Khoá luận tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp thường xuyên phải bỏ ra
các khoản chi phí về đối tượng lao động, tư liệu lao động… Toàn bộ chi phí mà
doanh nghiệp chi ra để hoàn thành một khối lượng sản phẩm, lao vụ và được bù đắp
bằng chính số tiền thu về trong quá trình tiêu thụ sản phẩm lao vụ đó
.Nguyên tắc của sản xuất kinh doanh đảm bảo mọi chi phí cho sản xuất nhỏ
hơn giá trị thu về. Có như vậy mới đảm bảo sản xuất kinh doanh có lãi, do đó trong
công tác quản lý doanh nghiệp, chỉ tiêu quan trọng luôn được các nhà doanh nghiệp
quan tâm là việc tập hợp chi phí và tính giá thành đúng đủ và chính xác. Việc này rất
cần thiết, nó giúp nhà lãnh đạo quản lý doanh nghiệp biết được chi phí và giá thành
thực tế của từng loại hoạt động, từng loại sản phẩm, lao vụ cũng như toàn bộ kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó phân tích đánh giá tình hình
thực hiện các định mức chi phí, tình hình giá thành sản phẩm tăng hay giảm, từ đó
kịp thời đề ra các biện pháp hữu hiệu, các quyết định phù hợp cho sự phát triển sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình.
Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu về mặt lý luận cũng như thực tế công tác
kế toán của công ty cổ phần sơn tổng hợp Hà Nội, em nhận thấy kế toán tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong toàn bộ
công tác kế toán của các doanh nghiệp sản xuất. Do đó em chọn đề tài “Tổ chức kế
toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở công ty cổ phần sơn tổng
hợp Hà Nội cho khoá luận tốt nghiệp của mình.
Nguyễn Thị Gấm Lớp: KT13042
1
Khoá luận tốt nghiệp
CHƯƠNG I .CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN
CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH
1.1. Tổng quan về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở
doanh nghiệp sản xuất
1.1.1. Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp
1.1.1.1.Chi phí sản xuất
-Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp: phản ánh toàn bộ chi phí về nguyên, vật liệu
chính, phụ, nhiên liệu…. tham gia trực tiếp vào việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hay
thực hiện lao vụ dịch vụ.
-Chi phí nhân công trực tiếp: gồm tiền lương, phụ cấp lương phải trả cho công
nhân trực tiếp sản xuất hay thực hiện các dịch vụ và các khoản trích cho các quỹ bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn trích theo tỷ lệ với tiền lương công
nhân trực tiếp phát sinh tính vào chi phí
-Chi phí sản xuất chung: là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân xưởng sản
xuất ( trừ chi phí vật liệu và nhân công trực tiếp)
-Chi phí bán hàng: là những chi phí phát sinh liên quan đến tiêu thụ sản phẩm,
hàng hoá dịch vụ trong doanh nghiệp.
-Chi phí quản lý doanh nghiệp: là những chi phí phát sinh liên quan đến quản trị
kinh doanh và quản lý hành chính trong phạm vi toàn doanh nghiệp
c.Phân loại chi phí theo chức năng trong sản xuất kinh doanh.
-Chi phí thực hiện chức năng sản xuất
-Chi phí thực hiện chức năng tiêu thụ
-Chi phí thực hiện chức năng quản lý
d. Phân theo cách thức kết chuyển chi phí
-Chi phí sản phẩm: là những chi phí gắn liền với các sản phẩm được sản xuất ra
hoặc được mua
-Chi phí thời kỳ: là những chi phí làm giảm lợi tức trong một kỳ nào đó
e.Phân theo quan hệ của chi phí với khối lượng, công việc, sản phẩm hoàn thành
Theo cách này chi phí được chia thành biến phí và định phí:
+ Biến phí : là những chi phí thay đổi về tổng số, về tỷ lệ so với khối lượng công
việc hoàn thành, như: chi phí nguyên liệu, nhân công trực tiếp
+ Định phí : là những chi phí không đổi về tổng số so với khối lượng công việc
hoàn thành, chẳng hạn các chi phí về khấu hao tài sản cố định, chi phí thuê mặt
bằng…vv
Nguyễn Thị Gấm Lớp: KT13042
3
những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi
phân xưởng sản xuất.
Nguyễn Thị Gấm Lớp: KT13042
4
Khoá luận tốt nghiệp
+Giá thành tiêu thụ ( còn gọi là giá thành toàn bộ hay giá thành đầy đủ) là chỉ tiêu
phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản
phẩm. Do vậy, giá thành tiêu thụ được tính theo công thức:
Giá thành toàn bộ
của sản phẩm
=
Giá thành sản
xuất sản phẩm
+
Chi phí quản lý
doanh nghiệp
+
Chi phí tiêu
thụ sản phẩm
1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật thiết với nhau. Chi
phí sản xuất phản ánh mặt hao phí sản xuất, còn giá thành sản phẩm phản ánh mặt kết
quả sản xuất. Tất cả những khoản chi phí phát sinh (kỳ này hay kỳ trước chuyển
sang) và các chi phí tính trước có liên quan đến khối lượng sản phẩm dịch vụ đã hoàn
thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm. Nói cách khác, giá thành sản
phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra bất kể ở kỳ
nào nhưng có liên quan đến khối lượng công việc, sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ
Tổng giá thành
sản phẩm hoàn
thành
sản xuất công nghiệp
1.2.1. Kế toán chi phí sản xuất
1.2.1.1.Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất (hay đối tượng tập hợp chi phí sản
xuất) chính là việc xác định giới hạn tập hợp chi phí mà thực chất là xác định nơi
phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí. Đối tượng tập hợp chi phí có thể là từng sản
phẩm , nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng, giai đoạn công nghệ, phân xưởng…. Để xác
định đối tượng tập hợp chi phí cần dựa vào các cơ sở sau:
-Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất
+ Với sản xuất giản đơn: đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là sản phẩm
hay toàn bộ quá trình sản xuất (nếu sản xuất một thứ sản phẩm) hoặc có thể là nhóm
sản phẩm ( nếu sản xuất nhiều thứ sản phẩm cùng tiến hành trong một quá trình lao
động)
+ Với sản xuất phức tạp: đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là bộ phận,
chi tiết sản phẩm, các giai đoạn chế biến, phân xưởng sản xuất hoặc nhóm chi tiết, bộ
phận sản phẩm…
-Loại hình sản xuất
+ Với sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng loạt nhỏ, đối tượng tập hợp chi phí
sản xuất là các đơn đặt hàng riêng biệt
+ Với sản xuất hàng loạt với khối lượng lớn: đối tượng kế toán chi phí sản xuất
có thể là sản phẩm, nhóm sản phẩm, chi tiết, nhóm chi tiết, giai đoạn công nghệ…
1.2.1.2. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Phương pháp kế toán chi phí sản xuất là một phương pháp hay hệ thống các
phương pháp được sử dụng để tập hợpvà phân loại các chi phí sản xuất trong phạm vi
giới hạn của đối tượng kế toán chi phí
Phương pháp kế toán chi phí bao gồm các phương pháp kế toán chi phí theo sản
phẩm , theo đơn đặt hàng, theo giai đoạn công nghệ, theo phân xưởng, theo nhóm sản
phẩm….Nội dung chủ yếu của các phương pháp kế toán chi phí sản xuất là kế toán
mở thẻ (sổ) chi tiết hạch toán chi phí sản xuất theo từng đối tượng đã xác định, phản
ánh các chi phí phát sinh có liên quan đến đối tượng, hàng tháng tổng hợp chi phí
khoản 621 “Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp” tài khoản này được mở chi tiết theo
từng đối tượng tập hợp chi phí
Kết cấu của tài khoản 621 “Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp” như sau:
Bên Nợ: Tập hợp chi phí nguyên vật liệu sử dụng trực chế tạo sản phẩm hay
thực hiện dịch vụ
Bên có: Giá trị vật liệu xuất dùng không hết nhập lại kho hay chuyển kỳ sau
Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo từng đối tượng
TK 621 “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” cuối kỳ không có số dư
Trình tự hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo phương pháp kê khai
thường xuyên được thể hiện qua sơ đồ sau
Nguyễn Thị Gấm Lớp: KT13042
7
TK 621
TK 151,152,331
111,112,331
TK 152
TK 154
Vật liệu dùng trực tiếp
chế tạo sản phẩm hay
thực hiện lao vụ
Vật liệu dùng không hết
nhập kho hay chuyển kỳ
sau
Kết chuyển chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp
Khoá luận tốt nghiệp
b.Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
TK 334
TK 622
TK 154
TK 338
Khoá luận tốt nghiệp
c.Kế toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là những chi phí cần thiết còn lại để sản xuất sản phẩm
sau chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. Đây là những chi
phí phát sinh trong phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất của doanh nghiệp
Kết cấu TK 627 “Chi phí sản xuất chung” như sau:
Bên Nợ: Tập hợp chi phí sản xuất chung thực tế phát sinh trong kỳ
Bên Có: Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung
Kết chuyển (hay phân bổ) chi phí sản xuất chung vào chi phí sản phẩm hay lao
vụ dịch vụ
TK 627 “Chi phí sản xuất chung” cuối kỳ không có số dư và được chi tiết
thành 6 tài khoản cấp 2 như sau:
TK 6271 “Chi phí nhân viên phân xưởng”
TK 6272 “Chi phí vật liệu”
TK 6273 “Chi phí dụng cụ sản xuất”
TK 6274 “Chi phí khấu hao tài sản cố định”
TK 6277 “Chi phí dịch vụ mua ngoài”
Nguyễn Thị Gấm Lớp: KT13042
9
Khoá luận tốt nghiệp
TK 6278 “Chi phí bằng tiền khác”
Ngoài ra, tuỳ yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp trong từng nghành cụ thể,
tài khoản 627 “Chi phí sản xuất chung” có thể mở thêm một số tài khoản cấp 2 khác
Do chi phí sản xuất chung có liên quan đến nhiều loại sản phẩm, lao vụ, dịch vụ
trong phân xưởng nên cần thiết phải phân bổ khoản chi phí này cho từng đối tượng
theo tiêu thức phù hợp (theo định mức, theo tiền lương công nhân sản xuất thực tế,
phân bổ như sau:
Mức định phí sản xuất
chung phân bổ cho
=
Tổng định phí sản xuất chung cần
phân bổ
*
Tổng tiêu thức
phân bổ cho
Nguyễn Thị Gấm Lớp: KT13042
10
Khoá luận tốt nghiệp
Tổng tiêu thức phân bổ của sản
phẩm theo công suất bình thường
Mức chi phí sản xuất chung tính cho phần chênh lệch giữa lượng sản phẩm sản xuất
thực tế nhỏ hơn công suất bình thường sẽ tính như sau:
Mức định phí sản xuất
chung (không phân bổ)
tính cho lượng sản phẩm
chênh lệch
=
Tổng định phí sản
xuất chung cần
phân bổ
-
Mức định phí sản xuất
chung phân bổ cho mức
sản phẩm thực tế
Theo quy định hiện hành, số định phí sản xuất chung không phân bổ (tính cho lượng
sản phẩm chênh lệch) không được tính vào giá thành sản xuất của sản phẩm mà được
TK 214
TK 1421, 242, 335
TK 331, 111, 112…
TK 111, 112, 152…
TK 154
TK 632
Khoá luận tốt nghiệp
Bên Có:- Các khoản ghi giảm chi phí sản phẩm
- Tổng giá thành sản xuất thực tế hay chi phí thực tế của sản phẩm, lao vụ,
dịch vụ đã hoàn thành
Dư nợ: -Chi phí thực tế của sản phẩm, lao vụ, dịch vụ dở dang chưa hoàn thành
-Việc tổng hợp chi phí sản xuất được thể hiện qua sơ đồ sau:
SƠ ĐỒ TỔNG HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT
1.2.1.3.2. Kế toán chi phí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kỳ
a. Kế toán chi phí nguyên, vật liệu
Để tập hợp các khoản chi phí vật liệu trực tiếp đã xuất dùng cho sản xuất sản
phẩm, kế toán sử dụng TK 621 “Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp”. Các chi phí phản
ánh trên tài khoản 621 được ghi một lần vào cuối kỳ hạch toán, sau khi tiến hành
kiểm kê và xác định được giá trị nguyên vật liệu tồn kho và đang đi đường
Cuối kỳ kế toán tiến hành xác định giá trị vật liệu sử dụng trực tiếp để sản xuất, chế
tạo sản phẩm, kế toán ghi:
Nguyễn Thị Gấm Lớp: KT13042
13
Các khoản ghi giảm chi
phí sản phẩm
Chi phí NVLTT
TK 154
TK 621
TK 622
TK 627
xuất chung”
Cuối kỳ, kế toán tiến hành phân bổ (hoặc kết chuyển) chi phí sản xuất chung
vào tài khoản 631 “Giá thành sản xuất” bằng bút toán:
Nợ TK 631: Tổng hợp chi phí sản xuất chung
Có TK 627: Kết chuyển (phân bổ) chi phí sản xuất chung
d. Tổng hợp chi phí sản xuất sản phẩm
Để phục vụ cho tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm kế toán sử
dụng tài khoản 631 “Giá thành sản xuất”
Kết cấu của TK 631 “Giá thành sản xuất”
Bên Nợ:
-Phản ánh giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ
-Tổng hợp chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ liên quan tới chế tạo sản
phẩm hay thực hiện dịch vụ
Bên Có:
-Kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ
-Tổng giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành
Nguyễn Thị Gấm Lớp: KT13042
14
Khoá luận tốt nghiệp
TK 631 “Giá thành sản xuất” cuối kỳ không có số dư
Quá trình tổng hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kỳ được
thể hiện qua sơ đồ sau:
SƠ ĐỒ TỔNG HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT THEO PHƯƠNG PHÁP
KIỂM KÊ ĐỊNH KỲ
1.2.1.4. Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang
Sản phẩm dở dang là những sản phẩm chưa kết thúc giai đoạn chế biến, còn
đang nằm trong quá trình sản xuất. Để tính giá thành sản phẩm, doanh nghiệp cần
thiết phải tiến hành kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang. Tùy theo đặc điểm tổ
chức sản xuất, quy trình công nghệ và tính chất của sản phẩm mà doanh nghiệp có
tiền lương định mức. Để bảo đảm tính chính xác của việc tính giá, phương pháp này
chỉ nên áp dụng để tính các chi phí chế biến, còn các chi phí nguyên, vật liệu chính
phải xác định theo số thực tế đã dùng
Giá trị vật liệu
chính nằm trong
sản phẩm dở dang
=
Số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ
(không quy đổi)
*
Toàn bộ giá trị
vật liệu chính
xuất dùng
Số lượng
thành phẩm
+
Số lượng sản phẩm dở
dang không quy đổi
Chi phí chế biến Tổng chi
-Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo chi phí định mức hoặc kế hoạch: Căn
cứ vào định mức tiêu hao (hoặc chi phí kế hoạch) cho các khâu, các bước, các công
việc trong quá trình chế tạo sản phẩm để xác định giá trị sản phẩm dở dang tương
ứng.
-Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo 50% chi phí chế biến: Để đơn giản cho
việc tính toán, đối với những loại sản phẩm mà chi phí chế biến chiếm tỉ trọng thấp
trong tổng chi phí kế toán thường sử dụng phương pháp này. Thực chất đây là một
dạng của phương pháp ước tính theo sản lượng tương đương, trong đó giả định sản
phẩm dở dang đã hoàn thành ở mức độ 50% so với thành phẩm
Giá trị sản phẩm dở
dang
1.2.2.1. Đối tượng tính giá thành
Việc xác định đối tượng tính giá thành chính là việc xác định sản phẩm , bán
thành phẩm, công việc, dịch vụ nhất định đòi hỏi phải tính giá thành một đơn vị. Đối
tượng dó có thể là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất hay đang trên dây
chuyền sản xuất tùy theo yêu cầu của hạch toán kinh tế nội bộ và tiêu thụ sản phẩm.
Để xác định đối tượng tính giá thành cần dựa vào các cơ sở sau:
- Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất: Sản xuất giản đơn hay phức tạp
+ Với sản xuất giản đơn thì đối tượng tính giá thành là sản phẩm cuối cùng
+ Với sản xuất phức tạp: đối tượng tính giá thành là thành phẩm ở bước chế tạo
cuối cùng hay bán thành phẩm ở từng bước chế tạo.
- Loại hình sản xuất: đơn chiếc sản xuất hàng loạt nhỏ hay sản xuất hàng loạt
với khối lượng lớn.
+Với sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng loạt nhỏ: đối tượng tính là sản phẩm
của từng đơn
+ Với sản xuất hàng loạt với khối lượng lớn : đối tượng tính giá thành có thể là
sản phẩm cuối cùng hay bán thành phẩm
1.2.2.2. Phương pháp tính giá thành sản phẩm
Nguyễn Thị Gấm Lớp: KT13042
17
Khoá luận tốt nghiệp
Tùy theo đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm cũng như yêu cầu
và trình độ của công tác quản lý, công tác kế toán của từng doanh nghiệp, kế toán có
thể áp dụng một trong các phương pháp tính giá thành sau:
a. Phương pháp trực tiếp (còn gọi là phương pháp giản đơn)
Phương pháp này áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất
giản đơn, số lượng mặt hàng ít, sản xuất với khối lượng lớn và chu kỳ sản xuất ngắn.
Đối tượng kế toán chi phí là từng loại sản phẩm cụ thể
Công thức tính:
Tổng giá
thành sản
= Z
Q
0
Nguyễn Thị Gấm Lớp: KT13042
18
Khoá luận tốt nghiệp
Z
i
=Z
0
* h
i
Và Q
0
= ∑q
i
* h
i
Trong đó:
Z
0
: giá thành đơn vị sản phẩm gốc
Z
i
: giá thành đơn vị sản phẩm i
h
i:
hệ số quy đổi của sản phẩm i
q
từng loại
=
Giá thành kế hoạch
hoặc định mức đơn vị
sản phẩm từng loại
*
Tỷ lệ giữa chi phí thực tế so
với chi phí kế hoạch (hoặc định
mức) liên quan đến toàn bộ
thành phẩm
d.Phương pháp loại trừ giá trị sản phẩm phụ
Đối với các doanh nghiệp mà trong cùng một quá trình sản xuất bên cạnh các
sản phẩm chính thu được còn có thể thu được những sản phẩm phụ (các doanh
nghiệp chế biến đường, rượu, bia, mỳ ăn liền…), để tính giá trị sản phẩm chính kế
toán phải loại trừ giá trị sản phẩm phụ khỏi tổng chi phí sản xuất sản phẩm
Nguyễn Thị Gấm Lớp: KT13042
i=1
n
19
Khoá luận tốt nghiệp
Tổng giá
thành sản
phẩm
chính
=
Giá trị sản
phẩm chính
dở dang đầu
kỳ
+
Công ty cổ phần Sơn Tổng hợp Hà Nội là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Tổng
Công ty Hoá chất Việt Nam, được thành lập và đi vào hoạt động từ 1/9/1970 theo Quyết
định số 1083/HC-QLKT ngày 11/08/1970, với tên gọi ban đầu là Nhà máy Sơn mực in
Tổng hợp Hà Nội đến năm 1992 Công ty mới có tên gọi như ngày nay.
Tên giao dịch quốc tế: HASYNPAINTCO
(Hanoi Synthetic Paint Company)
Hiện nay, trụ sở chính đồng thời là cơ sở sản xuất của Công ty đặt tại xã Thanh
Liệt, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội do ông Nguyễn Thiện ái làm chủ tịch hội
đồng quản trị kiêm giám đốc công ty
2.1.1.2 Quá trình phát triển công ty cổ phần sơn tổng hợp Hà Nội
Từ khi mới thành lập (ngày 1/9/1970) do mới thành lập nên cơ sở vật chất ban đầu
còn rất nghèo nàn và thô sơ, sản phẩm chủ yếu là sơn gốc dầu và mực in để phục vụ cho
các nhà in báo của Đảng và nhà nước. Vốn đầu tư của Công ty là 1,6 triệu đồng, với tổng
số 132 lao động, năng lực với sản phẩm chủ yếu là 1200 tấn sơn mực, 10 tấn sơn sản
phẩm, và tổng diện tích mặt bằng toàn Công ty là 18.491m
2
.
Từ 1971, Nhà máy Sơn mực in đã mạnh dạn lắp một nồi nấu nhựa Alkyd cỡ
300 lít với công nghệ thô sơ, gia nhiệt bằng than và sơn Alkyd cũng có mặt từ đó tuy
nhiên chất lượng còn kém. Cùng thời gian này, dự án mở rộng Nhà máy cũng được
thực thi xây dựng tại khu kho Nhà máy cao su sao vàng thuộc xã Thanh Liệt - Thanh
Trì - Hà Nội. Đây là cơ sở sản xuất sơn hiện đại nhất lắp đặt lần đầu tiên tại Việt
Nam hệ thống 4 nồi nấu nhưạ Alkyd do ta tự thiết kế, dung tích mỗi nồi là 1000lít
theo công nghệ đẳng phí và phương pháp gia nhiệt bằng điện trở. Công nghệ gia công
chế biến sơn sử dụng chủ yếu là các máy nghiền cán sơn dạng 3 trục của Cộng hoà
dân chủ Đức, Trung Quốc, Ba Lan.
Năm 1974, Nhà máy Sơn mực in mở rộng được chính thức khánh thành đi vào
sản xuất. Cũng từ đây sơn Alkyd của Nhà máy đã chiếm ưu thế trong thị trường sơn
Việt Nam.
Nguyễn Thị Gấm Lớp: KT13042
Năm 1997, Công ty đã hợp tác với PPG của Mỹ cung cấp sản phẩm dịch vụ, tư
vấn kỹ thuật sơn ô tô cho hãng Ford Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc tế. Hợp tác với
Kawakami của Nhật Bản cung cấp sơn xe máy cho hãng Honda góp phần thực hiện
Nguyễn Thị Gấm Lớp: KT13042
22
Khoỏ lun tt nghip
ch trng ni a hoỏ sn phm ca nh nc. Cụng ty khụng ngng y mnh
nghiờn cu ng dng khoa hc vo sn xut to ra nhiu sn phm cú cht lng cao,
ỏp ng nhu cu ca th trng nh sn cao su, clo hoỏ, sn phn quang, sn tng...
Hng nm tiờu th trờn 200 tn cỏc loi chim 8 - 10% sn lng.
Nm 1998, Cụng ty u t dõy chuyn sn xut nha Alkyd hin i vi cụng
sut 3000 tn/nm bc u v s nõng lờn 6000 tn/nm bc hai vo nhng
nm 2000. Nh ú cụng sut sn xut nha tng gp 5 ln, cht lng tng ng
vi cht lng nha m trc õy Cụng ty vn phi nhp khu.
c bit, thỏng 5/1999 sn phm sn ca Cụng ty ó t tiờu chun cht lng
quc t ISO 9002. T õy, Cụng ty ó a ra th trng nhng sn phm m bo
cht lng, cú uy tớn trờn th trng trong nc v ngoi nc mi thi im.
Vo cui nm 2005 cụng ty sn tng hp H Ni c c phn hoỏ theo quyt
nh ca nh nc, mang tờn gi cụng ty c phn sn tng hp H Ni, vi s vn
iu l l 23 t ng.
T khi thnh lp n nay, Cụng ty ó cung cp cho th trng nhiu loi sn
phm sn vi cht lng tt, giỏ c phự hp ó v ang ngy cng to uy tớn cao i
vi khỏch hng trờn th trng, úng gúp mt phn khụng nh vo ngõn sỏch nh
nc v to cụng n vic lm cho ngi lao ng.
2.1.2. Chc nng nhim v ca cụng ty c phn sn tng hp H Ni
* Lnh vc sn xut kinh doanh:
Cụng ty sn xut v cung cp dch v t vn v sn phm sn, vecni, cỏc cht
ph b mt, bt mu cỏc loi v cỏc cht ph gia. Sn phm ca Cụng ty a dng v
mu mó, cht lng tt, ỏp ng y mi nhu cu cho mi ngnh cụng nghip, nụng
nghip, xõy dng, giao thụng vn ti, thu li, quc phũng v dõn sinh. Ngoi ra, Cụng
nhựa
Phân
xưởng
cơ khí
P.Thị
trường
Phòng
QTĐS
Phòng
Cơ
điện
P.Vật
tư
P.Tiêu
thụ
P.Tài
chính
kế toán
P.Kế
hoạch
P.Kỹ
thuật
Phòng
HTQT
&
ĐBCL
Phân
xưởng
năng
sản phẩm của Công ty. Xem xét hoạt động bán hàng. Tổ chức quản lý chất lượng.
Nguyễn Thị Gấm Lớp: KT13042
24
Khoá luận tốt nghiệp
Phòng quản lý vật tư: thực hiện và kiểm soát công tác chuẩn bị, phê duyệt tài
liệu mua hàng. Lựa chọn nhà cung ứng, tổ chức tiếp nhận vật tư, đảm bảo chất lượng
của nguyên liệu mua về phù hợp với những yêu cầu chất lượng sản phẩm của Công
ty.
Phòng tổ chức hành chính: cung cấp đủ nguồn lực cho các hoạt động của hệ
thống quản lý chất lượng trong Công ty. Tổ chức đào tạo và đào tạo lại toàn diện cho
công nhân viên đáp ứng nhu cầu của Công ty.
Phòng Tài chính kế toán: hạch toán kế toán hoạt động sản xuất kinh doanh,
cung cấp tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, tổ chức trả lương
thưởng cho cán bộ công nhân viên, xây dựng quy chế quản lý tài chính của Công ty,
cung cấp các thông tinh về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh làm cơ sở để Ban
giám đốc đưa ra các quyết định.
*Mối quan hệ giữa các bộ phận trong hệ thống quản lý của doanh nghiệp
Các phòng ban trên đây không chỉ phải hoàn thành nhiệm vụ của mình mà còn
phải phối hợp lẫn nhau để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
được liên tục, ngoài ra còn có nhiệm vụ hướng dẫn các bộ phận cấp dưới thực hiện
các quyết định.
ở đây, Công ty đã áp dụng cơ cấu tổ chức quản lý trực tuyến - chức năng. Qua cơ
cấu tổ chức quản lý của Công ty ta thấy mô hình này không hề bị chồng chéo và thiếu
sót. Mỗi bộ phận đều có chức năng và nhiệm vụ riêng của mình và thực hiện được đầy
đủ các mục tiêu cuả Công ty đề ra, không bộ phận nào chỉ huy, thực hiện các nhiệm vụ
của bộ phận khác, mà chỉ chú trọng vào thực hiện các nhiệm vụ của mình
2.1.4. Đặc điểm tổ chức kế toán của công ty cổ phần sơn tổng hợp Hà Nội
2.1.4.1. Bộ máy kế toán
a. Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán:
Với cách tổ chức quản lý sản xuất, quy mô và đặc điểm hoạt động của công ty