ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH GÓP PHẦN KIỀM
CHẾ LẠM PHÁT, ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, BẢO ĐẢM AN
SINH XÃ HỘI VÀ TĂNG TRƯỞNG BỀN VỮNG(*)
TS: Trong 2 ngày (11-12/9/2008) tại thành phố Hải Phòng, Bộ Nội vụ đã
tổ chức hội nghị tập huấn về công tác cải cách hành chính. Đại diện lãnh
đạo Sở Nội vụ, Văn phòng Uỷ ban nhân dân, Sở Thông tin và Truyền thông,
cán bộ chuyên trách về cải cách hành chính của 31 tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương khu vực phía Bắc từ Thừa Thiên - Huế trở ra đã tham dự.
L
Hội nghị vinh dự được đón đồng chí Trần Văn Tuấn - Uỷ viên Trung
ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đến dự và có bài phát biểu chỉ đạo. Tạp chí
Tổ chức Nhà nước trân trọng trích giới thiệu bài phát biểu khai mạc hội nghị
của đồng chí Bộ trưởng
Bộ trưởng Bộ Nội vụ Trần Văn Tuấn phát biểu chỉ đạo hội nghị
“Thưa các đồng chí!
Trong thời gian qua, ngành Nội vụ trong cả nước đã tích cực tham mưu cho
Đảng, Chính phủ và chính quyền các cấp triển khai hiệu quả nhiều chủ trương, văn
bản quan trọng thuộc chức năng, trách nhiệm được giao. Trong đó, đáng chú ý là việc
tham mưu tổ chức triển khai rộng khắp trong cả nước về thực hiện Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 5 BCH Trung ương Đảng khóa X về “Đẩy mạnh cải cách hành chính,
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước” và Chương trình hành
động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Trung ương. Thông qua đó, đã thu được
một số kết quả quan trọng trong tiến trình cải cách hành chính và chính từ các tác
động tích cực của cải cách hành chính đã góp phần làm ổn định kinh tế - xã hội, giữ
vững an ninh - chính trị đất nước.
Tuy nhiên, chúng ta cũng thẳng thắn nhận thấy, so với yêu cầu, cải cách hành
chính vẫn chậm trong nhiều khâu, làm ảnh hưởng không nhỏ tới mục tiêu tiếp tục
kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền
vững của đất nước. Hơn lúc nào hết, chúng ta cần thống nhất trong nhận thức và hành
động, cải cách hành chính phải tiếp tục được đẩy mạnh hơn nữa, triển khai đồng bộ,
cách hành chính nằm trong dự toán ngân sách của tỉnh.
Thưa các đồng chí, trong đợt tập huấn này, để giúp các địa phương có thêm sự
gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn, lãnh đạo Bộ chủ trương mời Uỷ ban nhân
dân thành phố Hải Phòng giới thiệu, tổ chức cho các đồng chí tham quan trực tiếp mô
hình “một cửa”, “một cửa liên thông” theo mô hình mẫu, hiện đại tại một số đơn vị
quận, huyện của thành phố. Thông qua theo dõi, đánh giá cho thấy, đây là một trong
những điển hình tốt và trên thực tế đã được nhiều địa phương đến tham quan, học tập
kinh nghiệm thời gian qua. Tôi tin rằng, sau khi tham quan, khảo sát trực tiếp thực
tiễn triển khai của thành phố Hải Phòng, các đồng chí sẽ đúc rút thêm được những bài
học kinh nghiệm để tham mưu, triển khai vận dụng phù hợp vào điều kiện thực tế của
từng địa phương ”./.
TỔNG KẾT 10 NĂM THỰC HIỆN PHÁP LỆNH
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
TRẦN KIÊN
rong hai ngày 25 và 26/9/2008, tại Quảng Ninh, Bộ Nội vụ phối
hợp với Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tổ chức Hội nghị
tổng kết 10 năm thực hiện Pháp lệnh Cán bộ, công chức (CBCC).
T
Bộ trưởng Bộ Nội vụ Trần Văn Tuấn chủ trì hội nghị
Bộ trưởng Bộ Nội vụ Trần Văn Tuấn chủ trì hội nghị. Dự hội nghị
có nguyên Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đỗ Quang Trung; các Thứ trưởng Bộ
Nội vụ Nguyễn Duy Thăng, Văn Tất Thu, cùng đại diện các bộ, ban,
ngành trung ương và địa phương, lãnh đạo các đơn vị thuộc và trực
thuộc Bộ Nội vụ, các chuyên gia cao cấp của ADB, thành viên ban
soạn thảo và tổ biên tập dự thảo Luật CBCC.
Pháp lệnh CBCC được ban hành từ năm 1998, tạo cơ sở pháp lý
quan trọng để tổ chức và quản lý các hoạt động liên quan đến công
vụ, công chức. Đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh phù
hợp với đặc điểm của thể chế chính trị ở Việt Nam. Thể chế quản lý
hoạt động công vụ, công chức được ban hành là hợp hiến, hợp
Các đại biểu tham dự hội nghị đã trao đổi ý kiến đánh giá hệ
thống thể chế quản lý CBCC và công vụ hiện hành, kết quả 10 năm
thực hiện Pháp lệnh CBCC, phát hiện những hạn chế của Pháp lệnh
này, đồng thời đề xuất các giải pháp khắc phục; đóng góp ý kiến
vào nội dung của dự thảo Luật CBCC; nghe các chuyên gia nước
ngoài giới thiệu một số vấn đề về xu hướng cải cách chế độ công
vụ, công chức trên thế giới, bình luận khoa học về dự thảo Luật
CBCC và so sánh với luật công vụ của các quốc gia trong khu vực.
Phát biểu tổng kết hội nghị, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Trần Văn Tuấn
đánh giá cao tinh thần trách nhiệm của các đại biểu trong việc góp
ý vào báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Pháp lệnh CB, CC và dự
thảo Luật CBCC; đồng thời yêu cầu Ban soạn thảo và tổ biên tập dự
thảo Luật CBCC tiếp thu, tập hợp ý kiến của các đại biểu và các
chuyên gia nước ngoài, làm cơ sở đề xuất với các cấp có thẩm
quyền tiếp tục chỉnh sửa dự thảo Luật CBCC để trình Quốc hội khoá
XII thông qua vào kỳ họp thứ tư sẽ diễn ra vào giữa tháng
10/2008./.
KỶ NIỆM 63 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH 2-9
TÍNH SÁNG TẠO ĐỘC ĐÁO TRONG
TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP CỦA VIỆT
NAM
BÙI KHẮC HẰNG
Trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá
ách mạng Tháng Tám năm 1945 của nhân dân ta thành công
chói lọi là biểu hiện tập trung tính chất của phong trào giải
phóng dân tộc trong thời đại ngày nay. Tuyên ngôn Độc lập
do Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố ngày 2/9/1945 khai sinh ra nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà. Sự kiện lịch sử này, không chỉ là sản
phẩm, là thành tựu của chủ nghĩa Mác - Lê-nin của thời đại, đã lần
lượt được hiện thực hoá. Mặt khác, chính Cách mạng Tháng Tám đã
quyền của mỗi dân tộc mà còn là quyền của mỗi con người. Tư
tưởng về độc lập trong Tuyên ngôn độc lập thể hiện sự gắn liền với
xoá bỏ chế độ bóc lột tàn bạo của các thế lực phản cách mạng; giải
phóng nhân dân lao động và các giai cấp tầng lớp khác thoát khỏi
chủ nghĩa tư bản ngoại bang.
- Thứ hai, tư tưởng về mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc với
giải phóng giai cấp.
Khi Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản ra đời, chủ nghĩa tư bản
đang ở thời kỳ cạnh tranh tự do, phát triển trong khuôn khổ mỗi
quốc gia dân tộc. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Mác, Ăng-
ghen chưa thể dự đoán được lịch sử nhân loại sẽ nảy sinh một mâu
thuẫn mới, song song và gắn chặt với nhau đó là: mâu thuẫn giữa
giai cấp tư sản chính quốc với các dân tộc thuộc địa. Tuyên ngôn
Độc lập chính là thành quả vĩ đại của cuộc vận động cách mạng, kể
từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 cho đến Cách
mạng Tháng Tám năm 1945, là kết quả của đường lối đúng đắn và
sự chỉ đạo chiến lược khôn khéo của Đảng ta và Bác Hồ trong việc
định hướng giải quyết mâu thuẫn nói trên. Như vậy, vấn đề mà
C.Mác và Ăng-ghen nêu: “Giai đoạn thứ nhất trong cuộc cách mạng
là giai đoạn mà giai cấp vô sản tự xây dựng thành giai cấp thống trị
là giai đoạn giành lấy dân chủ”(5). Nhưng đối với cách mạng Việt
Nam - giai đoạn tương ứng đó là giai đoạn cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân. Theo quan điểm của Mác - Ăng-ghen, sự nghiệp giải
phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động thoát khỏi ách thống
trị của giai cấp tư sản là gắn liền với cách mạng giải phóng dân tộc
khỏi ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc xâm lược. Phản ánh qui
luật đó, đường lối cách mạng của Đảng ta đã đặt sự nghiệp giải
phóng dân tộc lên hàng đầu và xác định giải phóng dân tộc là điều
kiện, tiền đề để thực hiện giải phóng giai cấp. Nhưng nhiệm vụ giải
phóng dân tộc chỉ có thể thực hiện hiệu quả khi được dựa trên tư
nhưng với một Đảng đã dạn dầy kinh nghiệm và trưởng thành trong
hai cuộc kháng chiến vĩ đại, đương đầu với những thế lực hiếu chiến
nhất trong lịch sử thế giới đương đại và làm nên những chiến công
hiển hách, hai tiếng “Việt Nam” đã trở thành biểu tượng và niềm tin
của nhân dân lao động khắp năm châu. Vì vậy, chúng ta luôn luôn
tin tưởng vào thắng lợi của con đường cách mạng của sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tiếp tục nâng vị thế của dân tộc ta
lên những tầm cao mới./.
____________________________________________________________
Ghi chú:
(1), (5), (6) Mác - Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội 1995, Tr.606, 616, 617.
(2), (3), (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị Quốc
gia, Hà Nội 1995, Tr.01, 02.
HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
THẤM NHUẦN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ PHONG CÁCH LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI
LÃNH ĐẠO TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY
PGS.TSKH. TRẦN NGUYÊN TUYÊN
Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
rong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, những luận điểm của Người
về xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền
có một vị trí quan trọng. đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng
và phát triển sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong việc
xây dựng đội ngũ cán bộ cách mạng, hình thành phong cách làm
việc mới của người lãnh đạo.
T
Thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng đến nay
cho thấy những thắng lợi của cách mạng đều bắt nguồn từ sự lãnh
đạo của Đảng thông qua việc tập hợp, tổ chức và phát huy sức
triển những tính tốt và sửa đổi những tính xấu. Vì tính xấu của một
người chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, một
cán bộ sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân”. tính cách của
người lãnh đạo thể hiện trước hết ở thái độ của họ đối với xã hội và
bản thân mình. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người lãnh đạo, người
quản lý phải thường xuyên tu dưỡng rèn luyện mình để khuyết điểm
ngày càng ít, tính tốt ngày càng nhiều thể hiện trên 5 nội dung là
nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm.
- Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng bào, đồng
chí, sẵn sàng chịu khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc, sung
sướng sau thiên hạ; không ham giàu sang, chức quyền
- Nghĩa là ngay thẳng, ngoài lợi ích của đảng, của dân tộc
không có lợi ích riêng phải lo toan. được đảng giao việc gì to, nhỏ
đều cố gắng hoàn thành với kết quả tốt. Người lãnh đạo thấy việc
phải thì làm, thấy việc phải thì nói, không sợ người ta phê bình, kiên
quyết bảo vệ lẽ phải.
- Trí là không bị việc tư túi làm mù quáng, biết làm việc có lợi,
tránh làm việc có hại cho Đảng, cho dân.
- Dũng là dũng cảm gan góc, gặp việc khó quyết tâm hoàn
thành, thấy khuyết điểm có gan sửa chữa.
- Liêm là liêm chính, không tham địa vị, tiền tài, không háo
danh.
Các phẩm chất trên là yêu cầu về đạo đức cách mạng của
người lãnh đạo, quản lý. tuy nhiên, cách mạng xã hội chủ nghĩa đòi
hỏi những người lãnh đạo phải có đủ cả phẩm chất và có năng lực
đáp ứng yêu cầu đặt ra cho từng thời kỳ. Nếu cán bộ lãnh đạo, quản
lý chỉ có phẩm chất tốt về đạo đức cách mạng thì chưa đủ, mà theo
Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần phải có năng lực quản lý, nắm bắt nhanh
nhạy các vấn đề phát sinh, điều hành giải quyết tốt công việc. hồ
chí minh khẳng định: “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con
yêu cầu cụ thể của từng thời kỳ.
Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
đã khẳng định: “trên cơ sở phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo,
nâng cao dân trí để xây dựng đội ngũ cán bộ một cách cơ bản,
chính quy, có hệ thống; đồng thời thông qua hoạt động thực tiễn và
phong trào cách mạng của nhân dân để giáo dục, rèn luyện, đào
tạo, đánh giá, sàng lọc, tuyển chọn cán bộ” (5).
Phát triển quan điểm này, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
của Đảng đã chỉ rõ mục tiêu của công tác cán bộ trong thời kỳ mới
là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản
lý ở các cấp, vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong
sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực
tiễn, gắn bó với nhân dân” (6). Để thực hiện được mục tiêu này, Đại
hội IX của đảng đã xác định những chủ trương, biện pháp cơ bản
như:
- Có cơ chế và chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo bồi
dưỡng cán bộ, tận dụng những người có đức, có tài. Thực hiện đúng
đắn nguyên tắc đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản
lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức
và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác
cán bộ. Làm tốt công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ cho cả
trước mắt và lâu dài.
- Việc đánh giá sử dụng đúng cán bộ cần phải sử dụng tổng
hợp các yếu tố như: căn cứ tiêu chuẩn cán bộ, lấy hiệu quả công tác
thực tế và tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu; có phương
pháp khoa học, khách quan, công tâm trong việc đánh giá cán bộ.
- Đổi mới đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trên cơ sở kết hợp
các thế hệ độ tuổi bảo đảm tính liên tục kế thừa và phát triển.
- Thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý theo quy
hoạch ở các ngành và địa phương, khắc phục tư tưởng cục bộ, khép
- Coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức,
trước hết là cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý về đường lối, chính
sách, về kiến thức và kỹ năng quản lý hành chính nhà nước, quản lý
kinh tế – xã hội trong điều kiện cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế
quốc tế.
- Sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước theo đúng
chức danh, tiêu chuẩn; thực hiện tinh giản biên chế.
- Định kỳ kiểm tra, đánh giá cán bộ, công chức, kịp thời thay
thế những cán bộ, công chức yếu kém và thoái hóa.
- Tăng cường cán bộ cho cơ sở. Có chế độ chính sách đào tạo,
bồi dưỡng, đãi ngộ đối với cán bộ xã, phường, thị trấn.
Những quan điểm của chủ tịch hồ chí minh về xây dựng đội
ngũ cán bộ, hình thành phong cách làm việc của người lãnh đạo đã
thể hiện sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết của Chủ
nghĩa Mác – Lê-nin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Những
quan điểm này luôn có giá trị đúng đắn trong điều kiện mới của
cách mạng Việt Nam, khi nước ta đang thực hiện xây dựng thể chế
kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, tích cực chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế./.
_____________________________________________
Ghi chú:
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1996, t5, tr 644.
(2), (3) Hồ Chí Minh: Sđd, t 5, tr 280, tr 273.
(4) Hồ Chí Minh: Sđd, t 9, tr 284
(5) Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung uơng
Đảng khóa VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997, tr 77.
(6) Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 141.
(7) Văn kiện trình Đại hội X của Đảng,NXB Chính trị Quốc gia,
suất lao động, một người làm bằng hai, ba người. Tiết kiệm thời giờ,
Người nói: “Thời giờ tức là tiền bạc; “Một tấc bóng là một thước
vàng. Ai đưa vàng bạc vứt đi, là người điên rồ, ai đưa thời giờ vứt đi,
là người ngu dại (2). Tiết kiệm thời giờ của mình và tiết kiệm thời
giờ của người khác. Tiết kiệm tiền của. Phải tiết kiệm tiền của nhà
nước, của nhân dân và của chính mình. Việc này liên quan tới tiết
kiệm sức người, tiết kiệm thời giờ. Đối tượng cần phải tiết kiệm mà
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra ở đây là tất cả mọi người đều phải tiết
kiệm, song trước hết là các cơ quan, bộ đội, các xí nghiệp. Nội dung
tiết kiệm phải cụ thể, thiết thực ngay trong vị trí công tác của mình.
Bộ đội, chiến sĩ thì tiết kiệm đạn, quân nhu, chiến lợi phẩm; cán bộ
cơ quan hành chính thì tiết kiệm thời gian, giấy, mực; cán bộ tư
pháp tiết kiệm thời giờ cho dân khi triển khai nhanh công việc
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nếp sống hết sức giản dị,
tiết kiệm. Sự giản dị, tiết kiệm ấy mãi mãi là tấm gương sáng ngời
cho muôn thế hệ noi theo. Đã có rất nhiều câu chuyện kể về tấm
gương tiết kiệm của Bác, trong đó câu chuyện về đôi dép cao su và
máy lạnh trong phòng Bác là những ví dụ điển hình về đạo đức sống
giản dị, thanh tao, tiết kiệm của Người. Chuyện kể rằng: sau khi tiếp
quản Thủ đô (tháng 10/1945), Trung ương bố trí Bác ở và làm việc
trong ngôi nhà cao tầng, đồ sộ, vốn là nơi của viên Toàn quyền
Đông Dương. Bác không đồng ý và sau đó đã chọn một căn phòng
nhỏ trước đây là nơi ở của người thợ điện trong Phủ Toàn quyền,
đồng thời bảo anh em phục vụ quét dọn ngôi nhà đồ sộ ấy để làm
nơi vui chơi cho các cháu thiếu nhi và tiếp khách. Trong thời gian
Bác sống ở Hà Nội, thấy đôi dép cao su của Bác đã cũ, anh em phục
vụ đề nghị cho thay dép mới, nhưng Bác chưa đồng ý, vì dép ấy vẫn
còn dùng được. Có người mạnh dạn thưa với Bác là đôi dép mới chỉ
có hai đồng rưỡi, không nhiều nhặn gì. Bác đã giải thích: vấn đề
không phải là hai đồng rưỡi mà là phải xem đã cần thay dép mới
Sau khi thăm hỏi anh em, Bác đi về phòng ở. Vừa bước vào phòng,
chợt Bác dừng lại, hỏi: “các chú này, hôm nay nhà mình có mùi gì lạ
quá”! Chúng tôi nhìn nhau, chưa ai trả lời câu hỏi của Bác. Chính tôi
cũng chưa phát hiện được điều gì. Sau này hỏi các đồng chí thợ điện
mới biết chiếc máy điều hòa do một hãng của nước ngoài sản xuất,
chất lượng máy tốt, hình dáng đẹp nhưng muốn làm vui lòng khách,
trong máy họ gắn thêm một bình bơm tự động có chứa nước hoa.
Khi máy vận hành, van mở, nước hoa theo gió tỏa ra nên trong
phòng lúc nào cũng phảng phất mùi thơm. Nếu ai không chú ý thì
chỉ cảm thấy như quanh đây có mùi hoa lan, hoa huệ vậy. Biết
không giấu được Bác, các đồng chí phục vụ xin lỗi Bác, rồi trình bày
rõ lý do về chiếc máy điều hòa nhiệt độ. Không thấy Bác tỏ thái độ
gì, chúng tôi thở phào nhẹ nhõm. Nhưng chỉ đến đầu giờ làm việc
chiều hôm ấy, Bác cho gọi anh Vũ Kỳ đến và ân cần bảo: “Chiếc
máy điều hòa nhiệt độ tốt đấy, các chú có thể đem đến cho quân y
viện hoặc trại điều dưỡng thương binh. Hôm trước Bác đến thăm
thấy các chú ấy ở nóng lắm. Còn Bác thì chưa cần, Bác ở thế này là
được rồi”. Anh Vũ Kỳ và các đồng chí phục vụ đã hết lời đề nghị
nhưng Bác vẫn không thay đổi ý kiến. Thế là ngay buổi chiều hôm
ấy chiếc máy điều hòa được đưa ra khỏi căn phòng của Bác.
Nêu mấy mẩu chuyện nhỏ về tấm gương giản dị, tiết kiệm của
Chủ tịch Hồ Chí Minh để chúng ta liên hệ đến cuộc sống của mỗi
người hiện nay rồi học tập, làm theo gương Bác. Từ các câu chuyện
nay, mỗi cán bộ, công chức - những công bộc của dân, những con
người theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là những “đầy tớ trung thành của
nhân dân”, kiểm điểm bản thân để soi rọi vào mình, xem lại mình
đã thực sự xứng đáng với danh hiệu cao quý đó chưa, nhất là vào
thời điểm khi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đang ra sức thi đua
học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người. Có nhiều câu
chuyện, nhiều hình ảnh và những việc làm của một bộ phận không
2002, T.6, Tr.485.
(2) Sđd, T.5, Tr.637.
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Về tiêu chí đánh giá chất lượng
đào tạo cán bộ, công chức
PGS.TS. NGUYỄN HỮU ẢI
Học viện Hành chính Quốc gia
ào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cho nền công vụ là một
yếu tố then chốt trong chiến lược quản lý phát triển nền công
vụ của mỗi quốc gia. Ở nước ta, đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức theo yêu cầu cải cách hành
chính là nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh
đạo của Đảng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khoá X tiếp tục khẳng định sự cần thiết và tầm quan
trọng của việc đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ,
công chức nhà nước ở nước ta không chỉ trong giai đoạn hiện nay
mà còn cả về lâu dài.
Đ
Thực tiễn đào tạo cán bộ, công chức:
Đào tạo cán bộ, công chức nhà nước ở nước ta hiện nay bao
gồm hai nội dung: đào tạo tiền công vụ và đào tạo trong công vụ.
Trong đó, đào tạo trong công vụ lại bao gồm đào tạo nâng cao kiến
thức chuyên môn thông qua hệ thống các trường cao đẳng, đại học
trong hệ thống giáo dục quốc dân và đào tạo về kiến thức, kỹ năng
quản lý nhà nước tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ
Chí Minh. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề cập đến hoạt
động đào tạo cán bộ, công chức do Học viện Hành chính và hệ
thống các trường quản lý cán bộ của bộ ngành và trường chính trị
các tỉnh thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
Có thể tóm lược về hoạt động đào tạo cán bộ, công chức ở
kết quả thông qua điểm của bài kiểm tra giữa kỳ. Kết thúc khóa đào
tạo, người học trải qua kỳ thi kiểm tra dưới hình thức tự luận là
chính; nội dung câu hỏi xoay quanh những kiến thức quản lý nhà
nước có trong tài liệu; việc chấm điểm và đánh giá trên tinh thần
“giơ cao đánh khẽ” vì học viên đều là những người hoặc sắp bước
vào nền công vụ, hoặc đang công tác ở một vị trí nhất định và khả
năng thăng tiến của họ có thể phụ thuộc một phần vào xếp loại của
chứng chỉ khoá học mà họ vừa tham gia.
Đối với cả đơn vị đào tạo và đơn vị cử cán bộ đi đào tạo, kết
quả và chất lượng đào tạo chủ yếu được xác định dựa trên số lượng
học viên tốt nghiệp và xếp loại giỏi hay khá, mà không quan tâm
nhiều đến việc sau khoá học, người học sẽ ứng dụng được gì vào
công việc hàng ngày ở cơ quan, đơn vị.
Như vậy, có thể thấy việc đào tạo cán bộ, công chức ở nước ta
hiện nay còn mang tính hình thức, mới tập trung vào lượng chứ
chưa chú trọng nhiều vào chất. Và đôi khi vì lý do này hay lý do
khác mà có hiện tượng đánh đồng giữa số lượng đào tạo và chất
lượng đào tạo. Chính vì vậy, xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng
đào tạo là một đòi hỏi khách quan và có tính cấp thiết để từng bước
xây dựng được một đội ngũ cán bộ, công chức có chất lượng, hướng
tới một nền công vụ tiên tiến, của dân, do dân, vì dân.
Tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo cán bộ, công chức:
Người phương Tây hay dùng câu thành ngữ “What is measured
gets done” (Cái gì đo lường được thì mới thực hiện được) để nói về
mục tiêu họat động của con người hay tổ chức. Tuy nhiên trong đào
tạo, nói đến chất lượng là nói đến kết quả và hiệu quả của cả quá
trình từ nhận thức đến tư duy và hành động của mỗi con người, rất
khó “cân, đo, đong, đếm” một cách rạch ròi như các biến định lượng
khác.
“Sản phẩm” của đào tạo cán bộ, công chức là sự bù đắp đầy đủ
xã hội, trong đó, có những vấn đề biểu hiện bên ngoài là giống nhau
nhưng đòi hỏi cách giải quyết khác nhau, có những vấn đề đòi hỏi
không chỉ một mà nhiều biện pháp giải quyết đồng bộ Chính vì
vậy, người cán bộ, công chức hoàn thành nhiệm vụ là người có khả
năng phát hiện vấn đề (problem - „nding) và giải quyết được vấn đề
(problem - solving).
Tuy nhiên, kỹ năng là sự kết hợp chín muồi giữa lý thuyết với
kinh nghiệm thực tiễn. Vì vậy, khó lòng đòi hỏi một công chức dự bị
sau khi trải qua một khoá đào tạo tiền công vụ phải có khả năng
phát hiện và kỹ năng giải quyết vấn đề như một chuyên viên chính.
Thêm nữa, kỹ năng cần có đối với mỗi công chức ở mỗi vị trí công
việc, mỗi lĩnh vực công tác khác nhau là khác nhau.
Mặc dù có những khác biệt nhất định như vậy, song tiêu chí
chung để đánh giá chất lượng của một khoá đào tạo cán bộ, công
chức là sau khoá học, người học biết chủ động liên hệ giữa kiến
thức đã được tiếp nhận để có những đề xuất cụ thể, sát thực tế
trong lĩnh vực công tác, từ đó tìm kiếm được cách thức giải quyết
công việc khoa học. Các tình huống quản lý trong thực tế hết sức đa
dạng, giảng viên chỉ có thể đưa vào bài giảng một vài bài tập tình
huống, đặt ra một số vấn đề trong vô vàn vấn đề nảy sinh trong
cuộc sống. Với thời lượng đào tạo ngắn, mục tiêu học tập càng cần
rõ ràng, cụ thể theo cách cung cấp cho người học phương pháp để
họ khoa học hoá việc phát hiện và giải quyết vấn đề, tạo tiền đề
cho họ vừa thử nghiệm, vừa tích luỹ tiếp kỹ năng trong quá trình
công tác.
Ba là, có thái độ tích cực trong thực thi công vụ.
Tiêu chí thái độ rất quan trọng, nhưng cũng không dễ dàng
định lượng. Ở đây, mục tiêu hướng tới của đào tạo cán bộ, công
chức không phải là đào tạo ra những con người làm việc trong bộ
máy phục vụ nhân dân có trình độ, năng lực song lại không muốn