Khoá luận tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp thường xuyên phải bỏ ra
các khoản chi phí về đối tượng lao động, tư liệu lao động… Toàn bộ chi phí mà
doanh nghiệp chi ra để hoàn thành một khối lượng sản phẩm, lao vụ và được bù đắp
bằng chính số tiền thu về trong quá trình tiêu thụ sản phẩm lao vụ đó
.Nguyên tắc của sản xuất kinh doanh đảm bảo mọi chi phí cho sản xuất nhỏ
hơn giá trị thu về. Có như vậy mới đảm bảo sản xuất kinh doanh có lãi, do đó trong
công tác quản lý doanh nghiệp, chỉ tiêu quan trọng luôn được các nhà doanh nghiệp
quan tâm là việc tập hợp chi phí và tính giá thành đúng đủ và chính xác. Việc này rất
cần thiết, nó giúp nhà lãnh đạo quản lý doanh nghiệp biết được chi phí và giá thành
thực tế của từng loại hoạt động, từng loại sản phẩm, lao vụ cũng như toàn bộ kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó phân tích đánh giá tình hình
thực hiện các định mức chi phí, tình hình giá thành sản phẩm tăng hay giảm, từ đó
kịp thời đề ra các biện pháp hữu hiệu, các quyết định phù hợp cho sự phát triển sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình.
Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu về mặt lý luận cũng như thực tế công tác
kế toán của công ty cổ phần sơn tổng hợp Hà Nội, em nhận thấy kế toán tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong toàn bộ
công tác kế toán của các doanh nghiệp sản xuất. Do đó em chọn đề tài “Tổ chức kế
toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở công ty cổ phần sơn tổng
hợp Hà Nội cho khoá luận tốt nghiệp của mình.
Nguyễn Thị Gấm Lớp: KT13042
1
Khoá luận tốt nghiệp
CHƯƠNG I .CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN
CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH
1.1.Tổng quan về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở
doanh nghiệp sản xuất
1.1.1. Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp
1.1.1.1.Chi phí sản xuất
-Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp: phản ánh toàn bộ chi phí về nguyên, vật liệu
chính, phụ, nhiên liệu…. tham gia trực tiếp vào việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hay
thực hiện lao vụ dịch vụ.
-Chi phí nhân công trực tiếp: gồm tiền lương, phụ cấp lương phải trả cho công
nhân trực tiếp sản xuất hay thực hiện các dịch vụ và các khoản trích cho các quỹ bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn trích theo tỷ lệ với tiền lương công
nhân trực tiếp phát sinh tính vào chi phí
-Chi phí sản xuất chung: là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân xưởng sản
xuất ( trừ chi phí vật liệu và nhân công trực tiếp)
-Chi phí bán hàng: là những chi phí phát sinh liên quan đến tiêu thụ sản phẩm,
hàng hoá dịch vụ trong doanh nghiệp.
-Chi phí quản lý doanh nghiệp: là những chi phí phát sinh liên quan đến quản trị
kinh doanh và quản lý hành chính trong phạm vi toàn doanh nghiệp
c.Phân loại chi phí theo chức năng trong sản xuất kinh doanh.
-Chi phí thực hiện chức năng sản xuất
-Chi phí thực hiện chức năng tiêu thụ
-Chi phí thực hiện chức năng quản lý
d. Phân theo cách thức kết chuyển chi phí
-Chi phí sản phẩm: là những chi phí gắn liền với các sản phẩm được sản xuất ra
hoặc được mua
-Chi phí thời kỳ: là những chi phí làm giảm lợi tức trong một kỳ nào đó
e.Phân theo quan hệ của chi phí với khối lượng, công việc, sản phẩm hoàn thành
Theo cách này chi phí được chia thành biến phí và định phí:
+ Biến phí : là những chi phí thay đổi về tổng số, về tỷ lệ so với khối lượng công
việc hoàn thành, như: chi phí nguyên liệu, nhân công trực tiếp
+ Định phí : là những chi phí không đổi về tổng số so với khối lượng công việc
hoàn thành, chẳng hạn các chi phí về khấu hao tài sản cố định, chi phí thuê mặt
bằng…vv
Nguyễn Thị Gấm Lớp: KT13042
3
những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi
phân xưởng sản xuất.
Nguyễn Thị Gấm Lớp: KT13042
4
Khoá luận tốt nghiệp
+Giá thành tiêu thụ ( còn gọi là giá thành toàn bộ hay giá thành đầy đủ) là chỉ tiêu
phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản
phẩm. Do vậy, giá thành tiêu thụ được tính theo công thức:
Giá thành toàn bộ
của sản phẩm
=
Giá thành sản
xuất sản phẩm
+
Chi phí quản lý
doanh nghiệp
+
Chi phí tiêu
thụ sản phẩm
1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Chi phí sản xuất phản ánh mặt hao phí sản xuất, còn giá thành sản phẩm phản ánh
mặt kết quả sản xuất. Tất cả những khoản chi phí phát sinh (kỳ này hay kỳ trước
chuyển sang) và các chi phí tính trước có liên quan đến khối lượng sản phẩm dịch vụ
đã hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm. Nói cách khác, giá
thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra
bất kể ở kỳ nào nhưng có liên quan đến khối lượng công việc, sản phẩm đã hoàn
thành trong kỳ
Tổng giá thành
sản phẩm hoàn
1.2.Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
sản xuất công nghiệp
1.2.1. Kế toán chi phí sản xuất
1.2.1.1.Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất (hay đối tượng tập hợp chi phí sản
xuất) chính là việc xác định giới hạn tập hợp chi phí mà thực chất là xác định nơi
phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí. Đối tượng tập hợp chi phí có thể là từng sản
phẩm , nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng, giai đoạn công nghệ, phân xưởng…. Để xác
định đối tượng tập hợp chi phí cần dựa vào các cơ sở sau:
-Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất
+ Với sản xuất giản đơn: đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là sản phẩm
hay toàn bộ quá trình sản xuất (nếu sản xuất một thứ sản phẩm) hoặc có thể là nhóm
sản phẩm ( nếu sản xuất nhiều thứ sản phẩm cùng tiến hành trong một quá trình lao
động)
+ Với sản xuất phức tạp: đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là bộ phận,
chi tiết sản phẩm, các giai đoạn chế biến, phân xưởng sản xuất hoặc nhóm chi tiết, bộ
phận sản phẩm…
-Loại hình sản xuất
+ Với sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng loạt nhỏ, đối tượng tập hợp chi phí
sản xuất là các đơn đặt hàng riêng biệt
+ Với sản xuất hàng loạt với khối lượng lớn: đối tượng kế toán chi phí sản xuất
có thể là sản phẩm, nhóm sản phẩm, chi tiết, nhóm chi tiết, giai đoạn công nghệ…
1.2.1.2. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Phương pháp kế toán chi phí sản xuất là một phương pháp hay hệ thống các
phương pháp được sử dụng để tập hợpvà phân loại các chi phí sản xuất trong phạm vi
giới hạn của đối tượng kế toán chi phí
Phương pháp kế toán chi phí bao gồm các phương pháp kế toán chi phí theo sản
phẩm , theo đơn đặt hàng, theo giai đoạn công nghệ, theo phân xưởng, theo nhóm sản
phẩm….Nội dung chủ yếu của các phương pháp kế toán chi phí sản xuất là kế toán
mở thẻ (sổ) chi tiết hạch toán chi phí sản xuất theo từng đối tượng đã xác định, phản
=
Tổng chi phí vật liệu cần phân bổ
Tổng tiêu thức phân bổ của tất cả các đối tượng
Để theo dõi các khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp kế toán sử dụng tài
khoản 621 “Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp” tài khoản này được mở chi tiết theo
từng đối tượng tập hợp chi phí
Kết cấu của tài khoản 621 “Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp” như sau:
Bên Nợ: Tập hợp chi phí nguyên vật liệu sử dụng trực chế tạo sản phẩm hay
thực hiện dịch vụ
Bên có: Giá trị vật liệu xuất dùng không hết nhập lại kho hay chuyển kỳ sau
Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo từng đối tượng
TK 621 “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” cuối kỳ không có số dư
Trình tự hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo phương pháp kê khai
thường xuyên được thể hiện qua sơ đồ sau
Nguyễn Thị Gấm Lớp: KT13042
7
Khoá luận tốt nghiệp
b.Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là khoản thù lao lao động phải trả cho công nhân
trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ như tiền lương
chính, lương phụ và các khoản phụ cấp có tính chất lương. Ngoài ra, chi phí nhân
công trực tiếp còn bao gồm các khoản đóng góp cho các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, kinh phí công đoàn do chủ sử dụng lao động chịu và được tính vào chi phí
kinh doanh theo một tỷ lệ nhất định với số tiền lương phát sinh của công nhân trực
tiếp sản xuất
Để theo dõi chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản 622 “Chi phí
nhân công trực tiếp”. Tài khoản này được mở chi tiết theo từng đối tượng kế toán chi
tỷ lệ với tiền lương của công
nhân sản xuất thực tế phát
sinh tính vào chi phí
TK 334
TK 622
TK 154
TK 338
Khoá luận tốt nghiệp
c.Kế toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là những chi phí cần thiết còn lại để sản xuất sản phẩm
sau chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. Đây là những chi
phí phát sinh trong phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất của doanh nghiệp
Kết cấu TK 627 “Chi phí sản xuất chung” như sau:
Bên Nợ: Tập hợp chi phí sản xuất chung thực tế phát sinh trong kỳ
Bên Có: Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung
Kết chuyển (hay phân bổ) chi phí sản xuất chung vào chi phí sản phẩm hay lao
vụ dịch vụ
TK 627 “Chi phí sản xuất chung” cuối kỳ không có số dư và được chi tiết
thành 6 tài khoản cấp 2 như sau:
TK 6271 “Chi phí nhân viên phân xưởng”
TK 6272 “Chi phí vật liệu”
TK 6273 “Chi phí dụng cụ sản xuất”
TK 6274 “Chi phí khấu hao tài sản cố định”
Nguyễn Thị Gấm Lớp: KT13042
9
Khoá luận tốt nghiệp
TK 6277 “Chi phí dịch vụ mua ngoài”
TK 6278 “Chi phí bằng tiền khác”
Ngoài ra, tuỳ yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp trong từng nghành cụ thể,
*
Tổng tiêu thức
phân bổ của
từng đối tượng
Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra nhỏ hơn mức công suất bình
thường thì phần định phí sản xuất chung phải phân bổ theo mức công suất bình
thường, trong đó số định phí sản xuất chung tính cho lượng sản phẩm chênh lệch
giữa thực tế so với mức bình thường được tính vào giá vốn hàng tiêu thụ. Công thức
phân bổ như sau:
Nguyễn Thị Gấm Lớp: KT13042
10
Khoá luận tốt nghiệp
Mức định phí sản xuất
chung phân bổ cho
mức sản phẩm thực tế
=
Tổng định phí sản xuất chung cần
phân bổ
Tổng tiêu thức phân bổ của sản
phẩm theo công suất bình thường
*
Tổng tiêu thức
phân bổ cho
mức sản phẩm
sản xuất thực tế
Mức chi phí sản xuất chung tính cho phần chênh lệch giữa lượng sản phẩm sản xuất
thực tế nhỏ hơn công suất bình thường sẽ tính như sau:
Mức định phí sản xuất
chung (không phân bổ)
tính cho lượng sản phẩm
theo dự toán
Các chi phí dịch vụ mua ngoài và
chi phí khác bằng tiền phát sinh
Các khoản thu hồI ghi giảm
chi phí SXC
Phân bổ (hoặc kết chuyển) chi
phí sản xuất chung vào giá thành
Kết chuyển CP SXC cố định
vào giá vốn
TK 627TK 334, 338
TK 152, 153
TK 214
TK 1421, 242, 335
TK 331, 111, 112…
TK 111, 112, 152…
TK 154
TK 632
Khoá luận tốt nghiệp
Bên Có:- Các khoản ghi giảm chi phí sản phẩm
- Tổng giá thành sản xuất thực tế hay chi phí thực tế của sản phẩm, lao vụ,
dịch vụ đã hoàn thành
Dư nợ: -Chi phí thực tế của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ dở dang chưa hoàn thành
-Việc tổng hợp chi phí sản xuất được thể hiện qua sơ đồ sau:
SƠ ĐỒ TỔNG HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT
1.2.1.3.2. Kế toán chi phí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kỳ
a. Kế toán chi phí nguyên, vật liệu
Để tập hợp các khoản chi phí vật liệu trực tiếp đã xuất dùng cho sản xuất sản
phẩm, kế toán sử dụng TK 621 “Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp”. Các chi phí phản
ánh trên tài khoản 621 được ghi một lần vào cuối kỳ hạch toán, sau khi tiến hành
kiểm kê và xác định được giá trị nguyên vật liệu tồn kho và đang đi đường
Nợ TK 631 (chi tiết đốI tượng): tổng hợp chi phí NVLTT
Có TK 621 (chi tiết đốI tượng): Kết chuyển chi phí NVLTT
b. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp được phản ánh qua tài khoản 622 “Chi phí nhân
công trực tiếp”. Việc tập hợp chi phí nhân công trực tiếp được tiến hành tương tự như
phương pháp kê khai thường xuyên. CuốI kỳ, tiến hành kết chuyển chi phí nhân công
trực tiếp vào tài khoản 631 “Giá thành sản xuất” theo từng đối tượng bằng bút toán:
Nợ TK 631: Tổng hợp chi phí nhân công trực tiếp
Có TK 622: Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp
c. Kế toán chi phí sản xuất chung
Toàn bộ chi phí sản xuất chung được phản ánh qua tài khoản 627 “Chi phí sản
xuất chung”
Cuối kỳ, kế toán tiến hành phân bổ (hoặc kết chuyển) chi phí sản xuất chung
vào tài khoản 631 “Giá thành sản xuất” bằng bút toán:
Nợ TK 631: Tổng hợp chi phí sản xuất chung
Có TK 627: Kết chuyển (phân bổ) chi phí sản xuất chung
d. Tổng hợp chi phí sản xuất sản phẩm
Để phục vụ cho tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm kế toán sử
dụng tài khoản 631 “Giá thành sản xuất”
Kết cấu của TK 631 “Giá thành sản xuất”
Bên Nợ:
-Phản ánh giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ
-Tổng hợp chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ liên quan tới chế tạo sản
phẩm hay thực hiện dịch vụ
Bên Có:
-Kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ
-Tổng giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành
Nguyễn Thị Gấm Lớp: KT13042
14
Khoá luận tốt nghiệp
bán hay tiêu thụ trực tiếp
Giá trị sản phẩm, dịch
vụ dở dang cuối kỳ
TK 631TK 621
TK 622
TK 627
TK 154
TK 632
Khoá luận tốt nghiệp
Dựa theo mức độ hoàn thành và số lượng sản phẩm dở dang để quy sản phẩm dở
dang thành sản phẩm hoàn thành. Tiêu chuẩn quy đổi thường dựa vào giờ công hoặc
tiền lương định mức. Để bảo đảm tính chính xác của việc tính giá, phương pháp này
chỉ nên áp dụng để tính các chi phí chế biến, còn các chi phí nguyên, vật liệu chính
phải xác định theo số thực tế đã dùng
Giá trị vật liệu
chính nằm trong
sản phẩm dở dang
=
Số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ
(không quy đổi)
Số lượng
thành phẩm
+
Số lượng sản phẩm dở
dang không quy đổi
*
Toàn bộ giá trị
vật liệu chính
xuất dùng
Chi phí chế biến
trong sản phẩm dở dang
+
50% chi phí chế
biến
Nguyễn Thị Gấm Lớp: KT13042
16
Khoá luận tốt nghiệp
-Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu chính: theo
phương pháp này toàn bộ chi phí chế biến được tính hết cho thành phầm. Do vậy,
trong sản phẩm dở dang chỉ bao gồm giá trị vật liệu chính và được tính theo công
thức:
Giá trị vật liệu
nằm trong sản
phẩm dở dang
=
Số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ
Số lượng
thành phẩm
+
Số lượng sản phẩm
dở dang cuối kỳ
*
Toàn bộ giá
trị vật liệu
chính xuất
dùng
- Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: theo
phương pháp này, trong giá trị sản phẩm dở dang chỉ bao gồm chi phí nguyên vật liệu
chính và chi phí vật liệu khác. Giá trị sản phẩm dở dang tính theo cách này xác định
tương tự như phương pháp ước tính theo sản lượng tương đương ở trên.
thành sản
phẩm hoàn
thành
=
Giá trị sản phẩm
dở dang đầu kỳ
+
Tổng chi phí sản
xuất phát sinh
trong kỳ
-
Giá trị sản phẩm
dở dang cuối kỳ
b.Phương pháp tổng cộng chi phí
Phương pháp này áp dụng với các doanh nghiệp mà quá trình sản xuất sản phẩm
được thực hiện ở nhiều bộ phận sản xuất, nhiều giai đoạn công nghệ. Đối tượng kế
toán chi phí sản xuất là các bộ phận, chi tiết sản phẩm hoặc giai đoạn công nghệ hay
bộ phận sản xuất. Giá thành sản phẩm được xác định bằng cách cộng chi phí sản xuất
của các bộ phận, chi tiết sản phẩm hay tổng chi phí sản xuất của các giai đoạn, bộ
phận sản xuất tạo nên thành phẩm
b. Phương pháp hệ số
Phương pháp hệ số được áp dụng trong những doanh nghiệp mà trong cùng một
quá trình sản xuất cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một lượng lao động nhưng
thu được đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí sản xuất không hạch toán
riêng cho từng loại sản phẩm được mà phải tập hợp chung cho cả quá trình sản xuất
Theo phương pháp này, trước hết kế toán căn cứ vào hệ số quy đổi để quy các
loại sản phẩm về sản phẩm gốc. Sau đó dựa vào tổng chi phí liên quan đến giá thành
các loại sản phẩm đã tập hợp để tính ra giá thành sản phẩm gốc và giá thành từng loại
sản phẩm
Z
hệ số quy đổi của sản phẩm i
q
i :
số lượng sản phẩm i
Q
0
: Tổng số sản phẩm gốc thay đổi
Z: Tổng giá thành sản xuất của tất cả các loại sản phẩm
Tổng giá thành
sản xuất của tất cả
các loại sản phẩm
=
Giá trị sản
phẩm dở
dang đầu kỳ
+
Tổng chi phí sản
xuất phát sinh
trong kỳ
-
Giá trị sản
phẩm dở dang
cuối kỳ
c.Phương pháp tỷ lệ chi phí
Đối với các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm có quy cách, phẩm
chất khác nhau như: may mặc, dệt kim, đóng giầy, cơ khí chế tạo…vv để giảm bớt
khối lượng hạch toán, kế toán thường tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo nhóm
sản phẩm cùng loại. Căn cứ vào tỷ lệ chi phí giữa chi phí sản xuất thực tế với chi phí
sản xuất kế hoạch (hoặc định mức) liên quan đến sản phẩm hoàn thành, kế toán sẽ
tính giá thành đơn vị và tổng giá thành sản phẩm từng loại
kỳ
+
Tổng chi phí
sản xuất phát
sinh trong kỳ
-
Giá trị sản
phẩm phụ
thu hồi
-
Giá trị sản
phẩm chính
dở dang cuối
kỳ
e.Phương pháp liên hợp
Phương pháp này áp dụng trong những doanh nghiệp có tổ chức sản xuất, tính
chất quy trình công nghệ và tính chất sản phẩm làm ra đòi hỏi việc tính giá thành phải
kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, có thể kết hợp phương pháp trực tiếp với
phương pháp tổng cộng chi phí , phương pháp tổng cộng chi phí với phương pháp tỷ
lệ…vv
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SƠN TỔNG HỢP HÀ NỘI
2.1. Tổng quan về công ty cổ phần sơn tổng hợp Hà nội
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triền công tycổ phần sơn tổng hợp Hà Nội
Nguyễn Thị Gấm Lớp: KT13042
20
Khoá luận tốt nghiệp
2.1.1.1.Quá trình hình thành
Vào những năm cuối của thập kỷ 60 ở Hà Nội và các tỉnh thành miền Bắc nước
ta đã xuất hiện nhiều khu công nghiệp và tiêu dùng, cũng như mực in các loại phục
Nguyễn Thị Gấm Lớp: KT13042
21
Khoá luận tốt nghiệp
Việt Nam.
Từ sau 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổng cục hoá chất được tiếp thu
thêm một số cơ sở sản xuất sơn ở miền Nam như Xí nghiệp Sơn á Đông, sơn Việt
Điểu. Tuy nhiên, các cơ sở sản xuất này có sản lượng không lớn vì vậy mà Nhà máy
sơn mực in vẫn là con chim đầu đàn trong ngành sơn của Tổng cục Hoá chất.
Trong thời gian này Nhà máy Sơn mực in đã sớm trở thành trung tâm ứng dụng
nhiều công trình nghiên cứu của các viện, các trường đại học, đặc biệt là các đề tài
của Viện Hoá Công nghiệp. Để hỗ trợ cho các đề tài nghiên cứu được áp dụng nhanh
chóng vào sản xuất, Nhà máy Sơn mực in ngoài việc sản xuất nâng cao sản lượng sơn
và mực in hàng năm, Nhà máy đã lắp đặt thêm một số thiết bị công nghệ mới như:
Năm 1979 lắp đặt một hệ thống tổng hợp nhựa phenol.
Năm 1982 xây dựng xưởng sản xuất bột ôxit sắt.
Năm 1984 xây dựng và lắp đặt xưởng cao su vòng hoá. Từ đây Nhà máy cho ra
đời thêm nhiều sản phẩm mới như sơn Alkyd - melamin, sơn chống hà, sơn cách điện.
Thời kỳ sau 10 năm đổi mới (từ 1989 đến nay), với sự đầu tư đúng hướng từng
bước chẵc chắn, nhờ đó Công ty đã có mức tăng trưởng bình quân 30%/năm đã
khẳng định được vị trí của mình trên thị trường sơn Việt Nam vốn đã có nhiều hãng
sơn nước ngoài tham gia.
Có thể nói 1992 là cái mốc khá quan trọng đối với sự hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty. Công ty mạnh dạn lập dự án vay 55.000 $ đầu tư công nghệ mới
vào dây chuyền sản xuất sơn Alkyd - sản phẩm truyền thống được thị trường tin
dùng. Chỉ sau 1 năm khi dây chuyền sản xuất đi vào hoạt động sản lượng tăng gấp
đôi (năm 1993 sản xuất được 1200tấn sơn Alkyd).
Năm 1995, Công ty đã mạnh dạn đầu tư chiều sâu, đưa trọn vẹn 5 dây chuyền
thiết bị hiện đại vào sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao.
Đến 31/12/1996 Công ty đã được thành lập lại theo quyết định số
682/QĐ/HĐQT của Hội đồng quản trị Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam, công ty đã
mu mó, cht lng tt, ỏp ng y mi nhu cu cho mi ngnh cụng nghip, nụng
nghip, xõy dng, giao thụng vn ti, thu li, quc phũng v dõn sinh. Ngoi ra, Cụng
ty cũn cú nhng dch v nh: sn trang trớ v bo v phng tin giao thụng vn ti, mỏy
múc thit b, cụng trỡnh kin trỳc (nh xng, cu, cng...), sn trang trớ v bo v b mt
sn phm bng kim loi, hp kim, phi kim (nha, g, thu tinh...).
2.1.3. B mỏy qun lý ca cụng ty c phn sn Tng hp H Ni
Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý.
Nguyn Th Gm Lp: KT13042
23
Khoỏ lun tt nghip
Nguyn Th Gm Lp: KT13042
Phân
xưởng
Sơn
công
nghiệp
P.Tổ
chức
Chủ tịch hội đồng quản
trị kiêm Giám đốc
Trợ lý
Giám đốc
Cỏc phó Giám đốc
Phân
xưởng
Sơn
ôtô, xe
máy
Phân
xưởng
&
ĐBCL
Phân
xưởng
năng
lượng
24
Khoá luận tốt nghiệp
Chức năng từng bộ phận:
CGiám đốc: là người phụ trách chung, quản lý chỉ đạo các hoạt động của Công
ty, xác lập, phê duyệt chính sách chất lượng và mục tiêu chất lượng. Bổ nhiệm
đại diện của lãnh đạo về chất lượng. Uỷ quyền và phân công trách nhiệm cho
các phó giám đốc, trợ lý giám đốc, các trưởng đơn vị trong Công ty.
c Phó giám đốc và trợ lý giám đốc : giúp việc cho Giám đốc trong các lĩnh vực
theo sự uỷ quyền của Giám đốc.
t Phòng đảm bảo chất lượng: xây dựng, áp dụng hệ thống chất lượng phù hợp
với tiêu chuẩn ISO 9002. Triển khai các hoạt động kiểm tra chất lượng nguyên
liệu, sản phẩm theo kế hoạch chất lượng và các thủ tục đã ban hành. Kiểm soát
các thiết bị kiểm tra, đo lường và thử nghiệm.
c Phòng kỹ thuật công nghệ: xây dựng và quản lý các quy trình công nghệ sản
xuất trong Công ty. Nghiên cứu các yêu cầu của khách hàng để thiết kế sản
phẩm cho phù hợp. Lập phương án xử lý các sản phẩm hoặc nguyên liệu không
phù hợp, đề ra các hoạt động khắc phục và theo dõi. Khảo sát sản phẩm mới, tư
vấn kỹ thuật cho khách hàng.
v Phòng cơ điện: lập kế hoạch và tổ chức điều hành việc sửa chữa, lắp đặt máy
móc thiết bị, soạn thảo quy trình, nội quy về vận hành máy móc thiết bị, an toàn
lao động , vệ sinh công nghiệp, môi trường và tổ chức huấn luyện cho công nhân
viên. Thực hiện việc cải tiến máy móc thiết bị để đảm bảo đầy đủ các điều kiện
kỹ thuật theo yêu cầu của công nghệ sản xuất. Tổ chức thực hiện kiểm nghiệm
máy móc thiết bị, bảo dưỡng sửa chữa hệ thống máy vi tính của Công ty.