày)
Chào bán
(≤90 ngày)
Đình
chỉ PH
Thu hồi
Giấy
phép PH
Nộp lệ
phí cấp
giấy phép
(
0,02 %
)
Chế độ
báo cáo
(≤10 ngày
sau khi kết
thúc PH)
Không cấp phép (hồ sơ không hợp lệ)
Cấp phép(
≤
45
8
)
(
8
)
Đề án môn học Thị trường chứng khoán Về quy mô thị trường giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh được tổ
chức khá khiêm tốn, phù hợp với chức năng , vai trò của nó trong giai đoạn
đầu.
Về cơ cấu tổ chức:
Tất cả có hơn 80 các bộ công nhân viên làm việc tại trung tâm giao dịch
chứng khoán.
Về chức năng: đây là thị trường tập trung của các chứng khoán niêm yết
được phát hành ra công chúng. Các chức năng là: quả
n lý, điều hành và giám
sát các hoạt động giao dịch nhằm đảm bảo cho thị trường chứng khoán hoạt
động giao dịch an toàn công khai, công bằng và hiệu quả bảo vệ quyền lợi của
nhà đầu tư.
Hệ thống giao dịch tại trung tâm giao dịch chứng khoán là hệ thống giao
niêm
yết
Quản
lý giao
dịch
Giám
sát thị
trường
Đăng ký lưu
ký thanh
toán bù trừ
Công
nghệ
tin học
Nghiên cứu
thông tin
thị trường
Đề án môn học Thị trường chứng khoán a) Trái phiếu: Trái phiếu được niêm yết tại trung tâm giao dịch chứng
khoán bao gồm trái phiếu Chính phủ và trái phiếu DN.
- Trái phiếu Chính phủ: được phát hành để bù đắp thiếu hụt ngân sách
Nhà nước và phục vụ đầu tư phát triển. Bao gồm các loại như: tín phiếu kho
bạc (< 1 năm), traí phiếu kho bạc (> 1 năm) hoặc trái phiếu công trình - và đều
do Bộ tài chính phát hành.
- Thị trường trái phiếu Chính phủ những năm gần đây có xu hướng tăng.
Tuy nhiên, do tính chất của tín phiếu kho bạc là thời gian ngắn nên rất kém
hiệu quả trong việc tạo cầu hàng hoá chứng khoán. Đối với trái phiếu công
trình phải duy trì được liên tục nếu không cũng rất nhanh hết thời hạn. Bên
Thị trường chứng khoán đòi hỏi đổi ngũ nhân viên tinh thông nghiệp vụ,
có bản lĩnh phẩm chất tốt. ở Việt Nam, nói chung các yêu cầu này chưa được
đảm bảo.
Về đào tạo cán bộ: Bộ tài chính, Ngân hàng Nhà nước, các trường đại
học, các viện nghiên cứu đã tổ chức một số khoá đào tạo về th
ị trường chứng
khoán. Tuy nhiên, vẫn còn mang tính chất phôi thai, chưa có hệ thống.
Ngày 5/12/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số
1038/1997/ QĐ-TTg về việc thành lập trung tâm nghiên cứu khoa học và bồi
dưỡng nghiêp vụ chứng khoán và thị trường chứng khoán, Năm 1999, để đáp
ứng nhu cầu đào tạo, trung tâm đã có chương trình đào tạo của mình, có nhiệm
vụ trang bị kiến thức và kỹ năng cho tất c
ả những ai muốn nắm bắt về lĩnh vực
này.
Đề án môn học Thị trường chứng khoán
CHƯƠNG III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ THÚC ĐẨY SỰ
HOẠT ĐỘNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
I. HOÀN THIỆN CƠ CẤU TỔ CHỨC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Trên thế giới từ lâu đã tồn tại mô hình thị trường chứng khoán hai cấp:
thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
Thị trường sơ cấp còn gọi là thị trường giao dịch phi tập trung (OTC-
over the counter). Thị trường này được hình thành và phát triển một cách tự
phát từ nhiều năm nay, và giao dịch các loại chứng khoán chưa niêm yết. Mặc
dù thị trường OTC là sân chơi khá phù hợp và hiệu quả
đối với các DN Việt
Nam, nhưng chính phủ ta vẫn chưa có khuôn khổ pháp lý cho loại hình thị
trường này hoạt động.