Tài liệu Nghiên cứu giá trị thặng dư trong bối cảnh hiện nay - Pdf 96

Kiểm soát viênTham gia ngày: Mar 2009
Đến từ: Sever is Loading
Bài gởi: 1,579
N2CD: 5,542
Thanks: 134
Thanked 609 Times in 327
Posts
Nghiên cứu giá trị thặng dư trong bối cảnh hiện nay
Lý luận giá trị thặng dư là một trong những phát hiện vĩ đại
của C. Mác. Nhưng, để nhận thức đúng bản chất khoa học của
lý luận này cần đặt nó trong điều kiện cụ thể của từng quốc
gia, dân tộc (trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Sinh thời,
chính Ph. Ăngghen đã khẳng định: nhờ hai phát hiện ấy (chủ
nghĩa duy vật lịch sử và lý luận giá trị thặng dư), CNXH đã trở
thành một khoa học và giờ đây vấn đề trước hết là phải tiếp
tục nghiên cứu nó trong mọi chi tiết và mọi mối quan hệ
tương hỗ của nó.
Ăngghen đã đề cập đến mối quan hệ giữa cái bất biến và cái
khả biến trong việc nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư. Cái
bất biến chính là tính khoa học bền vững của lý luận giá trị
thặng dư, nhưng tính khoa học đó cần phải được vận dụng
sáng tạo và phải đặt trong những điều kiện lịch sử nhất định
của thực tiễn sinh động.
Thật vậy, hoàn cảnh lịch sử đã đổi mới, cần phải có nhận thức
mới; có như vậy, chúng ta mới có thể tìm thấy hạt nhân hợp
lý của lý luận giá trị thặng dư trong hoàn cảnh lịch sử hiện
nay ở nước ta. Sinh thời, chính V.I. Lênin đã căn dặn rằng:
Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là cái gì đó đã

luận giá trị thặng dư của Mác đã hết sứ mạng lịch sử và
không còn phù hợp nữa.
Sự thật có phải vậy không? Việt Nam chủ trương xây dựng
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.
Nhưng, phải khẳng định rằng, điều đó không có nghĩa là lý
luận giá trị thặng dư không còn giá trị, mà sự thật đó là sự
vận dụng sáng tạo lý luận giá .trị thặng dư nói riêng, chủ
nghĩa Mác - Lênin nói chung vào sự nghiệp phát triển kinh tế
ở nước ta. Thật vậy, Việt Nam hiện nay đang ở thời kỳ quá độ
lên CNXH, nên tất yếu còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu,
nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Hơn nữa, kinh tế tư
nhân ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt là kinh tế tư bản tư nhân
không hoàn toàn theo đúng nghĩa của nó nữa. Nhiều học giả
cho rằng: Về mặt chính trị, đại diện cho kinh tế tư bản tư
nhân là giai cấp tư sản. Kinh tế tư bản tư nhân và giai cấp tư
sản là một thực thể gắn liền với CNTB và chỉ tồn tại trong
điều kiện có sự tồn tại của quan hệ sản xuất TBCN. Quá trình
đổi mới ở nước ta, sự xuất hiện và phát triển các loại hình
doanh nghiệp của tư nhân không đồng nghĩa với sự xuất hiện
trở lại của quan hệ sản xuất TBCN và giai cấp tư sản; Về kinh
tế, các loại hình doanh nghiệp tư nhân hoạt động theo Luật
Doanh nghiệp ở nước ta, kể cả doanh nghiệp quy mô lớn, là
một bộ phận quan trọng của quan hệ sản xuất định hướng
XHCN, được hình thành và phát triển trong điều kiện có sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chịu sự quản lý của Nhà nước
XHCN, phục vụ cho sự nghiệp đổi mới, được Nhà nước khuyến
khích và bảo vệ, không hoàn toàn do quy luật giá trị thặng dư
chi phối. Do đó, ở Việt Nam hiện nay không có kinh tế tư bản
tư nhân dựa trên sở hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất

03:10 PM
#2
_[K]iD_
Kiểm soát viênTham gia ngày:
Mar 2009
Đến từ: Sever is
Loading
Bài gởi: 1,579
N2CD: 5,542
Thanks: 134
Thanked 609
2. Lý luận giá trị thặng dư và nghiên cứu
kinh tế tư nhân ở Việt Nam
Bối cảnh quốc tế và thực tiễn xây dựng nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng XHCN ở Việt Nam cho thấy: lý luận
giá trị thặng dư của Mác cần được nhận thức một
cách sâu sắc hơn và hoàn thiện hơn khi điều kiện
lịch sử ngày nay đã có nhiều biến đổi. Trước mắt,
có thể thấy những luận điểm sau đây cần được
hoàn thiện về mặt nhận thức:
Thứ nhất, lao động tạo ra giá trị trong khu vực
kinh tế tư nhân.
Để xây dựng nên lý luận giá trị thặng dư và toàn
bộ học thuyết của mình, trước hết Mác đã giải
quyết vấn đề lý luận giá trị lao động một cách

lượng vật chất, tham gia vào lực lượng sản xuất
hiện đại. Trong điều kiện đó, không phải chỉ lao
động ở khu vực sản xuất ra tư liệu sản xuất và tư
liệu tiêu dùng, mà cả lao động ở khu vực sản
xuất ra các dịch vụ, lao động quản lý cũng tạo ra
giá trị mới, trong đó cũng có thời gian lao động
cần thiết và thời gian lao động thặng dư. Lao
động tạo ra giá trị mới trong các doanh nghiệp tư
nhân ở Việt Nam rất phong phú và đa dạng.
Không phải chỉ có lao động trong lĩnh vực sản
xuất vật chất mới tạo ra giá trị, mà cả lao động
sản xuất trong lĩnh vực phi vật chất cũng tạo ra
giá trị mới. Không chỉ có lao động của công nhân
trực tiếp sản xuất ra sản phẩm mới tạo ra giá trị,
mà cả lao động nghiên cứu khoa học kỹ thuật,
lao động quản lý doanh nghiệp cũng tạo ra giá trị
mới.
Trước đây, do quá đề cao tính giai cấp, nên
chúng ta đã phê phán phiến diện sự “ăn bám”
của nhà tư bản, và cho rằng đó là loại người
không lao động, nếu có lao động thì lao động của
họ chẳng qua cũng chỉ là thứ “lao động bóc lột”,
không tạo ra giá trị. Trong khi đó chúng ta coi lao
động của giám đốc doanh nghiệp quốc doanh là
lao động tạo ra giá trị. Điều này là một sự tự mâu
thuẫn. Trên thực tế, hầu hết các doanh nhân ở
nước ta hiện nay đều vừa là chủ của doanh
nghiệp tư nhân, vừa kiêm luôn công việc quản lý
hoặc nghiên cứu. Do đó, lao động của họ cũng
tạo ra giá trị mới cho xã hội. Như vậy, giá trị mới

nước; cống hiến của họ đáng được trân trọng. Vì
vậy, việc khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân
ở nước ta là một chủ trương đúng đắn, phát huy
được “sức người, sức của” của các tầng lớp nhân
dân trong xã hội, nhất là tầng lớp các doanh
nhân, có tri thức, có tâm huyết.
Thứ hai, vấn đề bóc lột giá trị thặng dư.
Như trên đã trình bày, nghiên cứu lý luận giá trị
thặng dư cần đặt trong bối cảnh lịch sử nhất
định, không nên máy móc quy kết tất cả những
ai tham gia vào thụ hưởng phần giá trị tạo ra
ngoài giá trị sức lao động của công nhân làm
thuê đều là kẻ “bóc lột”. Thực tế, trong nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, vấn đề thụ
hưởng giá trị mới tạo ra không hoàn toàn giống
như cách hiểu truyền thống nữa.
Thật vậy, lao động tham gia vào việc tạo ra giá
trị trong các doanh nghiệp tư nhân bao gồm cả
lao động trực tiếp của công nhân và lao động
quản lý, nghiên cứu của người chủ doanh nghiệp.
Nếu sử dụng công thức (c+v+m) ta thấy, người
công nhân đóng góp sức lao động (một phần của
v) mà không đóng góp vốn (c) nên chỉ được nhận
tiền lương. Người chủ doanh nghiệp tư nhân có
đóng góp sức lao động (một phần của v) và vốn
(c) nên được nhận m. Như vậy, lợi nhuận mà chủ
doanh nghiệp thu được không phải tất cả đều có
nguồn gốc từ giá trị thặng dư của công nhân làm

đoạt bất chính thành quả lao động của người
khác.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp tư nhân ở nước ta
lại khác. Tất cả đều được hình thành và phát triển
trong điều kiện quan hệ sản xuất thống trị không
phải là quan hệ sản xuất TBCN, mà là quan hệ
sản xuất định hướng XHCN. Là sản phẩm của
công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam
khởi xướng và lãnh đạo, kinh tế tư nhân không
hoàn toàn do quy luật giá trị thặng dư chi phối,
nên không thể mang tính chất TBCN như dưới xã
hội tư bản.
Nếu xét từ khía cạnh xã hội, sự bóc lột là một
việc làm phi đạo đức, bị xã hội lên án. Trong Đại
từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1998 do GS
Nguyễn Như Ý chủ biên cho rằng: “bóc lột được
xem là chiếm đoạt thành quả lao động của người
khác bằng cách dựa vào quyền tư hữu về tư liệu
sản xuất, cũng như địa vị, quyền thế chính trị”.
Như vậy, hành vi bóc lột là hành vi chiếm đoạt
thành quả lao động của người khác dựa trên một
quyền lực nào đó trái với những quy luật khách
quan của xã hội đương đại hoặc trái với những
quy định pháp lý, và đáng bị lên án. Nhưng, ở
đây lại phải xem xét mức độ bóc lột. Theo nhiều
chuyên gia kinh tế, nếu xét chung toàn bộ nền
kinh tế thì ở nước ta không có sự chiếm đoạt quá
mức của chủ doanh nghiệp tư nhân đối với công
nhân làm thuê. Trong nhiều trường hợp, người
lao động chấp nhận bị bóc lột ở mức nhất định,

nhiều giá trị mới cho xã hội (làm giàu), khuyến
khích sự phát triển của xã hội, chứ không phải là
khuyến khích sự bóc lột. Đó là sự vận dụng sáng
tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện Việt
Nam hiện nay. Sự khẳng định này đã góp phần
xóa bỏ mặc cảm, tháo gỡ rào cản cho kinh tế tư
nhân phát triển, thực hiện CNH, HĐH ở nước ta.
Đương nhiên, kinh tế tư nhân - dù ở loại hình nào
- cũng phải chấp hành nghiêm luật pháp, thực
hiện đúng chính sách của Nhà nước, tôn trọng
nhân phẩm của người lao động và tích cực tham
gia các hoạt động nhân đạo, từ thiện.

Thành viên gửi lời
cảm ơn tới bạn
_[K]iD_ vì chia sẻ
bài viết hay:
nguyenvanduy_bn (09-17-2009)
_[K]iD_
Xem hồ sơ
Gởi nhắn tin tới _[K]iD_
Find More Posts by _[K]iD_
08-13-2009, 07:32 PM
#3
cuongdtvt
Học viên mớiTham gia ngày: Aug 2009
bài viết này có nhiều điểm mới so với sách giáo khoa hiện hành vè

Xem hồ sơ
Gởi nhắn tin tới cuongdtvt
Find More Posts by cuongdtvt
09-17-2009, 03:55 PM
#4
nguyenvanduy_bn
Học viên mớiTham gia ngày: Apr 2009
Đến từ: BAC NINH
Bài gởi: 2
N2CD: 35
Thanks: 3
Thanked 0 Times in 0 Posts
bài viết thật là hay! quả là phải rất tâm huyết.Cám ơn bạn nhiều
nha.

nguyenvanduy_bn
Xem hồ sơ
Gởi nhắn tin tới nguyenvanduy_bn
Find More Posts by nguyenvanduy_bn
Bookmarks
Digg
del.icio.us
StumbleUpon
Google
Trùm SEO
Bài Hay
Sig VietNam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status